Diên Vĩ - Iris, họ Iridaceae. Tên khác Lay Dơn
Diệp Hạ Châu đắng Phyllanthus amarus, họ Euphorbiaceae.
vị đắng, tính hàn, hơi có độc. Khử phong thấp, lợi gân cốt, lá mọc đối, cuốn ngắn. Hái trước khi cây ra bông, ra bông vào tháng 4-6. Trong dân gian dùng cây chó đẻ để chữa bán thân bất toại, tê thấp, nhức xương, lưng gối tê đau, viêm gan, vàng da, ban ngứa, dị ứng, sỏi mật, ngộ độc vì rượu, suy gan do nghiện rượu bia, viêm gan virut, viêm gan B. Giúp lợi tiểu, giải nhiệt, tiêu hóa, giảm đường huyết ở bịnh nhân tiểu đường. Mỗi ngày dùng từ 6-12 g dạng thuốc sắc hay thuốc cao. Giã dập dùng để đắp chữa rắn cắn, ong chích hoặc mụt nhọt độc.
Cây Chó Đẻ Răng Cưa Phyllanthus urinaria, họ Euphorbiaceae. Tên khác: Diệp Hạ Châu.
Cây Chó Đẻ cũng là tên của Phyllanthus niruri L.
họ Phyllanthaceae, lá không răng cưa. Dùng làm thuốc thông tiểu tiện hoặc làm thuốc thông sữa.
Các loại khác: cây Chó Đẻ (Siegesbeckia orientalis, họ Asteraceae)
, Cỏ Đĩ (Chó Đẻ bông vàng), Hy tiên, Niêm Hồ Thái, cây Hy Thiêm (Sieges beckia orientalis L., họ cúc Compositae), Cam Kiềm, Kiềm vườn, Diệp Hòa Thái, Lão Nha Châu, Trân Châu Thảo.
Cây chó đẻ có tác dụng kháng khuẩn tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn coli Shigella dysenteriae, S. flexneri, S. Shigae, Moraxella và diệt nấm đối với Aspergillus fumigatus, trị tiêu chảy, lợi tiểu, hạ huyết áp.
Cây Chó đẻ có vị ngọt hơi đắng, tánh mát, dùng để tiêu độc, sát trùng, tiêu viêm, tán ứ, thông huyết mạch, lợi tiểu.
Chữa viêm họng, mụn nhọt, viêm da, lở ngứa, sản hậu ứ huyết, đau bụng, trẻ em bị tưa lưỡi, viêm gan, vàng da, sốt, rắn cắn, viêm đường tiểu, sỏi thận, sỏi mật, lậu, đái tháo đường, sốt rét, đau dạ dày.
Liều dùng: 10 - 20g mỗi ngày.
Toàn cây được sử dụng làm thuốc, có tác dụng bổ gan, giảm đau, chữa viêm gan, vàng da, dị ứng, sỏi mật. Tốt nhứt hái cây vào mùa Hè, thường dùng tươi, cũng có thể phơi hoặc sấy khô.
Chữa bịnh viêm gan: 20 g Diệp Hạ Châu rửa sạch, bằm nhỏ với 100 g gan heo, nấu nhiều lần, lấy nước đặc uống trong một ngày, dùng liên tục 7 ngày. Hoặc dùng phương thuốc phối hợp nhiều dược thảo như: 8 g Diệp Hạ Châu đắng, 12 g Nhân Trần, 12 g lá Dành Dành, 12 g Rau Má, 8 g Biển Súc, 8 g Sài Đất, 8 g Đơn Kim, 8 g Cây Nọc Sởi, 8 g Tinh Tre, 8 g Hà Thủ Ô trắng. Tất cả xắc nhỏ, phơi khô, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm 2 lần trong ngày. Uống liên tục trong 90 ngày.
Chữa viêm họng, ung nhọt, đinh râu, lở ngứa, đau khớp, ứ huyết sau khi sanh, đau mắt: ngày 8-12 g cây khô sắc uống, hoặc 20-40 g cây tươi giã nát với muối, vắt nước uống, bã đắp. Cũng có thể dùng loại ngọt Phyllanthus urinaria.
Dừa Cạn, Trường Xuân Hoa - Catharanthus roseus, họ Apocynaceae. Các tên khác: Cây Bông Dừa, Cây Dương Giác (Sừng Dê), Cây Bông Hải Đăng, Nhật Nhật Tân, Cây pervenche de Madagasca, Rose Periwinkle:
Cây thuốc nổi tiếng chữa huyết áp cao, bịnh bạch huyết, ung thư, an thần, bình can, thanh nhiệt, giải độc. Cũng có tác dụng kháng nham (chống ung thư), viêm đại tràng và tiểu đường vì dừa cạn chứa một số hoạt chất giống insulin. Dùng lá, rễ. Lá hái trước khi cây có bông, phơi hoặc sấy khô, phần lá và ngọn dùng làm trà. Rễ đào vào mùa thu, rửa sạch phơi hoặc sấy khô. Vị Dừa cạn hơi đắng, tính hàn.
Bài thuốc ứng dụng: Dừa cạn 12 g, hoa Hòe 6 g. Sắc uống ngày một thang thay nước trà.
- Chữa bịnh đi tiểu đỏ và ít, tiểu đường, kinh nguyệt không đều. Ngày 4-8 g lá dạng thuốc sắc.
- Chữa tiểu đường: dùng thân lá dừa cạn phơi khô, sao vàng 20 g, râu bắp 40 g; sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.
- Trị zona: Dừa cạn (sao vàng hạ thổ) 16g, Thổ linh 16g, Bạch linh 10g, Kinh giới 12g, Chi tử 10g, Nam tục đoạn 16g, Cam thảo đất 16g, Hạ khô thảo 16g. Sắc uống 3 lần, uống 3 lần, ngày 1 thang.
- Thuốc đắp làm giảm đau nhức: lá dừa cạn, lá cây hòe. Hai thứ lượng bằng nhau, giã nhỏ đắp lên chổ tổn thương, băng lại.
- Điều trị khí hư bạch đới: Dừa cạn 12g, rễ cây Bạch đồng nữ 16g, Biển đậu 16g, Đan sâm 16g, Cây chó đẻ 16g, lá Bạc sau 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Trà dược cho bịnh nhân tăng huyết áp: Dừa cạn 160g, lá đinh lăng 180g, hoa Hòe 150g, cỏ xước 160g, Đỗ trọng 120g, Chi tử 100g, Cam thảo đất 140g. Các vị sao giòn tán vụn trộn đều, để dành trong hộp kín, tránh ẩm. Ngày dùng 40g. Hãm nước sôi vào ấm, sau 10 phút có thể dùng. Uống thay trà trong ngày. Công dụng: an thần, hạ áp, làm bền thành mạch, êm dịu thần kinh, phòng chống ngăn ngừa tai biến có thể xảy ra.
- Phụ nữ bị bế kinh: đau bụng lăn lộn, mặt đỏ, bụng dưới căng đầy. Bài thuốc: Dừa cạn (phơi khô) 16g, Nga truật 12g, Hồng hoa 10g, Tô mộc 20g, Chỉ xác 8g, Trạch lan 16g, Huyết đằng 16g, Hương phụ 12g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần.
- Lỵ trực trùng, đi ngoài nhiều lần, bụng đau từng cơn, phân có chất nhầy, có máu mũi, sụt cân nhanh. Bài thuốc: Dừa cạn (sao vàng hạ thổ) 20g, cỏ sữa 20g, cỏ mực 20g, Chi tử 10g, lá Khổ sâm 20g, Hoàng liên 10g, rau má 20g, Đinh lăng 20g. Đổ 3 chén nước sắc 1,5 chén, chia ra 3 lần uống trong ngày.
- Bịnh trĩ: búi trĩ sưng đu, tiết dịch, chảy máu tươi. Bài thuốc: dùng bông và lá Dừa cạn, lá Thầu dầu tía. Hai thứ giã nhỏ đắp tại chỗ, băng lại. Đồng thời uống: Dừa cạn (sao vàng) 20g, cỏ mực 20g, Phòng sâm 16g, Hoàng kỳ 12g, Đương quy 12g, Bạch truật 16g, Thăng ma 10g, Sài hồ 10g, Trần bì 10g, Cam thảo 12g. Sắc 3 lần uống 3 lần, ngày 1 thang. Dùng 10 ngày liền. Nghỉ 3-4 ngày, sau đó tiếp đợt 2.
- Khát nhiều, tiểu nhiều. Đông y gọi là chứng tiêu khát. Bài thuốc: Dừa cạn 16g, Cát căn 20g, Thạch hộc 12g, Hoài sơn 16g, Sơn thù 12g, Đan bì 10g, Khiếm thực 12g, Khởi tử 12g, Ngũ vị 10g. Sắc 3 lần uống 3 lần, ngày 1 thang.
- Tiền liệt: Dừa cạn 12g, Huyền sâm 12g, Xuyên sơn 10g, Trà đen khô 12g, Hoàng cung trinh nữ 5g, Cát căn 16g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 3 lần.
***
Đại Hồi - Illicium verum Hook, họ Illiciaceae.
Tên dược học: Fructus Anisi stellati. Tên khác: Bát giác hồi hương; Hồi; Hồi hương. Tên Tàu: 八角 Baat gok; Ba jiao. Tên english: Star anise; Indian anise. Tiếng Pháp: Anis étoilé

Hồi 12 cánh
Bộ phận dùng: trái chín (còn gọi là bông). Trái to hình bát giác, tám cánh xoè bằng và đều có hột. Trái sắc nâu hồng, mùi thơm nhiều, khô nguyên không gãy vụn là tốt. Vị cay, tính ôn.Vào kinh Can, Thận và Tỳ, Vị.
Tác dụng: trừ lạnh, trừ gió độc, tiêu đờm, khai vị, chỉ ẩu (chống nôn mửa).
Chủ trị: trị ẩu thổ, bụng trướng đầy.
Liều dùng: Ngày dùng 4 - 8g
Cách bào chế: Cách giấy sao khô nghiền nhỏ, tẩm rượu (để cho dẫn lên) hoặc tẩm muối (để cho dẫn xuống) Theo kinh nghiệm Việt Nam: Lấy trái tách ra từng cánh, bỏ hột (rửa qua bụi dơ, âm Can cho thật khô, nếu cần). Có thể tẩm rượu sao qua (cách giấy) hoặc tẩm nước muối sao qua (cách giấy). Đựng trong chai kín (tránh nóng, tránh ẩm) khỏi mất hương vị. Kiêng kỵ: âm hư hoả bốc thì không nên dùng.Đại Kế - Cicus japonicus, Cirsium japonicum, họ Cúc hay còn gọi là họ Hướng dương Asteraceae hay Compositae. Tên khác: Ô rô, Ô rô cạn (Acanthus clicifolius), Ô rô cạn nhỏ lá (Cnicus segetum Max), Hổ kế, Miêu kế, Mã kế, Thích kế, Sơn ngưu bàng, Kê hạng thảo, Thiên châm thảo, Dã hồng hoa, Địa đinh, Địa đinh hương, Địa đinh thảo, Địa hạ thảo, Đại cư hàn, Ngưu nịch thích, Đại kế diệp, Đại kế thán.
Hái vào mùa thu mùa hè đang lúc bông nở, hái toàn cây dùng làm thuốc, rửa sạch đất cát phơi khô cất dùng. Rửa sạch, cắt đoạn dùng sống hoặc sao cho cháy đen. Có người phơi nắng tán bột để dùng hoặc rửa rượu sạch, phơi khô để dùng. Vị ngọt, tính mát, nhập kinh Can. Làm mát huyết, thanh nhiệt, lương huyết, cầm máu. Tán ứ tiêu ung nhọt. Dùng trong các trường hợp ho ra máu, ói ra máu, chảy máu cam, tiểu ra máu, vết xuất huyết do bị đứt, sưng ứ do tổn thương bởi té, trị ung nhọt sưng độc, viêm gan. Dùng rễ tươi hoặc toàn cây quyết nhuyễn đắp nơi đinh nhọt sưng.
Tỳ vị hư hàn, không có ứ trệ cấm dùng.
- Trị trường ung, phúc ung, tiểu phúc ung, lấy lá Đại kế đâm lấy nước bỏ Địa du, Thuyên thảo, Ngưu tất, Kim ngân hoa, 4 vị đâm lấy nước trộn nước uống.
- Trị bạch tiểu, rong kinh dùng: Đại kế, Bồ hoàng (sao), Tông bì (sao cháy) nấu nước uống. Có bài dùng 1 thăng Đại kế, tiểu kế (dùng rễ), 1 đấu rượu dầm đêm uống, có thể dùng rượu nấu uống hoặc đâm lấy nước uống nóng. Có bài dùng lá và ngọn non Tiểu kế rửa xắc nghiền ra một chén nước cốt trộn vào một chén nước cốt Đại hoàng, nửa lượng Bạch truật sắc uống một nửa lúc còn nóng.
- Trị ứ huyết, chấn thương do té, đâm sống lấy nước cốt uống với rượu.
- Trị tâm nhiệt làm ói ra máu, miệng khô, đâm lá và rễ lấy nước lần uống 2 chén nhỏ.
- Trị cứng lưỡi ra máu không cầm, dùng Đại hoàng kế đâm lấy nước uống, với rượu khô thì tán bột uống với nước.
- Tiêu chảy ra máu tươi, dùng lá Đại, Tiểu kế đâm lấy nước uống nóng 1 thăng.
- Động thai xuống huyết, dùng rễ và lá Tiểu, Đại kế, Ích mẫu thảo 5 lượng, 2 chén nước sắc còn 1 chén rồi sắc lại còn chén nhỏ chia làm 2 lần uống ngày uống một lần.
- Trị vết thương do bị dao đâm chém, xuất huyết không cầm dùng mầm non của Đại, Tiểu kế đâm lấy nước đắp.
- Tiểu tiện lắt nhắt ra đục dùng rễ Đại kế đâm lấy nước uống.
- Nghẹt mũi dùng Đại, Tiểu kế sắc 1 thăng chia ra uống.
- Trẻ bị lở láy chảy nước khó chịu sinh ra khi sốt khi lạnh, dùng lá Đại kế đâm nát đắp vào nơi lở, khô thì thay.
- Trị ngứa lở dùng lá Đại kế đâm lấy nước uống, có bài khác trộn thêm muối đắp.
- Đàn bà ngứa âm hộ, dùng Tiểu, Đại kế sắc nước, ngày rửa 3 lần.
- Trị các lỗ lở không thu miệng, dùng rễ Đại kế, rễ Toan táo, rễ Chỉ thụ, Đỗ hành mỗi thứ một nắm, Ban miêu 3 phân, sao tán bột viên mật bằng trái táo ngày uống một lần rồi lấy một viên nhét vào lỗ lở.
- Đinh nhọt sưng, Đại kế 4 lượng, Nhũ hương 1 lượng, Minh phàn 5 chỉ tán bột lần uống 2 chỉ với rượu khi nào mồ hôi ra là thôi.
- Mát huyết cầm huyết: Dùng trong trường hợp ói ra máu, chảy máu cam, đái ra máu do nhiệt và rong kinh, bạch đới:
1/ Đại kế tươi (toàn cây) 2-3 lượng (hoặc chỉ dùng rễ 1-2 lượng) sắc uống trị ói ra máu, phế ung đàm thúi.
2/ "Thập khôi tán". Dùng Đại kế, Tiểu kế, Trắc bá diệp, Bạc hà diệp, Thuyên thảo, Mao căn, Sơn chi, Đơn bì, Tông lư bì, Đại hoàng các vị bằng nhau đốt tồn tính, tán bột lần 3-5 chỉ, ngày 2 lần với nước lạnh. Trị ói ra máu không cầm.
- Tán ứ tiêu ung, các loại lở loét:
1/ Thuyên thảo, Địa du, Ngưu tất, mỗi thứ 3 chỉ. Kim ngân hoa 4 chỉ sắc uống bỏ vào 1 lượng Đại kế đâm nhỏ lấy nước tươi.
2/ Toàn cây Đại kế tươi đâm đắp bên ngoài trị chứng trên.
3/ Đại kế tươi 4 lượng rửa sạch, đâm lấy nước, lần uống 1 muổng canh, ngày 2 lần trị viêm ruột dư mãn tính.
- Đại kế hợp với một số tân dược để làm thành "Đại kế giáng áp phiến" để trị huyết áp cao.
- Đại kế còn được dùng trong trường hợp chảy máu chân răng rất tốt, đâm 1-2 lượng ngâm lấy nước, ngậm.
- Giã rễ vắt lấy nước nửa thăng chủ trị băng trung hạ huyết.
- Lá chữa mụt trong ruột (trường ung), ứ huyết vùng bụng, té ngã chấn thương, nghiền tán tươi trộn với rượu và Đồng tiện uống dùng. Còn mụt độc loét lở nghiền với muối thoa bên ngoài.
- Đại kế bẩm thụ khí sinh lên trong đất, kiêm được dưỡng khí của trời nên có vị ngọt khí ấm mà không độc. Phụ nữ xích bạch lỵ là do huyết nhiệt gây ra. Thai bởi nhiệt nên không yên, huyết nhiệt thì chạy bậy, tràn ra khiếu trên thì thổ huyết thì vinh khí hòa, vị khí hòa nên làm cho mập khỏe.
- Đại kế, Tiểu kế ngọt ấm vào 2 kinh Can Tỳ, phá huyết củ sinh huyết mới, an thai khí, cầm băng huyết lậu huyết, cầm thổ huyết chảy máu cam. Đại kế sức mạnh hơn, có tác dụng bổ khỏe tiêu ung nhọt. Tiểu kế sức yếu hơn chỉ có thể lui sốt không thể tiêu ung nhọt, hòa với rượu hoặc Đồng tiện sao qua.
- Đại kế, Tiểu kế tuy sách vở ghi thuộc tính cam ôn có thể dưỡng tinh bổ huyết, nhờ vào huyết chu lưu khắp cơ thể không trở trệ, nếu như huyết ứ không tiêu, mà đưa tới các chứng thổ huyết, khạc ra máu, nhổ ra máu, chảy máu cam, băng huyết, lậu huyết, và huyết tích trệ không lành, đưa tới bệnh ung nhọt sưng đau, tinh huyết đã bất trị, sao lại có thể nói đến bổ dưỡng. Dùng thuốc này khí vị ôn hòa, ôn không gây táo, hành không quá tán, ứ trệ được ôn thì tiêu, khối ứ trệ được hành mới hoạt, máu dơ đã sạch thì tự sinh ra cái mới, nhọt sưng tiêu ngầm, đồng thời có cái hay là bổ huyết, thuyết bổ dưỡng bắt nguồn từ đó. Tiểu kế sức yếu hơn, không nhanh bằng sức của Đại kế, Tiểu kế chỉ có thể thoái nhiệt, bởi không tổn thương phần khí nặng, điều lý được bệnh huyết không, nếu tỳ vị hư hàn không thèm ăn uống, tiêu chảy không cầm, không nên dùng. Đại tiểu kế tương tự nhau, bông như tóc bới. Đại kế thân cành thô mà lá nhăn. Tiểu kế thân cành thấp mà lá không nhăn, tất cả đều dùng thân cành.
Kế Đồng - Cirsium arvense, họ Asteraceae. Trên cọng và mặt dưới của lá có gai, bông tím nở vào tháng 6 đến cuối tháng 8. Cây sống được nhiều năm, cao 30 đến 150cm, mọc hoang ngoài đồng, thích sống vùng đất cao, khô, có bóng mát và bụi rậm, trên 2000m cách mặt nước biển. Nhựa trong thân cây có men dịch vị làm sữa đông đặc. Ngoài ra còn có Inulin (C6H10O5)n, chất nhựa, khoáng hóa calcium, silicic acid và dầu. Đọt non nấu ăn giúp thông đường tiêu hóa. Tuy cùng họ và có dược tố tương tự, nhưng để làm thuốc thường dùng Đại kế vì Đại kế có nhiều và dễ thích nghi môi trường, dễ trồng hơn.
Đại Tướng Quân, Náng hoa trắng - Crimum defixum, Crimum asiaticum, họ Amaryllidaceae:
là cây thuốc phổ biến, nếu bị bầm, trật, bong gân, đau lưng có thể lấy lá hơ lửa bó, đắp. Điểm phân biệt rõ nhất giữa hai loài này chính là màu của bông.
Đại Táo Zizyphus jujuba Lamk, họ Rhamnaceae . Các tên khác: Táo tàu, táo đen, hồng táo.
Công dụng: Bổ huyết, an thần.
Táo Nhân Hột dẹp của trái Táo chua Ziziphus mauritiana Lam, họ Rhamnaceae
Bộ phận dùng; Nhân (chính là hột táo), lá, trái, vỏ cây. Nhân táo ở trong hạch, hình dĩa hay hình trứng, có một đầu nhọn, một đầu phẳng, gọi là Toan táo nhân. Mùa trái chín, lượm hột táo rửa sạch phơi khô, xay bễ vỏ và sàng lấy nhân, phơi hoặc sấy cho tới khô. Vị ngọt, hơi đắng, mùi thơm, tính bình, có tác dụng an thần, tiêu viêm, trừ ho. Lá vị chua chát, hơi có nhớt, tính mát, có tác dụng hạ nhiệt, giải độc, tiêu viêm, trừ ho. Trái có vị chua chát, ngọt, hơi có nhớt, tính mát, có tác dụng tiêu viêm, trừ ho. Trái chín phơi khô bổ tỳ, ích khí. Vỏ vị chát, hơi đắng, tính bình, có tác dụng tiêu viêm, sinh cơ và cầm máu. Táo nhân dùng trị mất ngủ, hồi hộp hay quên, chân tay nhức mỏi. Dùng sống gây mất ngủ. Ngày dùng 0,8 - 1,2 g (15-20 hột) giã nhỏ chế nước uống hay sắc uống. Lá dùng chữa ho. Ngày dùng 20 - 40 g sắc uống. Dng ngoài chữa lở loét, ung nhọt, sốt phát ban (xông, tắm). Trái phơi khô dùng chữa lỵ, cao huyết áp. Vỏ cây dùng trị phỏng, cầm máu và chữa ỉa chảy. Cũng dùng với lá táo và một số vị thuốc khác chữa viêm lợi và kiết lỵ.
Đơn thuốc: - Mất ngủ, buồn phiền: 15 - 20 hột giã nhỏ sắc uống.
- Ho, ho gà: 20 - 40 lá sắc uống, hợp với các vị thuốc khác như lá chanh, lá dâu.
- Chữa kinh sợ, hồi hộp, ít ngủ, khó ngủ, hay nằm mơ, hoảng hốt mất trí: dùng Nhân hột táo khô, Sinh địa, Hột Muồng Sao, Mạch Môn, Long Nhãn, Hột Sen, mỗi vị 12 g sắc uống, hoặc tán bột viên với mật ong, uống mỗi ngày 20 - 25 g.
Đan Sâm Salviae miltiorrhiza Bunge, họ Labiatae
Dùng rễ (củ). Củ ngoài sắc đỏ tía, trong vàng thâm mịn, không có xơ, không có rễ con là tốt. Củ cứng dòn, ốm, đen, có xơ là xấu. Vị đắng, tính hơi hàn. Vào kinh Can và Tâm. Tác dụng: trục huyết ứ, hoạt huyết, rút mủ, lên da non, làm thuốc thông kin, cường tráng.
- Dùng sống bổ huyết, trị mụn nhọt, sang lở.
- Dùng chín trị kinh nguyệt không đều.
- Huyết ứ bên trong triệu chứng kinh nguyệt không đều, bế kinh, đau bụng hoặc đau bụng sau khi sanh. Đan sâm hợp với Ích mẫu, Đào nhân, Hồng hoa và Đương qui.
- Khí huyết ứ trệ triệu chứng đau vùng tim, đau bụng hoặc đau vùng thượng vị. Đan sâm hợp với Sa nhân và Đàn hương trong bài Đan sâm ẩm.
- Huyết ứ triệu chứng đau mỏi toàn thân hoặc đau khớp. Đan sâm hợp với Đương qui, Xuyên khung và Hồng hoa.
- Mụn nhọt. Đan sâm hợp với Kim ngân hoa, Liên Kiều và Nhũ hương.
- Bịnh có sốt do phong tà xâm nhập, triệu chứng nóng cao, bứt rứt, lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít. Đan sâm hợp với Sinh địa hoàng, Huyền sâm và Trúc diệp.
- Nội nghiệt triệu chứng hồi hộp, đánh trống ngực, bứt rứt mất ngủ. Đan sâm hợp với Toan táo nhân và Dạ giao đằng.
Liều dùng: ngày dùng 6 - 12 g.
Cách bào chế: Ủ mềm, xắt lát dùng sống hoặc sao qua hoặc tẩm rượu sao qua tùy theo đơn.
Theo kinh nghiệm Việt Nam: rửa sạch, để ráo nước, ủ mềm một đêm, xắt lát mỏng, phơi khô, hoặc dùng sống cách này thường dùng. Hoặc tẩm rượu để một giờ sao qua. Sao với rượu làm tăng công năng hoạt huyết của thuốc. Không hợp với Lê lô.
Kiêng kỵ: không có ứ trệ thì không nên dùng.
- Đan sâm ẩm (trà dược): 6 g Đan sâm rửa sạch, xắt mỏng, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 - 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong một ngày. Chú ý chọn loại đan sâm to chắc, khô, mềm, không có xơ và không có rễ con.
- Đối với bịnh lý động mạch vành, để nâng cao hiệu quả, có thể thêm một số vị thuốc hoạt huyết khác như Đàn hương, Tam thất, Hồng hoa, Nguyệt lý hoa. Thí dụ: 15 g Đan sâm; 100 g Tam thất; hai thứ tán vụn, mỗi ngày dùng 10 g, bọc trong túi vải, hãm uống thay trà.
Một số bài thuốc:
1. Chữa đau tức ngực, đau nhói vùng tim:
- Đan sâm 32 g, Xuyên khung, Trầm hương, Uất kim, mỗi vị 20 g. Hồng hoa 16 g, Xích thược, Hương phụ chế, Hẹ, Qua lâu, mỗi vị 12 g. Đương quy vĩ 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Đan sâm 32 g, Xích thược, Xuyên khung, Hoàng kỳ, Hồng hoa, Uất kim, mỗi vị 20 g. Đảng sâm, Toàn đương quy, Trầm hương, mỗi vị 16g. Mạch môn, Hương phụ, mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.
2. Chữa suy tim:- Đan sâm 16 g, Đảng sâm 20 g, Bạch truật, Ý dĩ, Xuyên khung, Ngưu tất, Trạch tả, Mã đề, Mộc thông, mỗi vị 16 g. Sắc uống ngày một thang.
- Đan sâm, Bạch truật, Bạch thược, mỗi vị 16 g. Thục linh, Đương quy, Mã đề, mỗi vị 12 g. Cam thảo, Can khương, Nhục quế, mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một thang.
3. Chữa tim hồi hộp, chóng mặt, nhức đầu, hoa mắt, ù tai: Đan sâm, Sa sâm, Thiên môn, Mạch môn, Thục địa, Long nhãn, Đảng sâm, mỗi vị 12 g. Toan táo nhân, Viễn chí, Bá tử nhân, mỗi vị 8 g. Ngũ vị tử 6 g. Sắc uống ngày một thang.
4. Chữa viêm tắc động mạch chi:
- Đan sâm, Hoàng kỳ, mỗi vị 20 g. Đương quy vĩ 16 g, Xích thược, Quế chi, Bạch chỉ, Nghệ, Nhũ hương, Một dược, Hồng hoa, Đào nhân, Tô mộc, mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.
- Đan sâm, Huyền sâm, Kim ngân hoa, Bồ công anh, mỗi vị 20 g, Sinh địa, Đương quy, Hoàng kỳ, mỗi vị 16 g. Hồng hoa, Diên hồ sách, mỗi vị 12 g. Nhũ hương, Một dược, mỗi vị 8 g. Cam thảo 4 g. Sắc uống ngày một thang.
5. Chữa thần kinh suy nhược, nhức đầu, mất ngủ:
- Đan sâm, Bạch thược, Đại táo, hạt Muồng sao, Mạch môn, Ngưu tất, Huyền sâm, mỗi vị 16 g. Dành dành, Toan táo nhân, mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang.
- Đan sâm, Liên tâm, Táo nhân sao, trái Trắc bá, mỗi vị 8 g, Viễn chí 4 g. Sắc uống ngày một thang.
6. Chữa viêm khớp cấp kèm theo tổn thương ở tim:
- Đan sâm, Kim ngân hoa, mỗi vị 20 g, Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, mỗi vị 16 g. Đương quy, Long nhãn, Liên kiều, Hoàng cầm, Hoàng bá, mỗi vị 12 g. Táo nhân, Phục linh, mỗi vị 8 g. Mộc hương, Viễn chí, mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một thang.
- Khi có loạn nhịp: Đan sâm 16 g, Sinh địa, Kim ngân, mỗi vị 20 g. Đảng sâm 16 g, Chích cam thảo, A giao, Mạch môn, hột Mè, Đại táo, Liên kiều, mỗi vị 12 g. Quế chi 6 g, Gừng sống 4 g. Sắc uống ngày một thang.
Đào Nhân Prunus persica Batsch, họ Rosaceae. Cây Sơn Đào Prunus davidiana Franche. Tên khác Pfirsisch.
Đào nhân là hột của trái Đào. Tính bình vị đắng, qui kinh Tâm Can Phế Can Phế Đại tràng. Thuốc có tác dụng hoạt huyết khu ứ, nhuận tràng thông tiện. Chủ trị các chứng đau kinh, kinh bế, đau bụng sau sanh, trưng hà tích tụ, chấn thương ngã đau, phế ung, trường ung, đại tiện táo bón, giảm ho, ức chế tế bào ung thư.Trị bệnh phụ khoa:
-
Đào nhân, Đương qui đều 10g, Hồng hoa, Tam lăng đều 5g, sắc nước uống trị chứng kinh bế do huyết ứ.
- Sinh hóa thang: Đương qui 32g, Đào nhân 12g, Xuyên khung 12g, Chích thảo 2g, Bào khương 2g, sắc nước uống hoặc ho thêm ít rượu sắc uống. Trị chứng sau sinh đau bụng do huyết ứ. Bài thuốc còn có tác dụng tăng sữa cho người mẹ.
- Đào hồng tứ vật thang ( Y tông kim giám): Đương qui 12g, Sanh địa 16g, Xích thược 12g, Xuyên khung 8g, Đào nhân 12g, Hồng hoa 8g, sắc nước chia 2 lần uống. Trị rối loạn kinh nguyệt, kinh bế, đau kinh do huyết ứ.Trị táo bón:
- Nhuận tràng hoàn: Hạnh nhân, Đào nhân, Hỏa ma nhân, Đương qui đều 10g, Sanh địa 15g, Chỉ xác 10g, tán bột mịn luyện mạt làm hoàn, mỗi lần uống 6g, ngày 2 lần hoặc sắc uống.
- Ngũ nhân hoàn: Đào nhân 20g, Hạnh nhân 12g, Bá tử nhân 12g, Tùng tử nhân 4g, Uất lý nhân 1g, Trần bì 8g, Mật làm hoàn, mỗi lần uống 4 - 8g. Trị chứng táo bón ở người già, phụ nữ sau sinh.Trị viêm tắc động mạch:
- Đào nhân, Hồng hoa, Đương qui, Đan sâm, Xuyên khung, Xích thược, Ngưu tất, Kim ngân hoa, Huyền sâm đều 10g, Địa miết trùng, Tam lăng, Nga truật đều 6g, Địa long 10g, Thủy điệt, Manh trùng, Sanh cam thảo đều 3g sắc uống. Liều thường dùng 6 - 10g đập vụn.
Cây Đậu Chiều Cajanus indicus; Cajanus cajan (L.), thuộc họ Đậu Fabaceae. Tên khác: đậu triều, đậu xăng, đậu cọc rào.
Lá có lông, có gân dài ba cánh xếp thành hai hàng (lá kép), giống điệp rừng, lá trên mặt màu xanh lá cây đậm, mặt dưới trắmg lợt. Bông màu tím lợt, già trở màu vàng úa, mọc thành chùm ở nách lá. Trái dài 4-6cm màu xanh, hột như hột đậu, dẹp, trắng ngà, khi chín màu đen. Cây cao 1,5 - 2m, thân, lá, rễ, bông và hột đều là vị thuốc. Đơm bông kết trái vào tháng 1 đến tháng 3. Mọc hoang hoặc trồng làm hàng rào ở vùng nông thôn. Trồng bằng hột vào đầu mùa mưa. Thu hái rễ và lá quanh năm. Đào rễ về, rửa sạch, xắt mỏng, phơi khô. Lá thường dùng tươi. hột lấy ở những trái già chín. Hột chứa globulin, còn có men urease.
Đậu chiều có vị đắng, tính mát; có tác dụng ấm phế, trợ tỳ, tiêu thực, làm thông huyết mạch.
- Rễ dùng làm thuốc chữa sốt, giải độc, tiêu thũng, tiểu đêm.
- Hột dùng như rễ, còn dùng chữa ho, cảm, nhức mỏi gân cốt.
- Lá dùng gây ói khi bị ngộ độc thuốc trừ sâu; lại dùng nấu tắm trị bịnh ngoài da và dùng trị lỵ, dùng hợp với thầu dầu uống trị đau bụng. Dùng ngoài trị mụn nhọt, vết thương.
Trong nha khoa, cây đậu chiều là phương thuốc nam thần diệu trị đau, sưng, nhức lợi nướu.
- Trẻ em sốt, thức đêm khóc vì mọc răng, bị té, bị gãy răng, sâu răng, ăn xương cứng mẻ răng, viêm nướu: Hái 5-7 lá đậu chiều (mặt trên đã chuyển màu tím đậm) rửa sạch, cho vào 1/2 muỗng muối, giã nhuyễn (người lớn dùng 15-20 lá), vắt nước uống. Sau 10 phút sẽ dứt nhức răng, đau răng, cầm máu. Nếu trẻ em bị chấn thương răng, lược nước pha khoảng 3ml, cho vào 1 muỗng mật ong hoặc đường cho uống.
- Người lớn tuổi chảy máu cam, đau nhức răng hàm: hái 10 lá đậu chiều rửa sạch, cho vào 1 muỗng muối, đâm nhuyễn, ngậm bã, nuốt nước. Sau 5 phút sẽ có tác dụng.
- Người lớn tuổi răng yếu, ăn nhằm xương cứng, bị nhức nướu, bị trầy xước, khó ngủ: chỉ cần hái 5 lá đậu chiều nhai dập, nuốt nước.
Ngoài ra, cây đậu chiều cũng được dùng chữa các bịnh như:
- Đi rừng bị nhiễm nước, bị muỗi cắn về nhà sốt: hái một nhánh gồm thân, cành, lá đậu chiều khoảng 150-250g, xắt khúc 3cm, rửa sạch, sao khử thổ, nấu sôi trong 15 phút. Uống 3 lần trong ngày sẽ hạ sốt.
- Đi chơi xa, uống nước lạ bị đau bụng, tiêu chảy, nhiễm độc thực phẩm: nấu từ 15 - 20 lá đậu chiều trong 1/2 lít nước sắc còn 150ml. Uống 2 lần vào buổi chiều trước lúc ăn, tối trước khi đi ngủ sẽ giải độc, dứt đau.
- Trẻ em, người lớn tuổi dương thận suy, tiểu đêm, mỏi hai bên hông: sao 200g thân, rễ, lá đậu chiều, nấu trong 750g nước còn 150ml. Uống 3 lần trong ngày.
- Trái, hột đậu chiều nấu trong 1 lít nước chung với 50g lá sả còn 250ml, gội đầu, lau khô, thêm 5ml nước cốt chanh 1 tuần gội 1 lần, giúp tóc đen mượt óng ả và không sợ bị gàu.
- Hột và lá giã ra, hơ hay xào nóng đắp lên vú gây tiết sữa.
- Hột dùng trị rắn cắn. 15g rễ đậu chiều sắc uống. Có thể xắt mỏng để ngậm hoặc tán bột uống. Lá tươi giã đắp không kể liều lượng.
- Ho, cảm, cổ họng sưng đau: dùng bột rễ Đậu chiều, bột rễ Xạ can, thêm phèn chua, hòa nước sôi để nguội ngậm không nuốt nước; hoặc dùng hột Đậu chiều sao vàng sắc uống.
- Cảm sốt, mụn nhọt và trẻ em lên sởi ho: dùng rễ Đậu chiều 15g, Sài đất và Kim ngân hoa, mỗi vị 10g, sắc nước uống.
- Trị các loại ban trái có kèm theo các chứng no hơi, sình bụng, tiêu chảy, gốc ban dây dưa: dùng lá Bạc hà 100g, củ Bồ bồ 100g, bông Kinh giới 100g, Trần bì lâu năm 100g, lá Đậu chiều 100g, Lức cây 100g, Hương phụ sao 100g, Hậu phác sao 100g, củ Sả 100g. Các vị hòa chung, tán bột nhuyễn. Mỗi lần uống một muỗn cà phê, trẻ em nửa liều; ngày uống 2-3 lần (kinh nghiệm dân gian ở An Giang).
Đinh Lăng Polyscias fruticosa, Panax fruticosum, Panax fruticosus. Các tên khác: Cây Gỏi Cá, Nam Dương Sâm:
Tính năng chống dị ứng, giải độc, chống mệt mỏi, tăng sinh lực. 150-200g lá Đinh Lăng tươi, . Cho tất cả vào nồi nấu sôi với khoảng 200 ml nước, đậy nắp lại, sau vài phút mở nắp đảo qua đảo lại vài lần. Sau 5-7 phút chắt nước để uống nước đầu, đổ tiếp khoảng 200 ml nước vào nấu sôi để lấy nước thứ 2. Dùng lá tươi thuận tiện vì không phải dự trữ, không tốn thời gian nấu lâu, lượng nước ít, người bịnh dễ uống nhưng vẫn bảo đảm được lượng dược chất cần thiết.
- Chữa tắc tia sữa: 40 g rễ Đinh Lăng, 3 lát Gừng tươi, đổ 500 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng.
- Chữa nổi mề đay, mẩn ngứa do dị ứng: 80 g lá Đinh Lăng khô, đổ 500 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày.
- Ho suyễn lâu năm: 8 g mổi thứ rễ Đinh Lăng, Bách Bộ, Đậu Săn, rễ cây Dâu, Nghệ vàng, rau Tần dày lá. 6g củ Xương Bồ, 4g Gừng khô, đổ 600 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống lúc thuốc còn nóng.
- Phong thấp, thấp khớp: 12 g rễ Đinh Lăng, 8 g mổi thứ Cối Xay, Hà Thủ Ô, Huyết Rồng, cỏ rễ xước, Thiên Niên Kiện; 4 g vỏ Quít, Quế Chi (riêng vị Quế Chi bỏ vào sau cùng khi sắp nhắc ấm thuốc xuống). Đổ 600 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng.
Điệp Tây, Hoa Nắng, Phượng Vỹ, Fleur Paon, Francillade - Delonix regia, họ Fabaceae
Điệp Vàng - Casia splendida vogel
Đỗ Quyên, Sơn Thạch Lựu, Hồng Thụ Ấn, Ánh Sơn Hồng, Mãn Sơn Hồng, Báo Xuân hoa, Thanh Minh hoa, Sơn Trà hoa - Rhododendron simsii Planch, họ Ericaceae
Bông vị chua ngọt, tính ấm, có công dụng hòa huyết, trừ đàm, làm hết ngứa, dùng chữa trị các chứng rối loạn kinh nguyệt, bế kinh, băng lậu, bị thương do té, khử phong thấp, thổ huyết.
Lá vị chua, tính bình, công dụng thanh nhiệt, giải độc, cầm máu, giảm đau, chủ trị ung thũng, mụn nhọt, xuất huyết do chấn thương, dị ứng, viêm khí phế quản, trĩ đang xuất huyết, kiết lỵ, viêm khớp, bị thương do té.
Rễ vị chua ngọt, tính ấm, công dụng hòa huyết, trừ phong thấp, giảm đau, chữa các chứng xuất huyết, kinh nguyệt không đều, băng lậu, trĩ xuất huyết, lỵ, viêm khớp.
- Viên khí phế quản mạn tính: lá Đỗ Quyên khô tán bột, chế với rượu, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10-20 ml. Hoặc 30 g lá Đỗ Quyên, 24 g Dấp Cá, 15 g lá Nhót, sắc uống.
- Ói ra máu, chảy máu mũi: 15 g Bông Đỗ Quyên tươi, sắc uống. Hoặc 15 g rễ Đỗ Quyên khô, sắc uống.
- Khí hư: 15 g Bông Đỗ Quyên trắng, móng giò heo lượng vừa đủ, hầm nhừ làm canh ăn. Hoặc: 15 g rễ Đỗ Quyên, 15 g cây Hàm Ếch (Tam Bạch Thảo), sắc uống.
- Rong kinh: 30-60 g rễ Đỗ Quyên, sắc uống với một chút rượu vang. Hoặc 60 g bông Đỗ Quyên, sao với rượu rồi sắc uống.
- Rối loạn kinh nguyệt: 15 g rễ Đỗ Quyên, 15 g rễ Bạc Hà, 15 g Ích Mẫu thảo, 9 g bông Hồng, sắc uống. Nếu có đau bụng, đau lưng và màu kinh lợt thì dùng 30 g rễ Đỗ Quyên, 30 g rễ Hải Kim Sa, 15 g Ô Dược, sắc uống trước kỳ kinh, trong vòng 1-2 tháng.
- Phụ nữ bị đau bụng hậu sản: 30-60 g rễ Đỗ Quyên tươi, sắc uống 3-4 lần mỗi ngày.
- Mụn nhọt, viêm loét vùng gáy: lá Đỗ Quyên và lá Trắc Bách Diệp tươi giã nát, trộn với tròng trắng trứng gà và mật ong rồi đắp lên chổ bị mụn nhọt, viêm loét.
- Chữa dị ứng: lá Đỗ Quyên tươi nấu tắm cho đến khi khỏi bịnh.
Đỗ Trọng - 杜 仲 Eucommia ulmoides, họ Eucommiaceae
Vị ngọt, hơi cay, tính ôn, vào 2 kinh Can và Thận. Có Tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, an thai, chữa đau lưng, đi tiểu nhiều, chân gối yếu. Ngoài ra có tác dụng làm mạnh sự co bóp cơ tim, lợi tiểu. Là vị thuốc dùng điều trị bịnh tăng huyết áp, dùng dưới dạng cao lỏng, thuốc sắc hoặc ngâm rượu. Cần chú ý: liều thấp có tác dụng giãn mạch, liều cao lại gây co mạch. Đỗ Trọng có thể dùng để điều trị tăng huyết áp có biến chứng suy tim, ngoài ra có thể chữa các bịnh đau lưng, phụ nữ sẩy thai, trẻ em kinh giản co giật.
Bài thuốc: Đỗ trọng 100 g, Nhân sâm 12 g. Ngâm với 1 lít rượu trắng 29,5° (rượu lúa mới). Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 5 ml.
Hoặc: Đỗ trọng 5-12 g, sắc uống ngày một thang.
Hoặc: Đỗ trọng 5-12 g, Cúc hoa 12 g, Hoa hòe 6 g. Sắc uống ngày một thang.
Độc Hoạt - Angelica pubescens Maxim, họ Apiaceae
Đương Quy - Angelica sinensis, họ Apitaceae (Umbelliferae). Các tên khác: Tần Quy, Vân Quy, Can Quy, thuộc họ Hoa Tán. Xuyên Quy là rễ phơi khô hay sấy khô của cây Đương Quy
Bộ phận dùng: Củ, Rễ - Radix Angelicae Sinensis, thường gọi là Đương quy
Cây trồng được 3 năm sẽ cho củ tốt. Đào củ vào mùa thu, cắt bỏ rễ con, phơi trong mát hoặc cho vào thùng sấy lửa nhẹ đến khô. Củ to, thịt chắc, dẻo, màu trắng hồng, nhiều tinh dầu, có mùi thơm đặc biệt, vị ngọt sau cay là loại tốt.
bào chế như sau: Rửa qua rễ bằng rượu (nếu không có rượu thì rửa nhanh bằng ít nước, sau vẩy cho ráo nước). Ủ một đêm cho mềm, bào mỏng 1mm. Nếu muốn để được lâu, rửa bằng nước và muối; sau đó, phải sấy nhẹ qua lưu huỳnh.
Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, hơi đắng, hơi cay, mùi thơm, tính ấm; Vào kinh: Can, Tâm, Kỳ, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh, giảm đau, nhuận tràng và thông đại tiện, khư phong thấp, thông tê. Chủ trị huyết hư, chóng mặt, tim đập mạnh, kinh nguyệt không đều, bế tắc, hành kinh đau bụng, đau bụng do hư hàn, táo bón, phong thấp tê đau. Tửu Đương Quy dùng điều trị kinh nguyệt bế tắc, phong thấp tê đau. (vào đây đọc thêm liều lượng, cách ngâm)
Công dụng, chỉ định và phối hợp với các vị khác: Đương quy được dùng chữa trị phong thấp, đau khớp, trúng phong co quắp, lưng gối đau mỏi, chân tay tê cứng, thiếu máu xanh xao, nhức đầu, cơ thể ốm yếu, mệt mỏi, đau lưng, đau ngực bụng, viêm khớp, chân tay đau nhức lạnh, tê bại, tê liệt, đại tiện táo bón, mụn nhọt lở ngứa, tổn thương ứ huyết, kinh nguyệt không đều, bế kinh, đau bụng kinh.
Liều dùng 4,5-9g có thể tới 10-20 g, dạng thuốc sắc hay rượu thuốc. Còn được dùng trị cao huyết áp, ung thư và làm thuốc giảm đau, chống co giật, làm ra mồ hôi, kích thích ăn ngon cơm.
Đơn thuốc: 1. Chữa thiếu máu, cơ thể suy nhược, kinh nguyệt không đều, dùng bài Tứ vật thang gồm: Đương quy 8 g, Thục địa 12 g, Bạch thược 8 g, Xuyên khung 6 g, nước 600 ml, sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống trong ngày.
2. Bổ máu, dùng cho phụ nữ sau khi sinh đẻ, thiếu máu, dùng bài Đương quy kiện trung thang gồm: Đương quy 8 g, Quế chi, Sinh khương, Đại táo mỗi vị 6 g, Bạch thược 10 g, Đường phèn 50 g, nước 600 ml, sắc còn 200 ml, thêm Đường chia làm 3 lần uống trong ngày.
3. Chữa viêm quanh khớp vai, vai và cánh tay đau nhức không giơ tay lên được: Đương quy 12 g, Ngưu tất 10 g, Nghệ 8 g sắc uống. Hợp với luyện tập hàng ngày giơ tay cao lên đầu.
4. Phụ nữ kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, dùng Đương quy sắc nước uống trước khi thấy kinh 7 ngày, Phụ nữ sắp sinh nếu uống nước sắc Đương quy vài ngày trước khi sinh thì đẻ dễ dàng. Cho đến nay, Đương quy là một vị thuốc dùng rất nhiều trong Đông y, là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ.
Đương Quy là một vị thuốc thông dụng trong Đông Y. Có tác dụng trị nhức đầu do thiếu máu, đau lưng, đau ngực, táo bón, chữa kinh nguyệt không đều, có kinh đau bụng, tổn thương ứ huyết, chưn tay lạnh và đau nhức.
Đương Quy có ba phần với ba tính chất khác nhau vì tỷ lệ tinh dầu khác nhau.
- Quy Đầu là rễ chính với bộ phận có rễ, có tác dụng cầm máu, có tính cách hướng đi lên trên.
- Quy Thân là phần giữa hay rễ phụ lớn, có tác dụng bồi dưỡng, nuôi huyết ở trung bộ.
- Quy Vĩ (Qui Vỉ) là rễ phụ nhỏ, chủ thông, có tác dụng phá huyết và đi xuống, trục ứ. Trong các toa thuốc xoa bóp trật đả cũng thường có vị Quy Vĩ .
- Toàn Quy thì hoạt huyết.
Bài thuốc rượu Đương Quy để bổ huyết, cường tráng, trấn tĩnh, điều kinh cho phụ nữ . Muốn ngâm rượu Đương Quy, nên dùng Toàn Quy để có tác dụng huyết dịch tuần hoàn. Đương Quy xắt lát, ngâm chung với đường phèn và rượu trắng khoảng 2 tháng sau là có thể dùng được. Phân lượng tùy theo muốn chế nhiều hay ít, ví dụ 1 lít rượu cho 1/3 Đương Quy vào chai, đường phèn tùy khẩu vị muốn ngọt nhiều hay ít. Khi dùng có thể lọc bỏ Đương Quy hay ăn luôn xác. Rượu Đương Quy rất thơm, mỗi ngày uống một chun nhỏ, ai không uống được rượu, có thể pha với nước trái cây hoặc nước lạnh.
5. - Chữa trúng phong cấm khẩu: Độc họat 20g, Xuyên khung 10g, Xương bồ 10g. Sắc uống.
- Chữa phong thấp đau lưng, đau khớp xương, vận động khó khăn: Độc hoạt, Tầm gởi dâu, Xuyên khung, Đương quy, Ngưu tất, Cẩu tích, Thiên niên kiện, Sinh địa, mỗi vị 8-12g, sắc uống.
- Chữa các khớp xương đau nhức, dùng Độc hoạt thang: Độc hoạt 5g, Đương quy 3g, Phòng phong 3g, Phục linh 3g, Thược dược 3g, Hoàng kỳ 3g, Cát căn 3g, Nhân sâm 2g, Cam thảo 1g, Can khương 2g, Phụ tử 1g, Đậu đen 5g, nước 600ml, sắc còn 200ml. Chia 3 phần uống trong ngày.
6. Chữa phong hàn với triệu chứng: nhảy mũi hắt hơi, chảy nước mũi, nghẹt mũi, do nguyên nhân bên ngoài khi cơ thể gặp gió mưa, nhiễm lạnh mà bị cảm nên gọi là phong hàn. Cách chữa: giữ cơ thể ấm, nếu bị phong hàn dùng phương pháp tán hàn: một bó lá Tía tô, một bó lá Kinh giới và 5-10 lát gừng. Nấu chung với 2 lit nước đến khi sôi, dùng khăn lông trùm kín đầu xông hơi để giải cảm, thông mũi, làm cho dễ thở, hết ngứa mắt và làm ấm cơ thể. Nếu ngứa da, sau khi xông, dùng nước xông và xác lá rau để rửa da. Dùng uống phương thứ nhứt: 10g lá tía tô, 6g lá kinh giới, 3g cam thảo, nấu chung với 3 ly nnước, cạn còn 1 ly, uống lúc nóng để làm tăng sức đề kháng của cơ thể, ấm cơ thể, phong cảm hàn và mũi bị dị ứng chảy nước mũi sẽ hết. Phương thứ 2: 3-5 Củ hành tươi, 5 lát gừng, 3 trái táo đỏ lớn, sắc uống. Phương thứ 3: 5 lát gừng sống nấu với nửa miếng đường thể, uống nóng cho ra mồ hôi.
7. Viêm mũi dị ứng do thời tiết hoặc môi trường: dùng các vị thuốc này rễ cây Hoàng cầm (radix scutelleria), Trái Ké đầu ngựa (fructus xanthii), lá Hoắc hương (herba pogostermonis), lá Cúc mẩn (herba centiprdae); rễ Đương quy (radix angelicae sinensis). Dùng để xông hoặc chế biến, chọn những vị thuốc ở trên làm thành một bài thuốc có liều lượng theo quân, thần, tá, sứ để áp dụng cho triệu chứng bịnh trạng của cơ thể từng người. Vài bài thuốc thí dụ:
- Sâm kỳ tân di thang, bổ ích phế tỳ, khư phong lợi khiếu: Hoàng kỳ 24g, đảng sâm 黨參15g, bạch truật 10g, cam thảo 6g, trần bì 9g, đương quy 10g, thăng ma 6g, sài hồ 6g, phục linh 10g, phòng phong 6g, thương nhĩ tử 6g, tân di (bọc lại sắc) 6g, bạch chỉ 6g, cát cánh 6g. Cách dùng: 1,2 lít nước cho tất cả các vị trên vào sắc còn 450ml, chia 3 lần uống sáng trưa chiều, lúc đói bụng. Mỗi ngày 1 thang. Uống theo liệu trình 7-10 ngày, giữa các liệu trình nghỉ 3-5 ngày.
- Hoàng kỳ quế chi tân di thang chuyên trị phế hư phong hàn: sinh hoàng kỳ 20g, sinh bạch truật 10g, phòng phong 10g, quế chi 6g, bạch thược 6g, tân di (bọc lại sắc) 6g, sinh khương 5g, đại táo 6 trái, trích cam thảo 6g. Sắc với 1 lít nước, nấu sôi sau đó để lửa nhỏ tới khi còn 450ml, chia 3 lần uống sáng trưa chiều lúc đói. Mỗi ngày 1 thang, liên tục 7 ngày (1 liệu trình) nghỉ 3 ngày rồi tiếp tục liệu trình khác cho tới khi khỏi bịnh.
- Tân di thanh phế ẩm, trị ngứa mũi, hắt hơi, mũi rỉ nước, miệng khô, họng ngứa, ho, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi khô: Hoàng cầm 8g, chi tử 12g, thạch cao 20g, tri mẫu 8g, tang bạch bì 15g, tân di (bọc lại) 6g, tỳ bà diệp 12g, thăng ma 8g, bách hợp 10g. Dùng 1 lít nước, cho các vị trên vào sắc còn 300ml, chia làm 3 lần uống sáng trưa chiều, lúc đói. Mỗi ngày 1 thang, uống theo liệu trình 7 nghỉ 3.
Một vài bài thuốc chữa dị ứng lưu truyền trong dân gian:
- Bài 1: Dùng trái Ké đầu ngựa (Thương nhĩ tử) một lượng ít nhiều tùy ý, sao tới khi có màu xám, tán thành bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 3g, 2 tuần liên tục - một liệu trình. Nghỉ vài bữa lại uống một liệu trình tiếp. Thông thường sau 2-3 liệu trình, đại đa số bịnh nhân bị dị ứng sẽ khỏi bịnh hoặc dị ứng ít tái phác hơn trước. Một số bịnh nhân uống liều thuốc này có thể bị tiêu chảy, nhức đầu nhẹ, mệt mỏi, thì cần ngừng xử dụng.
- Bài 2: lấy vài củ tỏi, giã nát, vắt nước cốg rồi trộn với dầu mè hoặc mật ong theo tỷ lệ 1 phần nước cốt tỏi, 2 phần dầu mè. Rửa sạch mũi bằng nước muối, lau khô, dùng bông gòn y tế thấm nước thuốc, lnhét vào từng lỗ mũi, để bông thuốc trong đó 10-15 phút rồi bỏ ra.
- Bài 3: dùng trái hoặc lá cây tiêu lốt, phơi hoặc sấy khô, tán bột. Lấy chút bột hít hoặc dùng bông gòn tẩm bột thuốc nhét vào từng lỗ mũi, ngày 2-3 lần. Có tác dụng phòng dị ứng và giảm hắt hơi.
Kinh nghiệm người bị dị ứng vào mùa xuân mùa thu: dùng 250mg bột vitamin C hòa trong nước cam vắt. Uống hàng ngày.
****
Gấc, tên khoa học Momordica cochinchinensis họ Bầu bí cucurbitaceae. Tên khác: Gac fruit,
Tác dụng: dầu gấc có nhiều vitamin A, tốt cho trẻ em chậm lớn, mắc bịnh khô mắt, quáng gà, người kém ăn, mệt mỏi. Dầu gấc có tác dụng chống lão hóa, phòng chữa nám da, mụn trứng cá, khô da, rụng tóc, nổi sần, dưỡng da. Phòng chữa viêm gan, xơ gan, tiền ung thư về gan. Tăng cường sức đề kháng, chống các bịnh nhiễm trùng. Giúp giảm cholesterol trong máu, phòng ngừa các bịnh về tim mạch, tiểu đường. Bôi lên vết thương, vết phỏng giúp mau lên da non. Dầu gấc kèm thuốc kháng khuẩn bôi lên da trị được bịnh trứng cá có nhưn. Dầu gấc còn có tác dụng nhuận trường, giúp người bị táo bón. Hột gấc sấy khô giã bột, chủ yếu dùng ngoài chữa mụn nhọt, quai bị, sưng vú, tắc tia sữa, trĩ. Có nơi dùng chữa sốt rét, mỗi ngày 1-2g.
Bộ phận dùng: hột gấc bỏ vỏ (áo hột), phơi hay sấy khô. Dầu gấc được ép từ màng hột đã phơi hoặc sấy khô. Rễ thu hái vào mùa đông, rửa sạch và phơi khô.
Liều dùng: người lớn mỗi ngày 10-20 giọt dầu, chia làm 2 lần, uống trước bữa ăn chính. Trẻ em 5-10 giọt mỗi ngày.
Các bài thuốc:
- Gốc dây gấc, đơn gối hạc, mộc thông, tỳ giải mỗi vị 15g, sắc uống hoặc ngâm rượu xoa bóp, chữa phong thấp, sưng chưn.
- Nhân hột gấc mài với nước, bôi chữa mụn nhọt, ghẻ lở.
- Nhân hột gấc giã với một ít rượu 30-40° đắp chữa vú sưng đau.
- Hột gấc giã nhuyễn, thêm chút giấm, gói bằng vải, đắp chữa trĩ. Đắp suốt đêm.
- Hột gấc và vảy tê tê hai vị bằng nhau, sấy khô tán bột, mỗi lần dùng 2g, hòa với rượu ấm uống lúc đói để chữa sốt rét có báng.
Dầu gấc, bán trên thị trường dưới dạng viên thuốc dầu (tương tự dầu cá) "morita pure Gac oil / Vietnam Gac oil"
Giảo Cổ Lam, Jiaogulan, Cam Trà Vạn, cỏ Thần Kỳ, cây Trường Sinh thảo, cây Trường thọ, Phúc Âm Thảo, Thất Diệp Đảm, Dây Lõa Hùng, Ngũ Diệp sâm, Sâm phương Nam, cây Bổ Đắng, 絞股藍
- Gynostemma pentaphyllum, họ Bầu bí cucurbitaceae
Tác dụng: tăng lực, giảm mỡ máu, bảo vệ tế bào gan, chống viêm gan, chống oxy hóa của các phần tử tạo ra bởi các gốc tự do, phòng ung thư, chống suy thoái tế bào, phòng ngừa các biến chứng tim mạch, não, làm lưu thông máu trên não, giảm mệt mỏi, giúp ăn ngủ ngon, nhuận gan, lợi mật, tiêu hóa tốt, hết hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu do thiếu máu não.
Trên thị trường (Mỹ), bán dưới dạng trà (Jiaogulan tea). Hoặc xin hột về trồng, hái lá làm trà uống (
cách làm trà, vào đây đọc thêm).
cây hoa Giun - Quisqualis indica, họ. Các tên khác: 英文名 shijunzi cây trái giun; Cát Bà; trái Nấc, Sử Quân Tử
trái của cây hoa Giun, thuốc trị lãi đũa, sán lãi. Lấy hột trái hoa Giun fructus Quisqualis 使君子 sao cho vàng thơm, tán nhỏ, sấy khô, có thể thêm đường. Dùng cho trẻ em ốm yếu, ăn không tiêu, biếng ăn, vàng da, miệng chảy nước giãi. Ngày uống 1-2 muỗng café hòa với nước cháo hay mật ong. Dùng trừ sán đũa cho trẻ em uống 3-5 hột sao và tán nhuyễn, người lớn 10 hột (tối đa 20 g). Sau 1 giờ uống thuốc sổ để loại bỏ sán. Thuốc sắc dùng để ngậm khi đau răng.
*****
Hà Thủ Ô - Polygonum multiflorum Thunb., họ Polygonaceae. Tên khác: Giao đằng, Dạ hợp, Địa tinh, Trần tri bạch, Đào liễu đằng, Sơn nô, Sơn tinh, Xích Cát, Mã can thạch, Cửu chân đằng, Sang chửu, Hồng nội tiêu, Giao hành, Dã miêu, Kim hương thảo, Chế thủ ô, Tiên thủ Ô, Dây sùng bò, Dây sữa bò, He Shou Wu 何首烏
Hái vào khoảng tháng 8, đào lấy củ to đường kính trên 4 cm, khô, vỏ nâu sẫm, cứng chắc, nhiều bột, ít xơ. Rễ để nguyên hay cắt thành từng miếng lớn nhỏ không đều nhau. Loại nguyên hơi giống củ khoai lang lớn, mặt ngoài màu nâu đỏ có nhiều chỗ lồi lõm. Mặt cắt ngang để lộ lớp bần màu nâu đỏ, mô mềm, vỏ màu nâu hồng có nhiều bột, giữa có gỗ hẹp, chất cứng, hơi nặng, không mùi, vị hơi chát tính ấm. Vào kinh Can và Thận. Hà thủ ô là một vị thuốc cải lão hoàn đồng, tác dụng bổ máu, kích thích tạo hồng cầu, giúp tăng lực khi mệt mỏi, suy nhược. 3 tác dụng đặc biệt là làm đen tóc, có lợi cho việc sinh con và kéo dài tuổi thọ. Ngoài ra Hà thủ ô có tác dụng hạ Cholesterol máu, phòng chống và giảm nhẹ xơ cứng động mạch, làm chậm nhịp tim, làm tăng nhẹ lưu lượng máu động mạch vành, tăng cường miễn dịch, nhuận trường, tăng nhu động ruột, Hà thủ ô sống tác dụng nhuận trường mạnh hơn Hà thủ ô chín, kháng khuẩn và virut, Hà thủ ô trắng có tác dụng ức chế tế bào ung thư.
Rửa sạch, ngâm nước vo gạo một ngày đêm, rửa lại, đổ nước Đậu đen vào ngập (Cứ kg Hà thủ ô thì cho 100g đậu đen nấu với 2 lít nước cho tới khi đậu đen nhừ nát) nấu cho tới khi gần cạn, nên đảo luôn cho chín đều). Khi củ trở nên mềm, lấy ra, bỏ lõi (nếu có), xắt hoặc bào mỏng, rồi phơi khô, còn nước đậu đen thì tẩm phơi cho hết, nếu đồ và phơi như vậy cho được 9 lần (củu chưng cửu sái) thì càng tốt. Khi nấu nóng, đặt một cái vỉ ở đáy dụng cụ để khỏi cháy khét.
Hoặc lấy Hà thủ ô đã cắt miếng, cho vào chậu, đổ rượu ngon vào tẩm một đêm, (cứ 10kg Hà thủ ô thì dùng 2,5 lít rượu). Ngày hôm sau bỏ vào nồi đồ 4 giờ. Lấy ra phơi trong râm mát cho khô. Lại tẩm lại đồ 2 lần nữa là được. Miếng Hà thủ ô sẽ có màu nâu đen.
Hà thủ ô (có thể trộn thêm với Hà thủ ô trắng) 2 vị bằng nhau, ngâm trong nước vo gạo 4 ngày đêm, thay nước vo gạo hàng ngày. Xong vớt ra cạo vỏ bỏ đi, lấy đậu đen vo sạch rồi cho vào chõ, cứ một lượt Hà thủ ô thì một lớp Đậu đen. Đồ cho chín nhừ Đậu đen. Bỏ Đậu đen, lấy Hà thủ ô phơi khô, phơi rồi đồ như vậy cho được 9 lần. Cuối cùng, lấy Hà thủ ô xắc mỏng hay bào phiến hoặc sấy khô hoặc tán bột.
* Trị phong cùi, dùng Hà thủ ô củ lớn, 250g, ngâm vơi nước vo gạo một đêm, cửu chưng cửu sái, Hồ ma 160g, cửu chưng cửu sái, rồi tán bột, mỗi lần. Uống 8g với rượu, ngày 2 lần.
* Trị tiêu ra máu không cầm: dùng Hà thủ ô 80g, tán bột, uống với nước cơm trước khi ăn, mỗi lần 8g.
* Hà thủ ô rửa sạch nhai sống hàng ngày, bài này có thể uống lâu ngày làm sống lâu và râu tóc đen.
* Uống hoặc ăn Hà thủ ô có tác dụng tư bổ, "Hà Thủ Ô Hoàn" chuyên mạnh gân cốt, đầy tinh tủy, bổ khí huyết, uống lâu đen râu tóc, mạnh sinh lý, có nhiều con cái, nhẹ người, sống lâu. Dùng Hà thủ ô, lấy dao bằng đồng cắt lát, nếu khô thì ngâm vơi nước vo gạo cho mềm để cắt, Ngưu tất (bỏ mầm non) 1kg, xắt lát, lắy 1 đấu Đậu đen rửa sạch, dùng gỗ hoặc tre đan làm giá, cứ bỏ một lớp đậu, một lớp Hà thủ ô và Ngưu tất, sắp nhiều lớp cho tới khi hết, chưng nấu cho tới khi đậu chín, lấy ra, bỏ đậu đi, phơi khô, làm như thế cho được 3 lần rồi tán bột, lấy Đại táo chưng rồi trộn thuốc làm viên bằng hột ngô đồng lớn, mỗi lần uống từ 30 - 50 viên với rượu ấm lúc còn bụng đói.
* Mạnh gân cốt, đầy tinh tủy, bổ khí huyết, uống lâu đen râu tóc, mạnh sinh lý, có nhiều con cái, nhẹ người, sống lâu: dùng Hà thủ ô trắng và Hà thủ ô đỏ, mỗi thứ nửa kg, cạo bỏ vỏ, phơi âm can, lấy cối chầy đá tán bột, uống mỗi buổi sáng 4g với giấm.
* Trị vết thương chảy máu, dùng bột Hà thủ ô xức vào, cầm ngay.
* Khoan khoái gân xương, tổn thương do chấn thương: dùng Hà thủ ô 5 kg, đậu Đen sống nửa kg. Tất cả nấu chín, Tạo giáp 1 cân đốt tồn tính. Khiên ngưu 400g, sao, tán bột, Bạc hà 400g, Mộc hương, Ngưu tất mỗi thứ 200g, Xuyên ô đầu mao (ngâm nước sôi) 80g, tán bột. Tất cả trộn với rượu thành viên to bằng hột ngô đồng lớn, lần uống 30 viên với nước trà.
* Mồ hôi tự chảy không cầm: dùng bột Hà thủ ô trộn nước miếng đắp giữa rún.
* Trị trong da có cảm giác đau như không biết đau ở nơi nào: dùng Hà thủ ô tán bột, trộn nước cốt gừng thành cao đắp vào, rồi chườm nóng bên ngoài.
* Trị tà sốt rét nhập vào âm phận lâu ngày không hết: dùng Hà thủ ô, Ngưu tất, Miết giáp, Quất hồng, Thanh bì, nếu khí ở biểu đã hư, tỳ vị đã yếu, thì thêm Nhân sâm 12- 20g, phế nhiệt thì bỏ Nhân sâm mà thế Đương quy vào.
* Trị chứng huyết hư, cơ thể suy nhược, có triệu chứng lưng gối nhức mỏi, hoa mắt, tóc bạc sớm, di tinh, huyết trắng nhiều, dùng: Hà thủ ô 20g, Thỏ ty tử 12g, Đương qui 12g, Ngưu tất 12g, Bổ cốt chỉ 12g, tán bột mịn, luyện hoàn vớỉ mật ong. Mỗi lần uống 8-12g, ngày 2 lần với nước sôi nguội hoặc nước muối lạt.
* Trị mất ngủ do huyết hư, dùng bài: Chế Hà thủ ô, Bắc sa sâm, Qui bản, Long cốt, Bạch thược mỗi thứ 12g, sắc uống.
* Trị thận yếu, đau lưng mỏi gối, di tinh nặng hoặc băng lậu, sinh dục yếu, dùng bài: Thất Bảo Mỹ Nhiệm Đơn: Chế Thủ ô 20g, Bạch phục linh, Ngưu tất, Đương qui, Thỏ ti tử, Phá cố chỉ, mỗi thứ 12g, luyện mật làm hoàn, mỗi lần 12g, ngày 2 lần.
* Trị huyết áp cao: Chế Thủ ô, Sinh địa, Huyền sâm, Sinh bạch thược, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Sa Uyển tật lê, Hy thiêm thảo, Tang ký sinh, Hoài ngưu tất, mỗi thứ 12g, sắc nước uống.
* Trị sốt rét lâu ngày, phần âm bị tổn thương khó lành, dùng: Hà thủ ô 40g, Sài hồ 12g, đậu đen 20g, sắc nước phơi sương l đêm, sáng hầm lên uống nóng.
hoặc Hà thủ ô (chế) 16g, Đảng sâm, Đương qui, Trần bì, Ổi khương, mỗi thứ 12g, sắc uống.
* Trị táo bón do huyết hư, tân dịch hao tổn: Hà thủ ô 20-40g, sắc nước uống.
* Trị ho gà: Hà thủ ô 6- 12g, Cam thảo 1,5-3g, mỗi ngày 1 thang, sắc, chia 4-6 lần uống.
* Trị sốt rét: Hà thủ ô 18-25g, Cam thảo 1,5-3g, trẻ em giảm lượng, sắc đặc sau 2 giờ, chia 3 lần uống trước bữa ăn.
* Trị tóc bạc: Chế thủ ô, Thục địa hoàng mỗi thứ 30g, Đương qui 15g, ngâm vào 1 lít rượu trắng 10-15 ngày sau, dùng mỗi lần 15-30ml, uống liên tục cho đến có kết quả.
* Trị tổn thương thần kinh: Hà thủ ô 30g, sắc, chia uống sáng và chiều, liệu trình 1 tháng.
* Trị can huyết bất túc, huyết áp hơi cao, đầu đau, chóng mặt, tay chân tê: Hà thủ ô (chế), Sinh địa, Huyền sâm, Bạch thược (sống), Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Sa uyển tặt lê, Hy thiêm thảo, Tang ký sinh, Hoài ngưu tất mỗi thứ 12g, Sắc uống.
* Dùng chỉ một vị Hà thủ ô sắc uống thường xuyên có thể trị chứng tinh loãng, tinh ít.
* Dùng Hà thủ ô trị mề đay, lở nhọt, trị mụt ruồi, tinh trùng yếu.
* Hợp với Tang ký sinh, Nữ trinh tử trị chứng động mạch xơ cứng, huyết áp cao nơi người lớn tuổi.
Bài thuốc dân gian chữa phong thấp: Sinh địa 20g, Hà thủ ô 20g, Cỏ xước 12g, Cốt toái bổ 12g, Vòi voi 10g, Cốt khí 10g, Phòng đảng sâm 黨參 20g, Huyết đằng 12g, Hy thiêm 12g, Bồ công anh 12g, Thiên niên kiện 10g, dây đau xương 10g.Công năng của từng vị thuốc:
Vị sinh địa: (Rhizoma Rehmanniae) là thân rễ phơi khô của cây địa hoàng (Rehmannia glutinosa Libosch "gaertn"), họ hoa mõm chó (Scrophulariaceae), có tác dụng bổ huyết, hòa huyết và thông huyết. Dùng chống thiếu máu, suy nhược, ngoài ra còn giúp lợi tiểu, mạnh tim.
Cây cỏ xước: (Achyranthes bidentata Blume), họ dền (Amaranthaceae). Ðược dùng làm thuốc trị viêm khớp, lưng, gối, xương đau nhức, làm tan tụ máu; bổ can, thận.
Huyết đằng: (Caulis sargentodoxae), bộ phận dùng là thân cây huyết đằng phơi khô (sargentodoxae cuneata), họ đại huyết đằng (Sargentodoxaceae). Vị đắng, tính bình. Có tác dụng trừ phong, thống kinh lạc, lợi niệu, sát khuẩn; Bổ huyết, hành huyết, khỏe gân cốt. Chủ trị tê thấp, đau lưng, mình mẩy nhức mỏi.
Vòi voi (Heliotropium indicum Lin), họ tử thảo (Bonaginaceae), dùng chữa tê thấp, thông kinh lạc, hạ nhiệt, chữa mụn nhọt, viêm tấy và làm tan tụ huyết.
Hà thủ ô (Radix Polygoni multiflori), bộ phận dùng làm thuốc gồm rễ, củ phơi khô của cây hà thủ ô (Polygonum multiflorum Thumb) thuộc họ rau răm (Polygonaceae). Tác dụng bổ huyết, trị thần kinh suy nhược, làm khỏe gân cốt.
Bồ công anh (Lactuca Indica Lin), họ cúc (Compositae). Có tính chất sát khuẩn, tiêu viêm, hạ sốt, an thần và bồi bổ.
Hy thiêm (Sieges beckia orientalis L.), họ cúc (Compositae). Thường dùng làm thuốc chữa trị đau nhức xương, trừ phong thấp, gân cốt nhức lạnh, bán thân bất toại, lưng gối tê dại.
Cốt toái bổ (Rhizoma Drynariae fortunei), bộ phận dùng làm thuốc gồm thân rễ cây cốt toái bổ (Drynaria fortuei J-sm), họ dương xỉ (Polypodiaceae), tính khô, ôn bình, tác dụng chữa đau xương, tán tụ máu, sát khuẩn, giảm đau. Là vị thuốc hòa hoãn và bổ thận, bồi dưỡng sinh khí.
Cốt khí (Radix Polygoni Cuspidati). Bộ phận dùng là rễ phơi khô của cây cốt khí (Polygonumreynontria Makino). Thuộc họ rau răm (Polygonaceae). Tác dụng chữa tê thấp, giảm đau do té ngã, bị thương và lợi tiểu.
Dây đau xương (Tinospora Sinensis Men) họ phòng kỷ (Menispermaceae). Có tác dụng chữa bệnh tê thấp, đau xương, đau người - là vị thuốc bổ.
Thiên niên kiện (Rhizoma Homalomenae), bộ phận dùng làm thuốc gồm thân, rễ phơi khô của cây thiên niên kiện (Homalomenae aff sagittaefolia Jungh), họ ráy (Araceae). Dùng chữa tê thấp, bổ gân cốt, giảm đau nhức. Thường dùng cho người cao tuổi hay đau xương khớp, mình mẩy. Thiên niên kiện còn là vị thuốc bổ giúp kích thích tiêu hóa.
Ðảng sâm (Radix codonopsis), vị thuốc là rễ phơi khô của nhiều loại codonopsis. Họ hoa chuông (Campanulaccae). Người ta coi đảng sâm có thể thay thế nhân sâm - Là thuốc bồi bổ cơ thể, tăng lực, chống thiếu máu, tiêu đàm; bổ tì, vị, lợi niệu.
Như vậy sự kết hợp của mười hai vị thuốc trên thật hoàn hảo để chữa trị bệnh phong thấp.
- Thủ ô trắng vào phần khí, Thủ ô đỏ vào phần huyết, thuốc khí ôn, vị đắng, sáp, đắng bổ thận, ôn bổ can, thu liễm tinh khí, dưỡng huyết ích can, cố tinh, ích thận, kiện cân cốt, làm đen râu tóc, là vị thuốc tư bổ tốt.
- Hà thủ ô sống tính phát tán, trị sốt rét nóng lạnh, các chứng ung thư bối sang đều dùng được. Dùng tươi sắc uống có tác dụng thông tiện, tác dụng không khác Nhục thung dung.
- Hà thủ ô nhập vào can để ích huyết, khứ phong, kiêm bổ thận... là thuốc tuấn bổ chân âm tiên thiên, thuốc cũng cần cho điều bổ dinh huyết của hậu thiên, thuốc dưỡng tinh thần, điều bổ nguyên khí.
- Hà thủ ô bổ âm mà không trệ, không hàn, cường dương mà không táo, không nhiệt.
Hải Đường - Begonia - Begoniaceae
Hạ Khô Thảo - Prunella vulgaris
Hẹ - Allium tuberosum, tàu: 韭菜 Cửu Thái, mỹ: Chives, pháp: ail chinois: Bông hẹ ăn giải nhiệt, xào với nghệ ăn trị ho.
Hồ Điệp - Phalaenopsis / Moth Orchid
Hoàng Điệp - Heliconia firebird
hoa Hoàng Hậu, Hoàng Lan, Bò Cạp Nước, Muồng Hoàng Yến - Cassia fistula, họ Caesalpiniaceae
Hoàng Kỳ Astragalus membranaceus, họ Fabaceae. Các tên khác: Miên Hoàng Kỳ, Hoàng Kỳ Mông Cổ, Tiễn Kỳ, Khẩu Kỳ, Bắc Kỳ, Đái thảm, Đái thâm, Thục chi, Bách bản, Ngải thảo, Kỵ thảo, Độc thầm, Vương tôn, Dương nhục, Đái phấn, Đố phụ, Cam bảm ma, Bách dược miêN, Sinh hoàng kỳ, Chích hoàng kỳ, Thanh chích kỳ, Hoàng thị, Mật chích kỳ, Đại hữu kỳ, Tây thượng kỳ, Kỳ diện, Bạch thủy hoàng kỳ, Đại hoàng kỳ, Thổ hoàng kỳ, Nham hoàng kỳ, Độc căn, Nhị nhân đài, Thổ sơn bạo phương căn, Thượng hoàng kỳ, Mật trích hoàng kỳ, Thanh trích hoàng kỳ, Sinh hoàng kỳ bì.
Radix Astragali là rễ phơi hay sấy khô của cây Hoàng kỳ. Vị ngọt, hơi ôn, vô độc. Tác dụng bổ khí, thăng dương, ích vệ khí, sinh cơ, lợi thủy, tiêu thũng. Chủ trị Tỳ khí hư nhược, khí bất nhiếp huyết, trung khí huyết hạ hãm, tỳ phế khí hư, khí huyết lưỡng suy, khí hư phát nhiệt, lỡ loét miệng khó lành, tê chân tay, di chứng trúng phong.
Thu hái rễ vào mùa thu, cây trồng sau 3 năm có thề thu hái, sau 6-7 năm thì càng tốt. Đào rễ rửa sạch đất cát, bỏ đầu và rễ con, phơi hay sấy khô. Rễ to mập, nhiều thịt, ít xơ, dai bền, ruột vàng là tốt. Có thứ vỏ đen gọi là Hắc kỳ, thịt vàng. Có thứ rễ còn non gọi là Nộn kỳ, thịt trắng, nhiều bột, không xơ là thứ thượng phẩm.
Bào chế:
** Cắt bỏ đầu, đồ lên nửa ngày, tước ra sợi nhỏ để lên mặt đá đập dập dùng.
** Đập dập nát, tẩm mật Ong sao 3 lần, có khi tẩm muối đồ chín.
** Rửa sạch, ủ hơi mềm, xắt hoặc bào mỏng 1-2 ly. Sấy nhẹ hoặc phơi cho khô (dùng sống). Hoặc sau khi làm khô đập nát tước nhỏ, tẩm mật rồi sao vàng (cách này hay dùng gọi là Chích hoàng-kỳ). Hoặc ngâm mật Ong loãng 2-3 ngày cho thấm rồi quấn giấy bản lùi vào tro, nếu làm ít, hoặc sao vàng.
* Để nơi cao ráo, nơi ẩm dễ hư. Khi đã tẩm mật thì không nên để lâu.
- Trị chứng suy nhược mạn tính do tỳ khí hư nhược, mệt mỏi, kém ăn hoặc chứng tiêu chảy kéo dài, rong kinh, sa tử cung, sa trực tràng, dùng bài:
Bổ trung ích khí thang: Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Đương qui mỗi thứ 12 g, Thăng ma 4 g, Sài hồ, Trần bì mỗi thứ 6 g, Cam thảo 4 g, sắc nước uống, thuốc có tác dụng bổ khí thăng dương.
- Trị các chứng sa tạng phủ, sa dạ dày:
Dùng Sinh Hoàng kỳ 30 - 50 g, hợp với Đơn sâm 15 g, Sơn tra nhục 10 g, Phòng phong, Thăng ma mỗi thứ 3 g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, dưới 3 tuổi giảm liều, nếu có lòi ra ngoài, gia thêm Thuyền thoái, Kinh giới than, Băng phiến tán bột trộn với Hương dầu bôi trị sa trực tràng.
- Làm thuốc phòng cảm mạo, rút ngắn được thời gian mắc bịnh cảm, chữa viêm phế quản: *** Uống mỗi ngày 5 viên Hoàng kỳ. Mỗi viên có 1g thuốc sống, ngày 3 lần hoặc cách nhật, sắc 15 g Hoàng kỳ uống trong 10 ngày là 1 liệu trình, nghỉ thuốc 5 ngày, uống liệu trình 2.
*** Hoàng kỳ 15 g, Đại táo 10 g chế thành bột chia làm 2 bao hòa nước uống, người lớn mỗi lần 1 bao, ngày 2 lần. Có tác dụng phòng chống cảm mạo nhẹ, viêm phế quản, hen phế quản, viêm mũi dị ứng.
*** Phòng bịnh viêm đường hô hấp trên trẻ em: chiết xuất nước Hoàng kỳ cho vào ống 2ml ( tương đương thuốc sống 2g), ngày uống 1 lần.
- Phòng trị ho, viêm phế quản mạn tính: Hoàng kỳ 24 g, Tuyên phục hoa 10 g, Bách bộ 10 g, Địa long 6 g, chế thành 54 viên thuốc nặng 0,31g, mỗi lần uống 6 viên, ngày 3 lần, 10 ngày là 1 liệu trình, uống 3 liệu trình.
- Trị viêm loét dạ dày tá tràng:
Hoàng kỳ kiến trung thang: Hoàng kỳ 12g, Bạch thược 12g, Cam thảo 5g, Quế chi 10g, Sinh khương 3g, Đại táo 5 trái, đường phèn 30g, sắc nước, chia 3 lần uống, tùy chứng gia giảm. Kết quả sau thời gian dùng thuốc từ 25 đến 53 ngày.
- Trị bệnh tim mạch: Hoàng kỳ 30g, Xích thược, Đơn sâm mỗi thứ 15g, Đương qui 12g, Xuyên khung 10g, mỗi ngày 1 thang sắc uống, một liệu trình 4 - 6 tuần, hợp với thuốc tây y điều trị triệu chứng.
- Trị chứng bạch cầu giảm: Phùng văn Trung dùng bài: Sinh Hoàng kỳ 30g, Điều sâm 15g, Tiểu hồng táo 20 trái, sắc uống.
- Trị bịnh viêm thận mạn tính: Hoàng kỳ chế thành cao lỏng, mỗi ngày uống tương đương lượng 100g thuốc sống, chia 2 lần. Thời gian điều trị từ 15 ngày đến 3 tháng, không dùng các loại thuốc tây.
- Trị luput ban đỏ: Hoàng kỳ 30-60-90g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, liệu trình từ 1 - 12 tháng, có thể hợp dùng liều nhỏ và trung bình cocticoit.
- Trị cơ thể suy nhược ra mồ hôi, dùng bài Ngọc bình phong tán: Hoàng kỳ 24g, Bạch truật, Phòng phong mỗi thứ 8g, tán bột mịn trộn đều, mỗi lần uống 6 - 8g, ngày uống 2 lần, pha rượu hoặc sắc nước uống.
- Trị chứng huyết hư có sốt hoặc sau khi mất nhiều máu, dùng bài Đương qui bổ huyết thang: Hoàng kỳ 40g, Đương qui 8g sắc uống.
- Trị chứng sốt kéo dài lâu ngày không khỏi, thường gặp trong các bịnh mạn tính cơ thể hư nhược, dùng bài Bổ trung ích khí thang để chữa gọi là phép "Cam ôn trừ đại nhiệt": Hoàng kỳ 16g, Bạch truật, Đảng sâm, Đương qui mỗi thứ 12g, Sài hồ, Trần bì mỗi thứ 6g, Thăng ma, Chích thảo mỗi thứ 4g, có thể thêm một số thuốc tư âm thanh nhiệt như Huyền sâm 10g, Tri mẫu 8g.
- Trị ung nhọt sang thương lâu ngày làm mủ hoặc nhọt lở loét khó liền miệng, thường dùng bài *** Hoàng kỳ nội thác tán: Hoàng kỳ 16g, Đương qui 12g, Xuyên khung 6g, Bạch truật 12g, Kim ngân hoa 16g, Tạo giác thích, Thiên hoa phấn, Trạch tả mỗi thứ 12g, Cam thảo 4g, sắc uống.
*** Tứ diệu thang: Hoàng kỳ, Kim ngân hoa, mỗi thứ 20g, Đương qui 16g, Cam thảo 6g, sắc uống. Trị nhọt lở do cơ thể hư mà lâu lành.
- Trị chứng phù toàn thân do tâm thận dương hư, dùng các bài:
***Phòng kỷ Hoàng kỳ thang: Hoàng kỳ 12g, Phòng kỷ 12g, Bạch truật 8g, Cam thảo 4g, Gừng tươi 12g, Đại táo 3 trái, sắc nước uống. Trị viêm thận, phù, ra mồ hôi, sợ gió.
*** Hoàng kỳ 20 - 40g, sắc nước uống, cũng trị viêm thận mạn, đạm niệu, phù toàn thân.
- Trị đau nhức các khớp do cơ thể suy nhược, khí huyết hư, dùng bài:
*** Hoàng kỳ quế chi ngũ vật thang: Hoàng kỳ 16g, Bạch thược 12g, Quế chi 6 - 8g, Sinh khương 12g, Đại táo 3 trái, sắc nước uống.Những trường hợp viêm khớp mạn tính, viêm quanh khớp, đau trong chứng liệt 1/2 người do tai biến mạch máu não do khí huyết hư, khí huyết ứ trệ, có thể dùng bài:
Bổ dương hoàn ngữ thang: Sinh Hoàng kỳ 40 - 60g, Đương qui vỹ 8g, Xích thược 6g, Địa long 4g, Xuyên khung 4g, Đào nhân 4g, Hồng hoa 4g, sắc nước uống.
- Trị tiểu đường thường phối hợp với Hoài sơn, Sinh địa, Thiên hoa phấn.
- Trị phong thấp, mạch Phù, cơ thể nặng, sợ gió, ra mồ hôi: Bạch truật 30g, Cam thảo 20g, Hoàng kỳ 40g, Phòng kỷ 40g. Tán bột. Mỗi lần dùng 20g, thêm Gừng 4 lát, Táo 1 trái, sắc uống.
- Trị huyết tý, âm dương đều yếu, mạch bộ thốn và quan đều Vi, bộ xích Tiểu,Kết, bên ngoài cơ thể mất cảm giác, giống như chứng phong tý: Hoàng kỳ, Quế chi, Thược dược đều 120g, Sinh khương 240g, Táo 12 trái. Sắc, chia ra uống.
- Trị vàng da do nghiện rượu, vùng dưới tim đau, chân sưng, tiểu vàng, hoặc uống rượu sinh ra những nốt vàng đen đỏ ở da, do say rượu quá mà gặp gió và nước mà gây ra: Hoàng kỳ 80g, Mộc lan 40g, tán bột, uống mỗi lần 8g với rượu, ngày 3 lần.
- Trị tiêu khát: Can địa hoàng 200g Chích thảo 120g, Hoàng kỳ 120g, Mạch môn (bỏ lõi) 120g, Phục thần 120g, Quát lâu 120g, sắc uống.
- Trị móng tay lở sưng ở hai bên ngón tay ngón chân, lòi thịt đỏ: Hoàng kỳ 80g, Lan nhự 120g, ngâm với giấm 1 đêm, thêm mỡ Heo 5 chén nhỏ, sắc với lửa nhỏ còn 3 chén, bỏ bã, bịt ở trên chỗ lở loét, ngày 3 lần thay.
- Trị Phế ung, thổ ra huyết: Hoàng kỳ 80g, tán bột, mỗi lần dùng 8g sắc với nước uống lúc còn nóng. Ngày uống 3-4 lần.
- Trị các chứng hư, bất túc, chân tay mỏi mệt, hồi hộp, tiêu khát, miệng môi khô, sắc mặt vàng úa, không muốn ăn uống hoặc lúc đầu khát mà sau phát ghẻ nhọt, hoặc bị mụn nhọt rồi sinh ra khát: Chích thảo 40g, Hoàng kỳ (nướng mật) 240g, Gĩa nát, mỗi lần dùng 8g, thêm Táo 1 trái, sắc uống.
- Trị người già tức mệt, bứt rứt: Miên Hoàng kỳ, Trần bì (bỏ xơ trắng), mỗi thứ 20g, tán bột, mỗi lần uống 12g, Mè 1 chén nhỏ, nghiền nát, lọc như tương, sắc cho tới khi thấy có nổi như sữa mới bỏ vào một muổng mật ong rồi sắc tiếp. Uống lúc đói, thuốc này dược tính bình hòa không lạnh không nóng, uống vào không bị bí tắc, hiệu quả như thần.
- Trị ói ra máu không dứt: Hoàng kỳ 10g, Tử bối phù bình 20g, tán bột, mỗi lần uống 4g với nước Gừng và Mật.
- Trị mồ hôi tự ra: Bạch truật 80g, Hoàng kỳ 40g, Phòng phong 40g.Tán bột. Mỗi lần dùng 12g, thêm Gừng 3 lát sắc uống.
- Trị mụn nhọt lâu ngày có mủ mà không vỡ ra: Đương quy 8g, Hoàng kỳ 16g, Tạo giác thích 6g, Xuyên khung 12g, Xuyên sơn giáp (sao) 4g, Sắc uống.
- Trị mụn nhọt phá mủ mà vết thương không gom miệng: Cam thảo 8g, Hoàng kỳ 12g, Mẫu lệ 12g, Ngũ vị tử 4g, Nhân sâm 12g, Phục linh 12g, Sinh khương 12g. Sắc uống ấm.
- Trị tiểu không thông: Miên hoàng-kỳ 8g, nước 2 chén, sắc còn 1 chén, uống nóng. Trẻ con dùng phân nửa.
- Trị bạch trọc do khí hư: Hoàng kỳ (sao với muối) 20g, Phục linh 40g, tán bột, mỗi lần uống 8g với nước, lúc đói.
- Trị khát, bổ hư, nam nữ suy nhược, hồi hộp, đái đường, sắc mặt vàng úa, không ăn uống được, hoặc trước khát sau lở nhọt, hoặc trước lở nhọt sau khát (tiêu khát), nên uống thường thuốc này để bổ khí huyết và an hòa ngũ tạng lục phủ: Miên hoàng kỳ (cắt bỏ đầu đuôi) 240g, trong đó lấy một nửa sấy khô, tán bột, Phấn cam thảo 40g, trong đó 20g dùng sống, 20g sao vàng tán bột. Mỗi lần uống 8g với nước sôi, ngày 3 lần, hoặc có thể sắc uống.
- Trị cơ bị nhiệt, táo nhiệt, mắt đỏ, mặt hồng, mạch Hồng Đại mà Hư: Hoàng kỳ 40g, Đương quy (tẩy rượu) 8g, sắc uống lúc đói.
- Trị tiểu ra máu, có khi buốt rát đau không chịu nổi: Hoàng kỳ, Nhân sâm, liều lượng bằng nhau, tán bột. Lấy 1 củ Đại la bặc (củ cải lớn), sắc ra 45 miếng (bằng ngón tay lớn), tẩm với 80g mật, sao cho tới khi nào hết mật. Chấm bột thuốc ăn khi nào cũng được hoặc uống với nước muối.
- Trị ho ra máu mủ, vì trong hư có nhiệt, không thể dùng thuốc mát được: Cam thảo 40g, Hoàng kỳ tốt 160g, tán bột, mỗi lần uống 8g với nước nóng.
- Trị cơ quan sinh dục ngứa: Hoàng kỳ, Nhân sâm, mỗi thứ 40g, tán bột, Long não tốt 4g, dùng nước cốt ngó sen làm viên bằng hạt đậu xanh, mỗi lần uống 20 viên với nước nóng.
- Trị chóng mặt, hoa mắt, cơ thể suy yếu, ít ăn và rong kinh băng huyết, sa trực trường, sa tử cung do khí hư: Bạch truật, Cam thảo, Đảng sâm Đương qui, Hoàng kỳ mỗi thứ 12g, Sài hồ 6g, Thăng ma 4g, Trần bì 6g, Sắc uống.
- Trị phát sốt do huyết hư và chứng muốn thoát do huyết hư sau khi mất máu nhiều: Hoàng kỳ 40g, Đương quy 8g. Sắc, thêm một ít Đồng tiện uống.
- Trị mụn nhọt do khí huyết bất túc, sưng tấy lở loét hãm vào không lành được hoặc lâu ngày không lành:
** Hoàng Kỳ Nội Thác Tán: Bạch truật 8g, Cam thảo 4g, Đương quy 12g, Hoàng kỳ 16g, Kim ngân hoa 16g, Tạo giác thích, Thiên hoa phấn, Trạch tảû mỗi thứ 12g, Xuyên khung 8g, sắc uống.
*** Tứ Diệu Thang: Cam thảo 6g, Đương quy 16g, Hoàng kỳ, Kim ngân hoa mỗi thứ 20g, Sắc uống.
- Trị khớp đau do cơ thể suy nhược, phong thấp Hoàng Kỳ Quế Chi Ngũ Vật Thang : Bạch thược 120g, Hoàng kỳ 120g, Quế chi 120g, Sinh khương 240g, Đại táo 12 trái.
- Trị các chứng suy nhược mạn tính do tỳ khí hư nhược, mệt mỏi kém ăùn hoặc các chứng tiêu chảy kéo dài, rong kinh, sa tử cung, sa trực trường Bổ Trung Ích Khí Thang: Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Đương qui mỗi thứ 12g, Thăng ma 4g, Sài hồ, Trần bì mỗi thứ 6g, Cam thảo 4g, sắc nước uống, thuốc có tác dụng bổ khí, thăng dương.
- Trị trực trường sa, lòi dom: Dùng Hoàng kỳ 30-50g phối hợp với Đan sâm 15g, Sơn tra nhục 10g, Phòng phong, Thăng ma mỗi thứ 3g, sắc nước uống mỗi ngày l thang, dưới 3 tuổi giảm liều. Nếu có lòi ra ngoài, thêm Thuyền thoái, Kinh giới (than), Băng phiến tán bột trộn với Hương dầu bôi trị sa trực trường.
Liều lượng và chú ý lúc dùng: liều thường 10 - 20g, dùng liều cao có thể từ 30 đến 160g.
- Thuốc mật sao có tác dụng ôn trung, chủ kiện tỳ.
- So với Nhân sâm và Đảng sâm, Hoàng kỳ thiên về bổ khí ở cơ biểu, dùng tốt đối với chứng biểu hư còn Nhân sâm (Đảng sâm) bổ khí của ngũ tạng chủ yếu bổ lý hư nên kết hợp dùng càng tốt.
- Không dùng trị suyễn do suy tim.
- Không nên dùng trong trường hợp huyết áp cao vì thuốc có tác dụng thăng dương.
- Đối với trường hợp rối loạn tiêu hóa nếu bụng trên đầy thuộc thực chứng, dương chứng, không nên dùng.
- Dùng Hoàng kỳ lâu ngày để bớt nóng nên tăng lượng Tri mẫu, Huyền sâm.
Hoàng Mai Yellow Apricot flower
Hoàn Ngọc hay Xuân Hoa - Pseuderanthemum palatiferum, họ Acanthaceae:
các tên khác: cây Nhật Nguyệt, cây con Khỉ, cây Thần dưởng sinh, cây Trắc Mã, cây Điền Tích, cây Lan Điều. Dùng lá tươi là chủ yếu, lá tươi không có mùi vị. Nấu lá chín dùng như canh cũng được. Vỏ hay rể có thể chiết suất làm rượu hoặc nấu lấy nước. Liều lượng nhiều hay ít tùy thuộc vào từng bịnh, từng người. Thông thường nên ăn 1 đến 4 lá, không nên quá 7 đến 9 lá. Nếu quá liều có thể gây phản ứng nhẹ như choáng váng, nhưng chỉ sau 15 phút là khỏi. Cách giữa hai đợt ăn từ 7 tiếng trở lên. Có thể dùng ngày 2 lẩn trước khi ăn cơm, không phải kiêng cử.
Liều lượng: Dùng lá tươi, nam 7 lá, nữ 9 lá, rửa sạch, nhai nuốt, có thể dùng với tí muối. Tùy bịnh nặng nhẹ, và người bịnh già trẻ, lớn nhỏ khác nhau mà dùng từ 2-3 lần trong ngày. Theo dõi kết quả hoặc phản ứng sau khi ăn và sau một đến hai ngày mà thay đổi liều lượng và số lần ăn trong ngày cho thích hợp. Ăn lá vào buổi sáng khi bụng đói khi chưa ăn gì, các bữa ăn cách nhau 60-90 phút. Chú ý sau khi ăn xong, nằm yên tỉnh 15 phút duỗi thẳng chân tay, mắt nhắm không lo lắng, nghĩ ngợi.
Công dụng cây Hoàn Ngọc:
1- Bịnh Ung thư thời kỳ mới phát. Ngày ăn 2 lần hoặc hơn, tùy mức độ giảm đau, ăn thường xuyên người tỉnh táo, ăn ngủ tốt, giảm đau rõ rệt.
2- Bệnh về gan thận: Viêm gan, xơ gan, cổ trướng ăn ngày 2 lần khi đói, hoặc dùng lá khô tán bột, hòa với cây tam thất, 1 liều lượng hai vị bằng nhau, đây là thuốc đặc trị xơ gan cổ trướng, các bịnh viêm thận cấp hoặc mãn tính như suy thận, tiểu ra máu, ăn ngày 2 lần. Sau 15 ngày bệnh thuyên giảm rõ rệt.
3- Các bệnh về tiêu hóa: Như tiêu chảy, kiết lỵ, đau bụng, rối loạn tiêu hoá, đầy hơi … ăn ngày từ 2-3 lần đến khi khỏi. Có thể nấu canh mà ăn, khi đau ruột thừa cần ăn liều lượng cao 15 lá, sau hai tiếng cơn đau dứt. Sau đó nên đem vào bệnh viện để kiểm tra.
4- Bệnh có kèm chảy máu: Tiểu ra máu, chảy máu dạ dày, chảy máu mũi, thổ huyết…ăn từ 2-4 lần trong ngày, có thể sắc thuốc uống hoặc nấu canh ăn, tác dụng như Vitamine K.
5- Tiết niệu sinh dục: Viêm bàng quang, đường tiết niệu, tiểu gắt, viêm sưng, ra máu bộ phận sinh dục.
6- Các u bướu, u phổi, u sơ phì nhiếp hộ tuyến: Cũng dùng như trên sẽ ăn ngủ tốt, riêng u sơ nhiếp hộ tuyến, điều trị đúng 10 ngày của hạ tuần trăng (từ ngày 20-30 âm lịch) phải chữa trong 3 tuần trăng (30 ngày trong 3 tháng).
7- Các bệnh viêm, loét: Viêm loét dạ dày, tá tràng, đại tràng, trĩ nội, trĩ ngoại, ăn liền một tuần, nếu uống rượu bệnh tái phát. Đau răng, viêm lợi, nhai lá với tí muối ngậm 5-10 phút.
8- Điều chỉnh huyết áp: ổn định thần kinh, ăn xong chợp mắt ngủ một lúc, liên tục ăn 5-7 ngày huyết áp cao hoặc thấp sẽ trở lại bình thường; khi rối loạn thần kinh, ăn lá vào buổi sáng, nằm yên tỉnh 15 phút, chiều tối hoặc hôm sau sẽ ổn định.
9- Trị cảm cúm: chấn thương, nâng cao sức đề kháng. Cảm cúm nhức đầu, sốt, cứ 2 giờ là ăn một lần sau khi sốt, ăn cháo nấu với lá người khỏe trở lại. Vết thương kín thì nhai lá đắp, vết thương hở thì giã lá đắp và băng chặt, hoặc uống hoặc ăn cầm máu vết thương, chống viêm nhiễm, lá có tác dụng như kháng sinh và Vitamine K. Khi người cảm thấy mệt mỏi hoặc muốn nâng cao sức chịu đựng trong tập luyện nặng nhọc, nên ăn 5-7 lá trước 30 phút.
10- Trị cho súc vật: Trâu bò, heo, chó mèo, gà vịt, chim bồ câu… bị tiêu chảy, động kinh dùng lá cho ăn, chữa được bệnh, kích thích tiêu hoá và làm tăng trưởng.
11- Điều trị bệnh phụ nữ: Không có ảnh hưởng đến tuyến sữa. Trẻ em thì phải giã lấy nước uống.
Hồng - Rosa caninaHồng Đào - Prunus persica
Hồng Đăng - Fuchsia magellanica Lam
Huệ - Tuberose
Huỳnh Anh (vàng nghệ) - Allamanda schottii
Huỳnh Anh (màu hồng) - Allamanda blanchettii
Hướng Dương - Helianthus annuus:
Toàn bộ các bộ phận của cây hướng dương đều được dùng làm thuốc.
- Hột hướng dương có vị ngọt, tính bình, không độc. Tác dụng tư âm bổ hư, định tâm an thần. Dùng chữa tinh thần uất ức, thần kinh suy nhược, biếng ăn, nhứt đầu, đi lỵ ra máu.
Công dụng của các bộ phận khác:
- Bông hướng dương có tác dụng trừ phong, sáng mắt. Dùng chữa choáng váng, mặt sưng phù, còn dùng để thúc sinh cho phụ nữ.
- Lá có tác dụng tăng cường tiêu hóa và chữa cao huyết áp.
- Lõi thân cành (còn gọi là hướng nhật quỳ ngạnh tâm, hướng nhật quỳ kinh tâm, hướng nhật quỳ nhương) có tác dụng chữa tiểu tiện xuất huyết, tiểu dưỡng chấp, sỏi đường tiết niệu, tiểu tiện khó khăn.
- Rễ cây hướng dương có tác dụng chữa ngực, sườn và vùng thượng vị đau nhức, thông đại tiểu tiện, chữa đòn ngã chấn thương, mụn nhọt lở loét chảy nước vàng.
- Chữa ho gà: Dùng lõi thân và cành cây hướng dương 15-30g, giã nát, nấu trong nước sôi, thêm đường trắng và uống trong ngày (Giang Tây thảo dược thủ sách)
- Chữa cao huyết áp: Dùng lá hướng dương khô 30g (hoặc 60g lá tươi), thổ ngưu tất 30g, sắc nước uống thay trà trong ngày (Giang Tây thảo dược thủ sách).
- Chữa mắt mờ: Dùng hột hướng dương luộc với trứng gà, ăn trứng gà và uống nước thuốc (Giang Tây Thảo dược thủ sách).
- Chữa tai ù: Dùng vỏ hột hướng dương 15g, sắc nước uống thay trà trong ngày (Dân gian thường dụng thảo dược hối biên).
- Chữa thượng vị đau tức do ăn không tiêu: Dùng rễ cây hoa hướng dương, hột mùi, tiểu hồi hương; mỗi vị 6-10g, sắc nước uống (Tứ Xuyên trung dược chí).
- Chữa đau dạ dày, đau bụng: Dùng hột hướng dương 1 cái, dạ dày heo 1 cái, nấu canh ăn (Giang Tây thảo dược thủ sách).
- Chữa kiết lỵ đại tiện xuất huyết: Dùng hột hướng dương (đã bóc vỏ) 30g, hãm nước sôi trong 1 tiếng, pha thêm chút đường phèn uống trong ngày (Phúc Kiến dân gian thảo dược).
- Chữa đại tiện không thông: Dùng rễ cây hoa hướng dương, giã nát, vắt lấy nước cốt, hòa thêm chút mật ong uống; Mỗi lần uống 15-30g, ngày uống 2-3 lần (Tuyền Châu bản thảo).
- Chữa tiểu nhỏ giọt, dương vật đau buốt: Dùng rễ cây bông hướng dương tươi 30g sắc với nước uống. Chú ý: chỉ nấu sôi một vài phút, không nấu quá lâu sẽ mất tác dụng. Hoặc dùng lõi thân và cành cây hướng dương 15g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục trong nhiều ngày (Giang Tây thảo dược thủ sách).
- Chữa sán khí - tinh hoàn sưng đau: Dùng rễ cây hướng dương 30g, sắc với đường đỏ uống (Giang Tây thảo dược thủ sách).
- Chữa sỏi thận, sỏi đường tiết niệu: Dùng lõi thân cành cây hướng dương một đoạn khoảng 1 mét, cắt ngắn, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục trong một tuần (Tô Y Trung thảo dược thủ sách).
- Chữa tiểu dưỡng chấp: Dùng lõi thân và cành cây hướng dương một đoạn khoảng 60cm, rễ rau cần cạn 60g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục trong nhiều ngày (Tô Y Trung thảo dược thủ sách).
- Tuyến tiền liệt phì đại (dạng nhiệt tích ở hạ tiêu): Dùng khay hột hướng dương 1 cái, mật ong lượng thích hợp. Khay hột xắc nhỏ, sắc hai nước, trộn nước đầu và nước hai, thêm mật ong vào cho đủ ngọt. Uống thay trà trong ngày (Thực vật dược dụng chỉ nam).
- Chữa phụ nữ trước hoặc trong lúc hành kinh bụng dưới đau tức: Dùng khay hạt 30-60g, sắc lấy nước, hòa thêm đường đỏ uống trong ngày (Giang Tây thảo dược thủ sách).
- Chữa viêm tuyến vú: Dùng khay hột hướng dương, bỏ hết hột, thái nhỏ, sao vàng, tán thành bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 9-15g, hòa với rượu hoặc nước sôi, khi uống lần thứ nhất ra mồ hôi mới có kết quả (Trung dược đại từ điển).
- Chữa ung nhọt sưng tấy, lở loét: Dùng khay hạt thiêu tồn tính, nghiền thành bột mịn, hòa với dầu vừng bôi vào chỗ bị bệnh (Giang Tây thảo dược thủ sách).
- Ngoại thương xuất huyết: Dùng lõi thân và cành cây hướng dương giã nát, đắp vào chỗ chảy máu (Nội Mông Cổ, Trung thảo dược tân y liệu pháp tư liệu tuyển biên).
- Chữa đau răng:
(1) Dùng bông hướng dương phơi hoặc sấy khô, nhồi vào tẩu thuốc lá, hút như thuốc lá hoặc thuốc lào (Dân gian nghiệm phương tuyển biên).
(2) Dùng khay hạt hướng dương, rễ câu kỷ tử; mỗi thứ 10-15g, luộc với trứng gà, ăn trứng gà và uống nước thuốc (Giang Tây thảo dược thủ sách).
*****
Ích Mẫu - Leonurus heterophyllus, họ Hoa Môi - Lamiaceae:
cây có hai vị thuốc: Ích Mẫu và Sung Úy Tử.
- Ích Mẫu thảo là toàn cây trừ rễ hái lúc cây đang ra bông, phơi khô hoặc sấy khô. Ích Mẫu có tác dụng hoạt huyết, điều kinh, tiêu máu ứ, hành khí, an thai, giảm đau, dùng chữa kinh nguyệt không đều, làm giảm huyết áp. Liều dùng trung bình mỗi ngày 6-12g dạng thuốc sắc, hoặc thuốc viên. Dùng cả cây bỏ rễ, chữa kinh nguyệt bế tắc, đau bụng trước khi có kinh, kinh ra quá nhiều, huyết áp tăng, nhức đầu: ngày dùng 8-16g dược liệu phơi sấy khô dạng thuốc sắc, cao hoàn, viên nén.
-
Sung Úy Tử là trái Ích Mẫu chín, phơi khô hoặc sấy khô. Sung Úy Tử cũng có tác dụng điều kinh hoạt huyết, ngoài ra còn bổ gan, bổ thận, làm sáng mắt.
Bài Thuốc điều trị tăng huyết áp, rối loạn thần kinh tim mạch, làm thuốc an thần: Ích Mẫu thảo 12 g, lá Dâu 12 g, Cam thảo nam 2 g. Sắc uống ngày một thang.
******
Khổ Hoa Momordica charantia
có tác dụng hạ thấp đường huyết, kiện tỳ, bổ dương, tráng thận, bổ máu, giải nhiệt độc, cảm nắng, giảm đau nhứt các khớp xương, hạn chế sự phát triển của tế bào ung thư và kéo dài tuổi thọ của người bịnh ung thư. Vị đắng, tính lạnh, trừ tạng nhiệt, làm sáng mắt, nhuận tỳ, bổ thận, dưỡng can huyết. Toàn bộ dây, trái, lá, hột non và chín đều là vị thuốc rất hữu ích cho cơ thể, ngừa và trị bịnh. Hột khổ hoa có tác dụng an thần, ngủ ngon, kích thích tiêu hóa, hoạt huyết. Khổ hoa sắc mỏng, sấy khô làm trà uống. Khổ hoa tươi 1-2 trái nấu canh ăn hàng ngày chữa bịnh tiểu đường, giảm mỡ máu.
- Trị đường huyết (khởi đầu): 15 g lá khổ hoa chớm già. 15 g lá bí đỏ không quá già. 20 g thân, lá, cây cà chua. Rửa sạch, khử khô (không quá vàng), sắc 800 ml nước còn 150 ml. Ngày uống 3 lần, liền trong 2-3 tuần (khi tiểu không thấy kiến bu thì ngưng).
- Trị đường huyết thời kỳ thứ 2: 5 trái khổ qua lớn khoảng 1,5-2 kg (chưa quá chín), chẻ đôi lấy vỏ, xắt mỏng phơi một nắng, sao khử thổ vàng da cam, cho thêm ¼ muỗng cà phê muối tán nhuyễn trộn đều cho vào hộp thiếc (hoặc nhựa). Liều lượng: 3 muỗng canh hòa tan trong 100ml nước. Uống nhiều lần. Hột khổ qua vừa chín tới ( khoảng 5 trái 800 g) tách vỏ làm trà, hột để nguyên lớp lụa mềm bao bọc, bằm nhuyễn cho vào ½ muỗng cà phê muối, 200 g cà chua sống, xắt miếng nhỏ hột lựu, phơi khô, sao khử thổ cả hai thứ, tán nhuyễn cho vào 3 muỗng cà phê nước cốt một trái lựu (cả vỏ và hột), xe thành viên bằng đầu đũa. Mỗi ngày nhai nuốt 4 lần, mỗi lần 5 viên, liên tiếp từ 4-6 tuần (giúp người tiểu đường, cao huyết áp ăn ngon miệng).
- Trị đường huyết cao, suy nhược cơ thể, hoại huyết: 500 g lá khổ qua già, 500 g cải xà lách xoong, 5 g đường phèn, ½ muỗng cà phê muối, 120-130 g rễ, dây phơi khô. Cả ba thứ sao khử thổ, tán nhuyễn thành bột. Mỗi ngày uống 6 lần (cách 4 giờ/lần) hoặc khi khát.
Khổ Sâm Gentiane, Gentian Sophora flavescens Ait, họ Fabaceae:
Bộ phận dùng: rễ, củ. Hái củ, rửa sạch, xắc lát, phơi khô; hoặc đem củ tươi ngâm nước vo gạo nếp một đêm, rửa sạch, để trong 3 giờ, rồi mới xắc lát, phơi khô. Vị đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, khử thấp, trừ phong, sát trùng. Tác dụng áp chế một số nấm gây bịnh, gây tăng huyết áp, co mạch, lợi tiểu. Khổ sâm là một vị thuốc bổ đắng.
Công dụng:
- Dùng chữa lỵ, chảy máu ruột hoàng đản, tiểu tiện không thông có máu, sốt cao.
- Thuốc diệt lãi và ký sinh trùng cho súc vật. Nước sắc đặc dùng rửa mụn nhọt, lở loét. Ngày dùng 10-12g dạng thuốc sắc, bột hoặc viên chia 3 lần uống trong ngày.
Đơn thuốc:
- Đại tiện ra nhiều máu: Khổ sâm tán bột 12 g, Sinh địa 20 g, nấu nhừ, thêm 10 g mật ong, rồi cho bột Khổ sâm vào, luyện viên bằng hột bắp, chia 3 lần uống trong ngày (với nước nóng).
- Lỵ cấp tính: Khổ sâm 38-57g sắc uống chia làm 3 lần trong ngày.
- Ngứa ngoài da: Dùng nước sắc rễ Khổ sâm để rửa.
- Viêm âm đạo do nhiễm Trichomonas: Dùng bột rắc có công thức: Rễ Khổ sâm 0,5 g, glucose 0,5 g và acid boric trộn đều. Trước tiên dùng dung dịch 1/5000 kali permanganat rửa âm đạo, lau khô, rồi rắc bột Khổ sâm pha chế như trên lên. Mỗi đợt điều trị 3 tháng, có hiệu quả nhất định. Đối với loét cổ tử cung, cũng có tác dụng nhất định. Ngoài ra còn dùng thuốc hình viên đạn, mỗi ngày dùng 1 lần.
- Viêm tai giữa: Rễ Khổ sâm 2 g, băng phiến 0,4 g, dầu Thầu dầu 12 g. Nấu sôi dầu, cho Khổ sâm vào, nấu đến khi cháy đen, lấy ra đợi cho nguội, cho bột băng phiến vào. Rửa sạch mủ tai, rồi nhỏ dầu vào, mỗi ngày 2-3 lần.
Kim Tiền Thảo có 3 loại Herba Desmodium styracifolium - Herba Glechonae longitubae (Hoạt Huyết Đơn) - Lysimachiae christinae (Quá Lộ Hoàng), họ Fabaceae. Tên khác: Vẩy Rồng, Cây Mắt Trâu, Đồng Tiền Lông, Shilington, Thạch Lâm Thông, Bạch Nhĩ Thảo, Thiên Niên Lãnh.
Kim tiền thảo vị ngọt, tính hàn, quy kinh Phế, Can, Bàn quang, có công dụng thanh nhiệt, lợi thủy, lợi niệu, lợi mật, viêm bể thận, viêm túi mật, kháng khuẩn, tiêu viêm, giảm đau, hạ áp, nuôi dưỡng tim, não, thận, kháng sinh, sỏi thận, gan mật kết sỏi, ung nhọt do nhiệt độc. Thường dùng độc vị hoặc hợp với các vị thuốc khác dưới dạng thuốc sắc hoặc hãm uống thay trà, chữa bịnh như viêm đường tiết niệu, sỏi tiết niệu, sỏi mật, phù thũng do viêm thận, vàng da. Kim tiền thảo có tác dụng làm lưu thông máu ở thận, động mạch vành, tuần hoàn não và động mạch đùi. Dược thảo có tác dụng tăng nhanh bài tiết mật, làm tống sạn mật, giảm đau do mật co thắt, hết vàng da.
Loại Lysimachia ức chế tụ cầu vàng. Loại Glechoma ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh.
Liều dùng: 20 - 40 g.
Kiên kỵ: Tỳ hư, tiêu chảy không dùng.
Thu hái vào mùa hè, lúc cây có nhiều lá và bông. Dùng toàn cây, rửa sạch, phơi khô.
* Trị mụn nhọt, ghẻ lở: Kim tiền thảo và Xa tiền thảo tươi giã nát, cho rượu vào, vắt nước cốt, lấy lông ngỗng chấm thuốc bôi lên vết thương.
* Trị sạn mật: Chỉ xác (sao) 10-15g, Xuyên luyện tử 10g, Hoàng tinh 10g, Kim tiền thảo 30g, Sinh địa 6-10g (cho vào sau). Sắc uống.
* Trị sạn mật: Kim tiền thảo 30g, Xuyên phá thạch 15g, Trần bì 30g, Uất kim 12g, Xuyên quân (cho vào sau) 10g. Sắc uống.
*Trị sạn đường tiểu: Kim tiền thảo 30-60g, Hải kim sa (gói vào túi vải) 15g, Đông quỳ tử 15g, Xuyên phá thạch 15g, Hoài ngưu tất 12g, Hoạt thạch 15g, sắc uống.
* Trị sỏi đường tiểu: Kim tiền thảo 30g, Xa tiền tử (bọc vào túi vải) 15g, Xuyên sơn giáp 10g, Thanh bì 10g, Đào nhân 10g, Ô dược 19g, Xuyên ngưu tất 12g. Sắc uống.
* Trị sỏi đường tiểu do thận hư thấp nhiệt: Hoàng kỳ 30g, Hoàng tinh 15g, Hoài ngưu tất 15g, Kim tiền thảo 20g, Hải kim sa (gói vào túi vải), Xuyên phá thạch 15g, Vương bất lưu hành 15g. Sắc uống.
* Trị trĩ: mỗi ngày dùng toàn cây Kim tiền thảo tươi 100g (nếu khô 50g) sắc uống. Đối vi trĩ nội và ngoại đều có kết quả tốt, hết sưng, hết đau.
* Trị đường mật viêm không do vi khuẩn: Kim tiền thảo sắc uống sáng một lần hoặc nhiều lần trong ngày. Mỗi ngày dùng 30g, hoặc 20g hoặc 10g. Liệu trình trị liệu là 30 ngày. Thông thường uống trong 2-3 tháng có kết quả tỉ lệ 77%
* Nước sắc Kim tiền thảo liều cao (trên 80g) thường dùng để trị sạn ở mật hoặc đường tiểu.
* Trị quai bị: đắp Kim tiền thảo lên chổ sưng đau, sau khoảng 12 giờ giảm sưng.
* Trị phỏng độ 2 và 3: đắp Kim tiền thảo
Khương Hoạt Radix Rhizoma notopterygii, họ Hoa Tán Umbelliferae.
羌活.
Rễ cái là Độc Hoạt, rễ con là Khương Hoạt. Khương hoạt mạnh hơn, đi thẳng lên đỉnh đầu, chạy nghang cánh tay trừ phong, chữa tê. Vị đắng, cay, có mùi thơm, tính ôn. Vào kinh Bàng quang, Can, Thận. Khương hoạt trị thủy, thũng. Độc hoạt trị phong. Chủ trị trúng phong, nhức đầu, tán hàn, tán ứ, hành khí, chữa phong thấp, phù thũng, phụ nữ bị đau bụng dưới, bụng tích huyết.
Triệu chứng phong hàn: nghiến răng, sốt không ra mồ hôi, các chứng du phong nhức đầu, đau toàn thân, dùng Khương hoạt với Phòng phong, Bạch chỉ và Thương truật.
Triệu chứng phong hàn thấp: đau khớp, đau vai và lưng trên, dùng Khương hoạt với Phòng phong và Khương hoàng.
Liều dùng: ngày dùng 4-12g. Dùng quá liều gây chóng mặt, muốn ói. Cách bào chế: rửa sạch, để thật ráo, cắt lát mỏng, phơi chổ mát.
Kiêng kỵ: huyết hư mà không có phong hàn, thực tà thì không nên dùng. Không dùng khi bị thiếu máu và nhức đầu do âm suy.
Kim Ngân Hoa- Lonicera japonica, họ Caprifliaceae
Vị ngọt, tính hàn. Vào kinh Phế, Tâm và Tỳ. Thuốc thanh nhiệt, giải độc. Trị lở, mụn nhọt, phong thấp, trị ho do Phế nhiệt.
* Cảm phong nhiệt, triệu chứng sốt, khát, hàn nghịch, đau họng. Dùng Kim ngân hoa với Liên kiều và Ngưu bàng tử.
* Cảm phong nhiệt ở phần khí, sốt cao, khát, mạch Phù, Thực: dùng Kim ngân hoa với Thạch cao, Tri mẫu.
* Cảm phong nhiệt phần huyết và phần doanh, lưỡi trắng lợt hoặc đỏ đậm, lưỡi khô, hồi hộp và mất ngủ: Kim ngân hoa hợp với Mẫu đơn bì và Sinh địa.
* Mụt nhọt độc: dùng Kim ngân hoa hoặc hợp với Bồ Công Anh, Cúc hoa và Liên kiều.
* Tiêu chảy do nhiệt độc: Kim ngân hoa với Hoàng liên và Bạch đầu ông.
Liều dùng: tươi, ngày 20-50g. Khô và ngâm rượu, ngày dùng 12-16g.
Cách bào chế: Bông tươi giã nát, vắt nước, pha thêm nước nấu sôi uống. Bông khô sắc uống hoặc sấy lửa nhỏ cho khô, tán bột. Bông tươi hoặc khô đều có thể ngâm rượu đế 1/5 để uống.
Kiêng kỵ: Tỳ vị hư hàn không thực nhiệt thì không nên dùng.
Kỷ Tử Lycium barbarum.
Các tên khác Goji, Thiên tinh (tinh của trời), Địa tiên (tiên của đất), Khước lão (đẩy lui tuổi già). Tên tiếng Anh: Wolfberry.
Tương truyền, vào đời Đường, tể tướng Phòng Huyền Linh vì dụng tâm quá độ giúp Đường Thái Tông cai quản triều chính nên tinh thần luôn bất an, cơ thể mỏi mệt. Nhờ được thái y cho dùng canh kỷ tử nấu với mộc nhĩ trắng thường xuyên mà sức khỏe và tinh thần của ông dần phục hồi. Kỷ tử là trái chín phơi hay sấy khô của cây Khởi Tử.
Vị ngọt, tính bình, có công dụng tư bổ can thận, dưỡng huyết, minh mục và nhuận phế.
Chỉ cần mỗi ngày lấy 15 g kỷ tử hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15-20 phút thì đã có được một thứ nước màu đỏ đẹp, thơm ngon, vừa có tác dụng giải khát thay trà, vừa có chức năng bổ thận, ích tinh và dưỡng can, minh mục. Loại trà này thường được cổ nhân dùng để bồi bổ cơ thể và tăng sức kháng thể, phòng chống các chứng bịnh như suy nhược toàn thân sau bịnh nặng, đầu choáng mắt hoa, giảm thị lực, lưng đau gối mỏi, nhược dương, di mộng tinh, xuất tinh sớm. Kỷ tử là vị thuốc vào được cả kinh can và thận, một mặt bổ ích thận tinh, một mặt bổ dưỡng can huyết nên có thể chữa được các chứng bịnh như đầu choáng, mắt hoa, nhìn mờ, tai ù, tai điếc, lưng đau, gối mỏi, cao huyết áp, đường trong máu cao, di tinh, liệt dương. Chống phóng xạ và ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.
Thành phần dược tố của Kỷ tử: 0,5% vitamin C (ascorbic acid); 0,1% betaine. Ngoài ra còn có: vitamin A, Beta-carotine; E; B1; B2; nicotinic acid, taurine; tetraterpene zeaxanthin, theamine; physalein; steroid solasodin; beta-sitosterol, polysaccharide; p-cumarin acid; scopoletin, amino acid; protein.
Để nâng cao tác dụng của trà kỷ tử, tùy theo thể chất và chứng trạng, người ta thường thêm một số vị thuốc khác như: Cúc hoa (để làm sáng mắt và chữa nhức đầu, chóng mặt), Mạch môn và Ngũ vị tử (tăng trí nhớ và làm cho tinh thần tỉnh táo), Thảo quyết minh, Đan sâm và Hà thủ ô (bổ can thận và làm hạ mỡ máu), Đương quy và Đại táo (dưỡng huyết, làm tăng hồng huyết cầu trong máu ngoại vi), Toan táo nhân và Ngũ vị tử (dưỡng tâm, an thần), Đông trùng hạ thảo (để bổ thận trợ dương).
*****Lạc Hồn Hoa - Poeticus recurvus, họ Amaryllidaceae. Tên khác: Poeticus Daffodil; Narcissus poeticus; Daffodil "Pheasant's eye"Lạc Tiên - Passiflora foetida, họ Passifloraceae. Các tên khác: Nhãn Lồng, Chùm Bao, dây Nhãn Lồng, dây Lưới, Mắm Nêm, dây Bầu Đường, Mỏ Pỉ; Quánh Mon, cây Lạc; cây Lồng Đèn, Hồng Tiên; Mắc Mát; Tây Phiên Liên, Long Châu quả; passion fruit. Những loài khác cũng được dùng như vị thuốc Chùm Bao là: Chanh Leo (Passiflora edulis, Sims.), Lạc Tiên Tây Forma eduli (tím), Lạc Tiên Trứng Forma flavicarpa (vàng)
Hoạt chất trong cây Lạc Tiên có tác dụng giúp trấn tĩnh, an thần, suy nhược thần kinh, căng thẳng thần kinh (stress) dẫn đến suy nhược tim mạch, cơ thể, chống hồi hộp, mất ngủ, ngủ hay mớ, giải nhiệt, mát gan, chữa chứng nhức đầu, làm giãn và chống co thắt nên dùng chữa chứng đau do co thắt đường tiêu hóa, tử cung, phụ nữ hành kinh sớm.
- Dùng dây và lá sắc uống làm thuốc anh thần, chữa mất ngủ. Lá nấu nước tắm, rửa chữa trị viêm da, mụn mủ, ghẻ ngứa.
- Trái Lạc Tiên vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy, chữa ho do phế nhiệt, phù thủng, giã đắp chữa ung nhọt lở loét. Trái sắc lấy nước uống chữa lỵ
Thường được hợp với các vị thuốc khác.
Cách sử dụng: - Hái đọt non (cả lá, dây, trái) nấu canh ăn vào buổi chiều hoặc trước khi đi ngủ vài giờ, giúp chặn đứng hiệu quả cholesterol tăng bất bình thường, giúp ăn ngon miệng, điều hòa tâm sinh lý.
- Hái Chùm Bao rễ, dây, lá, trái mọc hoang khoảng 5 kg, đem về phơi khô, xắt dài 3 cm, sao khử thổ, tán nhuyển thành bột, pha thêm vào một chén nước cốt trà đen đậm, vò viên tròn cở một đốt của ngón tay út. Ngày uống 3 lần, mổi lần 5 viên, liên tục trong 60-90 ngày, trị mất ngủ.
- Trị Stress dai dẳng, mệt mỏi cơ thể:
300 g Chùm Bao tươi (cả lá, dây, trái) phơi 2 nắng hoặc sao khử thổ vừa vàng.
200 g râu bắp, ngâm sữa, rữa sạch
100 g rau Má, sao khử thổ vừa héo
Sắc chung với 500 ml nước có pha 1/4 muỗng muối hột, còn lại 200 ml nước. Uống 2 lần ngày, trưa và tối. Liên tục 7 ngày sẽ an thần.
- Người lớn tuổi khó ngủ, thường đau nhức; Phụ nữ hành kinh sớm hoặc sau khi mãn kinh dễ giận buồn, có thể dùng đơn thuốc sau:
500 g Chùm Bao (rễ, dây, lá, trái non)
300 g Bông Thiên Lý
100 g lá Mướp Đắng non.
Tất cả sao khử thổ, tán nhuyễn dạng bột, cho thêm 50 g đậu xanh (để vỏ), rang chín, tán nhuyễn. Mỗi ngày pha 3 muỗng canh vào 100 ml nước sôi để nguội. Uống mỗi khi khát. Sau 10 ngày sẽ có kết quả. Bịnh hạ huyết áp dùng đơn thuốc này cũng rất có hiệu nghiệm.
- Bài thuốc anh thần, có tác dụng trợ tim, ngủ êm, dịu thần kinh:
Hột sen 12 g
Lá Tre 10 g
Cỏ Mọc 15 g
Lá Dâu 10 g
Lạc Tiên 20 g
Vông Nem 12 g
Cam Thảo 6 g
Xương Bồ 6 g
Táo Nhân Sao 10 g
Đổ 600 ml nước, sắc còn 200 ml. Uống ngày 1 thang.
- Dạng dùng khác là cao lỏng có đường, được pha chế như sau:
cây Lạc Tiên 50 g
lá Vông 30 g
lá Dâu Tằm 10 g
Nhân Sen (Liên Tâm) 2,2 g
Đường 90 g
nước 100 g
Ngày dùng 2-4 muỗng café. Trẻ em 1-2 muỗng café. Uống trước khi đi ngủ, dùng để an thần, chữa hồi hộp, bồn chồn.
- Trị ho: ngày dùng 3-15 g, dạng thuốc sắc.
- Chữa Phù Thũng, viêm mủ da, ghẻ lở, ngứa, loét ở chưn. Dùng lá Lạc Tiên nấu nước tắm, rửa và giã cành lá tươi để đắp.
Lan Chi - Dianella ensifolia, họ Liliaceae
Lan Ngọc Điểm - Rhynchostylis gigantea
Lạy Ơn - gladiolus
Lão Quan Thảo - Geranium thunbergii Sieb Zuccgeraniaceae, họ Mỏ Hạc Geraniaceae. Tên khác: cây cỏ Quan, Jester's Jacket Geranium. Một dược thảo quý của Việt Nam. Vị đắng, cay, tính bình, quy kinh lạc gan, thận và tỳ. Chứa Carragenin, có tác dụng chống viêm mũi, nhiễm trùng đường ruột, lỵ trực trùng, lỵ amip, viêm ruột cấp và mãn tính. Có bốn công hiệu chính: Trừ phong khử thấp. Hoạt huyết, lưu phong, thông kinh lạc, hai trường hợp này chữa chứng đau tê do phong thấp gây ra. Thanh nhiệt độc, áp dụng chữa trị mụn nhọt. Ngoài ra còn dùng để trị kiết lỵ, ỉa chảy.
Liều lượng dùng: mỗi lần từ 9 - 15 g, sắc nước uống. Có thể bào chế thành dạng cao hoặc ngâm rượu uống. Dùng ngoài da nên dùng với lượng vừa phải.
Bông Lẻ Bạn - Rhoeo spathacea / Tradescantia spathacea, họ Commelinaceae, còn gọi là bông Sò Huyết (oyster plant), Moses-in-the-cradle: Bông dùng làm thuốc trị ho, canh ăn mát, bồi bổ cơ thể suy nhược. Dùng nhiều có độc, triệu chứng đau vùng miệng.
Liên Đài - houseleek
Linh Lan - muguet
Linh Long Thảo - Luzerne - Alfalfa, Medicago sativa, họ Fabaceae. Tên khác: Linh lăng thảo.
Người xưa coi Linh Long Thảo như "vua của cây cỏ", một loại thuốc bổ, hồi phục sức khỏe bậc nhứt. Lực sĩ dùng Linh Long Thảo để tăng thêm sinh lực và sức khỏe dẻo dai. Linh Long Thảo lọc máu, thận, giúp hấp thụ các sinh tố và chất khoáng, Calcium, Protein và các chất dinh dưỡng khác. Chữa bịnh dạ dày bị lở loét. Giúp ăn ngon miệng. Lợi tiểu tiện, dễ tiêu hóa và bồi bổ cơ thể. Giúp người nghiện rượu và ma túy hồi phục. Rễ ăn sâu tới 50 m, nên chứa tới 16 chất khoáng và tất cả các loại sinh tố, đặc biệt là sinh tố A,D,K,U, Calcium, Sắt, Potassium, Phosphore, Chlorophyll. Chứa 8 loại Enzim căn bản giúp cơ thể khỏi bị bịnh ung thư. Là loại cỏ tốt để nuôi bò, dê, trâu.
Loa Kèn - Calla lily (tên tiếng Anh), bộ Liliaceae. Tên khác: Huệ tây, huệ đất, thu thủy tiên, nghệ tây mùa thu, naked lady, autumn crocus, meadow saffron, Cây Bả chó Colchicum autumnale, họ Bả chó Colchicaceae. Là một cây tương tự như huệ đất nhưng đặc biệt nở bông vào mùa thu, cây có chất colchicine là một độc tố. Người bị ngộ độc có triệu chứng như ngộ độc thạch tín (asen), hiện không có thuốc giải. Mặc dù vậy, colchicin vẫn được sử dụng để điều trị bịnh gout (viêm khớp xương) và bịnh sốt Địa trung hải / FMF familial mediterranean fever.
Có cách phòng ngừa cũng như trị bịnh gout rất dễ dàng và không cần đến chất độc colchicin: uống black Cherry concentrate một loại nước trái cây đậm đặc (100% pure & natural, no preservatives) chai 475ml (không phải sirô) pha nước tỷ lệ 5 nước: 1 cherry juice dùng trong ngày và kiêng các món ăn có uric acid, uống nhiều nước thì sẽ khỏi bịnh lâu dài. Black Cherry tên khoa học Padus serotina synonym Prunus serotina, thuộc họ hồng Rosaceae.
Nên ăn nhiều rau cải, trái cây. Uống nhiều nước lọc hoặc trà xanh để thải acid uric ra ngoài.
Ngoài ra không nên ăn hoặc giảm bớt:
- Những thứ thức ăn từ đồ lòng của thú vật: tim, gan, óc, thận, lòng, mề.
- Tránh ăn sò, ốc, thịt
- Tránh đồ ngọt và tất cả các loại hột, trừ hột hạnh (almond)
- Tránh đường hóa học (artificial sweeteners)
và dấm
- Tránh uống bia, rượu, trà đen, café vì chúng cản trở sự loại bỏ acid uric khỏi cơ thể.
- Tránh uống nước ngọt có soda (sũi bọt) như coca cola, limonade, v.v..
- Tránh mập vì cân lượng nặng, các khớp xương phải chịu nhiều sức ép.
Long Nhãn - Euphoria Longana; 學 名
Bổ huyết, dưỡng tâm an thần, bổ tỳ, kiện vị. Chủ trị các chứng thiếu máu, suy nhược cơ thể, mệt mỏi, mất ngủ, hay quên, tim hồi hộp, loạn nhịp, ăn uống tiêu hóa kém. Liều dùng 4-16g.
Món ăn - bài thuốc có long nhãn
Bài 1: Cháo long nhãn dùng cho người huyết hư, để bổ huyết, kiện tỳ, dưỡng tâm, an thần: Long nhãn 16g, đại táo 15g, ngạnh mễ (gạo tẻ) 100g, nấu cháo ăn thường xuyên mỗi ngày một thang, ăn liên tục vài ba tuần.Bài 2: Tác dụng ít khí huyết, bổ thận, dùng long nhãn 16g, hoài sơn 16g, giáp ngư 500g. Giáp ngư bỏ ruột, cắt thành miếng rồi đem hầm với 2 vị thuốc trên, khi chín nhừ nêm gia vị vào, ăn thịt và uống nước.Bài 3: Bổ can, thận, ích khí huyết dùng câu kỷ tử 12g, long nhãn 12g, hoàng tinh 12g, đường kính 50g, trứng chim bồ câu 4 trứng. Lấy ba vị thuốc đem rửa sạch, xắc nhỏ, bỏ vào nồi thêm 3 chén nước nấu sôi, sau 30 phút đập trứng chim bồ câu vào, chia đều uống làm hai ngày, mỗi ngày một lần, trong vài tuần.
Bài 4: Bổ ích khí huyết, dưỡng tâm an thần: Long nhãn tươi 300g, đường kính trắng 500g, hai thứ bỏ vào chưng kỹ, để nguội cho vào chai kín. Mỗi lần ăn 12-16g, ngày 2 lần.
Bài 5: Bổ huyết, điều trị chứng thiếu máu, cơ thể suy nhược, thể trạng mệt mỏi, đoản hơi: Long nhãn 16g, đương quy 12g, hoàng kỳ 12g, thục địa 16g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 lần, uống ấm.
Bài 6: Tác dụng an thần, trị chứng mất ngủ, trí nhớ suy giảm, hay quên, lo nghĩ quá nhiều dẫn đến tâm hồi hộp, loạn nhịp, hoa mắt, chóng mặt dùng long nhãn 16g, câu đằng 12g, toan táo nhân 10g, thục địa 16g.
Bài 7: Trường hợp tỳ hư, ăn uống tiêu hóa kém, không ngon miệng dùng bạch truật 12g, hoài sơn 12g, long nhãn 12g, ý dĩ nhân 10g, liên nhục 10g, phục thần 12g, cam thảo 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 8: Để ích khí bổ huyết, kiện tỳ, dưỡng tâm dùng bài Quy tỳ thang: Nhân sâm 10g, bạch truật 12g, hoàng kỳ 12g, long nhãn 12g, toan táo nhân 12g, phục thần 12g, viễn chí 8g, mộc hương 6g, cam thảo 8g. Sắc uống ngày một thang chia 2-3 lần, uống khi thuốc còn ấm.
Long Thủ, Rồng Nhả Ngọc, Cửu Long Nhả Ngọc - Justicia brandegeana, Beloperone guttata
Lục Bình - Water hyacinth, Eichhornia crassipes, họ Pontederiaceae. Các tên khác: Đại thủy bình, Bố đại liên, Bèo tây
Lược Vàng - Callificia frangranx, Commelinaceae:
trị viêm họng, cứng cơ, bịnh đại tràng, dạ dày, thông đại tiểu tiện, cầm máu, sỏi thận, bịnh tim mạch, tai biến não, u, bướu, cảm hàn, tê liệt chân tay
Lưỡi Mèo (vàng) - Sanseviera trifasciata, họ AgavaceaeLưu Ly Thảo - Forget me not - Myosotis, họ Boraginaceae
cây Lựu Bạch, tên khoa học Punica granatum L., thuộc họ Lựu Punicaceae. Tên khác Bạch Lựu, Thạch Lựu, Tháp Lựu. Tên tiếng Anh: Granate Apple; tiếng Pháp: Pomegranate; tên Tàu: Thạch Lựu Mộc 石榴木; Bạch Lựu 白榴
Mùa hè cây Lựu nở bông màu trắng hoặc đỏ tươi. Trái to cỡ nắm tay, vỏ dày, ngoài da có sắc xanh lá cây, khi chín có màu vàng đỏ lốm đốm. Bên trong trái có 8 ngăn xếp thành 2 từng. Lựu chứa nhiều natri, vitamin B2, sinh tố B, niaxin, vitamin C, canxi và phosphor. Chất polyphenol trong trái lựu không những làm giảm quá trình oxy hóa hủy hoại tế bào não mà còn ngăn chặn sự tích tụ protein A-beta hình thành mảng bám trong não làm bịnh Alzheimer tiến triển. Nước lựu ép uống từng được chứng minh có lợi trong việc phòng ngừa một số bịnh như ung thư tiền liệt tuyến, cao huyết áp.
Bộ phận dùng: vỏ thân, vỏ rễ, bông, trái. Dùng tươi hoặc lột vỏ phơi khô dùng. Công dụng: vỏ rễ và vỏ thân: tẩy sán dây (sán xơ mít). Bông chữa kiết lỵ ra máu. Trái chữa tiêu chảy.
- trị bịnh Kiết: đọt lựu bạch đâm, vắt lấy nước cốt 1 ly nhỏ, cho chút muối bọt, uống sẽ cầm ngay (theo Nam y thần dược).
- trị nấc cụt: rễ cau vàng, rễ cau đỏ, rễ dừa lửa, rễ lựu bạch, bốn thứ bằng nhau, sao khử thổ. Sắc 1 chén rưỡi ờn lại nữa chén. Khi uống cho chút đường cát trắng vô, uống nội trong 1 ngày sẽ hết bịnh (theo Nam y thần dược).
- trị bịnh đường ruột, truyền nhiễm như Kiết lỵ (bịnh nhân đau bụng, mắc tiêu nhưng có lần đi được có lần không, đi ra chất nhầy có lẫn máu, mùi tanh hôi. Nguyên nhân gây bịnh là ăn uống thiếu vệ sinh hoặc sống trong vùng có dịch, có thể dùng bài thuốc: Mơ tam thể (sao), Anh túc xác, vỏ Lựu bạch (sao vàng), Cở Sữa (sao vàng) mỗi thứ 12g, Hoàng đằng 20g. Các vị tán thành bột, uống với nước trà.
- trị bịnh Sản (Bạch hốn trùng): 1 lượng rễ cây Lựu bạch; 1 lượng Binh lan; 5 chỉ Xiêng đại hoàng. Sắc 2 chén còn 8 phân, đem phơi sương đến 4 giờ sáng, người bịnh để bụng đói uống.
- trị sán dây: lấy 30-40g vỏ rễ tươi hoặc vỏ thân tươi xắt nhỏ ngâm vào 750ml nước trong 6 giờ, sắc còn 500ml, lọc bỏ bã, uống buổi sáng lúc đói, chia 2-3 lần cách nhau nửa giờ uống một lần. 2 giờ sau khi uống thuốc, dùng 1 liều thuốc tẩy magiêsulfat. Khi muốn đại tiện thì ngồi ngâm đít vào 1 chậu nước ấm cho sán ra hết cả thân đầu mới được. Trẻ em và phụ nữ có thai không được điều trị bằng bài thuốc này.
- trị bịnh kiết lỵ, đại tiện ra máu, mũi chảy máu: bông lựu 5g, rau má 30g, rau sam 50g, bông kim ngân 30g, cỏ lọ nồi 30g, rễ cúc áo bông vàng 10g. Tất cả dùng tươi, rửa sạch, cắt nhỏ nấu với nước rồi cô thành cao lỏng, trộn với xirô tỉ lệ 1:1.
Trẻ em 5-10 tuổi, uống 1-2 muỗng cà phê.
10-15 tuổi, uống 3 muỗng cà phê.
trên 15 tuổi, uống 6 muỗng cà phê.
- trị tiêu chảy: vỏ hột lựu 15-20g, sắc với 400ml còn 100ml, thêm ít đường vào uống 1 lần, uống từ 7-10 ngày.
- Trị dời leo: lá cây lựu giã nát đắp lên vết dời leo.
- Trị đau răng: rễ cây bạch lựu xắt nhỏ, tẩm nước muối và rượu sắc thật đặc, ngậm một hồi sẽ hết đau răng.
- Trị đau bụng, ói mửa: trà tàu, gừng sống, vỏ lựu, quế khâu, phân cho đều, để vô siêu, sắc 3 chén còn 1 chén, uống sẽ cầm ngay.
****
Maca - Lepidium meyenii, họ Brassicaceae. Các tên khác: mace, pepper grass, pepper weed.
Giúp con người nâng cao thể trạng, sức bền, năng lượng, tăng khả năng tình dục và sinh sản. Thảo dược "mạnh" hơn cả Viagra.
Maca là một loại cây có rễ giống như một củ cải, thân ngắn và nằm dọc theo mặt đất, chỉ có mỗi chóp đầu cong lên. Maca mọc nhiều ở vùng khí hậu ẩm ướt trên dãy núi Andes Peru.
Chừng 2000 năm trước đây, người dân Inca vùng cao nguyên đã bắt đầu sử dụng Maca làm lương thực và thuốc chữa bịnh. Trong suốt thời kỳ hưng thịnh của đế chế Inca, các chiến sĩ Inca thường xuyên sử dụng Maca trước khi bước vào trận quyết chiến, có được nó, họ sẽ trở nên mạnh mẽ hơn rất nhiều. Nhưng sau khi chinh phục được thành trì, một điều lạ là các chiến sĩ này bị cấm tuyệt đối dùng Maca, lý do là nếu có chút men của maca, các chiến sĩ sẽ khó lòng kiềm chế nổi mình trước hàng ngàn các thiếu nữ xinh đẹp nằm trong thành trì đó. Cho nên, để bảo toàn lực lượng, không một chỉ huy nào cho phép binh sĩ sử dụng Maca ngoài mục đích chiến đấu.
Mã Đề - Plantago major, họ Mã đề Plantaginaceae, bộ Hoa môi Lamiales. Tên khác: Xa tiền thảo (lá), Xa tiền tử (hột), bông Mã đề, leaved plantain, ripple grass, plantain ribwort, plantain des oiseux.
Chi Mã đề là một chi bao gồm khoảng 250 loài. Việt Nam có 3 loài, trong đó có Plantago major, Plantago asiatica (Mã đề Á hay Xa tiền). Lá Mã đề có vị ngọt lạt, tính mát. Hột có vị ngọt lạt, nhớt, tính mát. Vào kinh: Can, Phế, Thận, bàng quang, Tiểu tràng. Có tác dụng thanh nhiệt, giả độc, mát máu, cầm máu, lợi phế, tiêu thũng, thông tiểu tiện, tiểu dắt, làm sạch phong nhiệt tại gan, phổi, long đờm, kháng trùng, chống cũng như làm diệu viêm nhiễm. Dùng chữa ho lâu ngày, viêm phế quản, viêm thận và bàng quang, bí tiểu tiện, tiểu tiện ra máu hoặc ra sỏi, đau mắt sưng đỏ nước mắt chảy nhiều, nhức mắt, tiêu chảy, lỵ, chảy máu cam, ra nhiều mồ hôi. Dùng cả cây, lá và hột (bỏ rễ).
- Mỗi ngày uống 10 - 20g toàn cây hay 6 - 12g hột, dưới dạng thuốc sắc. Khi dùng làm thuốc ho cho trẻ em, Mã đề có nhược điểm là gây đái dầm.
- Lá Mã đề để tươi, giã nát, đắp bên ngoài làm mụn nhọt mau bễ và mau ra da non, các chỗ lở loét nhỏ mau lành. Có ích lợi đối với các vết cắn của côn trùng, khi bị phát ban.
- Trị phỏng, lấy cao đặc của Mã đề đắp lên vết thương băng lại, mỗi ngày thay một lần.
- Mỗi lần 5 - 15g nước ép hoặc nước hãm cây mã đề dùng chữa vết thương, viêm phế quản mạn tính, viêm màng phổi, chảy máu.
- Hột mã đề 3 - 8g sắc uống chữa tiểu tháo đường, khó tiêu, ho và bịnh vô sinh ở nam và nữ.
- Vỏ khô của hột mã đề đặc biệt của Platago psyllium và Plantago ovata nở ra khi gặp ẩm, nghiền vỏ thành bột, dùng làm thuốc nhuận trường, trị táo bón. Liều thông thường, uống hai lần trong ngày, mỗi lần 3,5 g. Vỏ dưới dạng bột được dùng với lượng 7g mỗi ngày để điều chỉnh lượng đường trong máu, và điều trị chứng cao cholesterol.
- Chữa chứng phổi nóng, ho dai dẳng: lấy khoảng 20g - 50g (một nắm) rau mã đề tươi, rửa sạch, cho vào siêu, đổ nước nửa nồi, sắc lửa nhỏ còn 1 chén) chia làm 3 lần uống hết trong ngày, cách 3 giờ uống một lần, uống lúc còn nóng. Khi đang dùng phương thuốc này, cần kiên ăn các thức cay nóng như tiêu, ớt, đồ chiên và tôm cua cá biển.
- Chữa chảy máu cam: hái một nắm lá mã đề tươi, rửa sạch, giã nát, tẩm thêm chút nước, vắt nước cất uống. Người bịnh nằm yên trên giường, gối đầu cao. Bã mã đề đắp lên trán. Nếu chảy máu nhiều cần lấy bông gòn sạch đút vào mũi bên chảy máu. Uống khoảng vài ngày sẽ khỏi.
- Chữa chứng nóng gan mật và nổi mụn: lấy một nắm mã đề tươi rửa sạch, nấu với một miếng gan heo to khoảng bàn tay, hai thứ xắt nhỏ, cho mắm muối vừa ăn để dùng vào bữa cơm trưa, dùng liên tục 6 - 7 ngày sẽ khỏi. Có thể lấy một ít rau mã đề tươi giã nhuyễn đắt lên nơi có mụn, lấy băng đắp lại. Khi dùng thức ăn này cần kiêng các thuốc cay nóng, không được uống rượu, café.
- Chữa đau mắt đỏ: một nắm to mã đề, rửa sạch, để ráo nước, xắt sợi nhỏ, nấu với 2 con cá diếc to cỡ bàn tay, nêm vừa mắm muối, ăn liền 3 ngày như vậy, đồng thời lấy một ít mã đề tươi, rửa sạch, để ráo nước, giã với muối nhuyễn cho vào vải sạch mỏng đặt nhẹ bên ngoài mắt. Cần kiêng các thức ăn cay nóng.
- Chữa bí tiểu tiện: 12g hột mã đề sắc uống nhiều lần trong ngày. Có thể sắc cùng với một ít lá mã đề uống cũng tốt.
- Chữa viêm phế quản: mỗi ngày 6 - 12g hột mã đề hay dùng cả cây sắc uống nhiều lần trong ngày.
- Chữa lỡ loét nhiễm trùng: 12g mã đề, kim ngân hoa 12g, sài đất 12g, lá cối xay 12g, 900ml nước, sắc còn 300ml, chia làm 2 - 3 lần uống trong ngày.
- Chữa ghẻ lở ở trẻ em: một nắm rau mã đề tươi, rửa sạch, xắt nhỏ, nấu với 100g đến 150g giò heo, cho trẻ ăn liền trong nhiều ngày sẽ khỏi. Nếu trẻ ăn canh này thường xuyên sẽ ngừa được ghẻ lở.
- Chữa nhiệt lỵ: mã đề, dây mơ lông, cỏ seo gà mỗi thứ 20g, sắc uống trong ngày. Chữa trẻ sơ sinh bị ướt rún: lấy một ít hột mã đề, sao cháy sém, tán thành bột, rắc lên rún bị ướt.
- Chữa đau lưng do thấp: 7 cây rau mã đề (để rễ), hành tăm (échalote) cả củ và rễ, gốc. Táo tàu 7 trái, rượu ngon 1 - 2 lít, nấu chung để uống dần.
- Chữa sốt xuất huyết: 50g mã đề tươi, củ sắn dây 30g, 1 lít nước sắc còn 500ml chia làm 2 lần uống lúc đói trong ngày, cách 1 ngày uống 1 lần, liên tiếp 3 lần.
- Chữa vàng da: một nắm to hột mã đề, bỏ vỏ ngoài, sao qua, tán thành bột, ngày uống nhiều lần bột mã đề với nước cơm hoặc nước nấu chín để còn ấm. Uống liền vài ngày sẽ có hiệu nghiệm.
- Chữa tiểu tiện ra máu: Một nắm to rau mã đề, rửa sạch giã nát, vắt lấy nước cốt uống lúc đói. Có thể thêm cỏ mực hai thứ lượng bằng nhau, cũng làm như trên và uống lúc đói trong vòng vài ngày sẽ có hiệu quả.
- Chữa tiểu ra máu, cơ thể nóng ở người già: hột mã đề một nắm, giã nát, bọc vào khăn vải sạch, đổ 2 chén nước, sắc còn 1 chén, bỏ bã, đổ vào nước đó 3 nắm hột kê (tiếng anh gọi là Millet Seeds) nấu thành cháo ăn khi đói. Ăn nhiều mắt sáng, làm người mát.
- Chữa bí tiểu tiện ở người già: lấy cành và lá mã đề, rửa sạch giã nát, vắt một chén nước hòa một ít mật ong, uống sẽ có tác dụng ngay.
- Trẻ bị sởi gây tiêu chảy: hột mã đề, sao qua, sắt uống. Nếu bí tiểu tiện thì thêm mộc thông, có thể dùng hột mã đề với rau dừa nước lượng bằng nhau, sắc uống nếu không có mộc thông.
- Chữa ngứa, đau ở bộ phận sinh dục: một nắm to hột mã đề nấu nước ngâm rửa thường xuyên sẽ khỏi.
- Chữa chứng lạnh cửa mình: 200 - 300g hột mã đề, bỏ vỏ ngoài, sao lên, tán thành bột, mỗi lần uống khoảng 4g, ngày uống 2 lần.
Kiêng kỵ:
- Phụ nữ có thai dùng nên thận trọng.
- Người già thận yếu, tiểu đêm nhiều không nên dùng.
- Các trường hợp âm hư mà không thấp nhiệt, đi tiểu quá nhiều, táo bón.
Mai Tây / Mai Mỹ / Mai Anh - Forsythia suspensa, họ Oleaceae
Mai Tứ Quí Ochna serrulata - Ochna atropurpurea, họ Ochnaceaẹ Tên khác: Mouse Plant
Măng Cụt Garcinia mangostana, họ Bứa Clusiaceae. Tên khác: Mangoustan (Pháp); Mangosteen (Anh)Mao Căn - rễ cây Cỏ Tranh Imperata cylindrical, họ Poaceae. Các tên khác: Bạch Mao Căn, Mao Thảo Căn.
Thuốc được lấy thân rễ phơi hay sấy khô. Sử dụng làm thuốc lương huyết, chỉ huyết. Vị ngọt, tính hàn, đi vào các kinh tâm, phế, tỳ, vị và bàng quang. Tác dụng thanh nhiệt, tiêu ứ huyết, lợi tiểu tiện. Chủ trị các chứng như nục, khái huyết, thổ huyết, tiểu ra máu, chảy máu mũi, suyễn. Dùng trung bình mỗi thang thuốc cho mỗi ngày là 12-40g. Dùng tươi lượng gấp đôi, có thể sử dụng liều cao tới 250-500 g tùy theo mục đích trị liệu. Khi dùng tươi có thể giã nát lấy nước cốt uống, còn sao cháy thì chỉ sử dụng khi cần cầm máụ Với những người hư hỏa hay không thực nhiệt cũng kiêng dùng.
Mẫu Đơn, Thược Dược - Peony - Pfingstrose - Paeonia
Mẫu Tử, tên khác: Quyến Khách, Lục thảo, Lan bò lan - Chlorophytum elatum, họ tỏi rừng Asphodelaceae. Tên tiếng Anh: green spider plant. Cây trồng làm cây cảnh hoặc toàn cây cũng được dùng làm thuốc chữa ho, khan tiếng. Dùng ngoài giã đắp trị đòn ngã tổn thương, mụn nhọt và viêm mủ da.
Mắc Cở - Tickle me plant Mimosa pudica. Còn gọi là cây xấu hổ, cây trinh nữ.
Vị ngọt, tính hơi hàn, có độc nhẹ. Có tác dụng an thần, dịu cơn đau, chống ho, long đờm, tiêu viêm, thanh nhiệt, hạ sốt, lợi tiểu.
Chủ trị: suy nhược thần kinh, mất ngủ, viêm phế quản, viêm gan, viêm dạ dày, phong thấp tê bại, bịnh thống phong (gout), sốt, cao huyết áp.
Liều dùng: 10 - 25g / ngày.
Mắt Biếc - Torenia
Cây Móng Bò - Bauhinia blakeana, họ Đậu Fabaceae. Tên khác: Lan hoàng hậu Bauhinia purpurea Linn., Móng bò tím. Vỏ chát, rễ có tác dụng lợi trung tiện.
Cây lá Móng tay - Lawsonia inermis L., họ Tử vi Lythraceae. Tên khác: cây thuốc Mọi, móng tay nhuộm, lá Móng, Lựu mọi, thuốc Mọi lá lựu, Chỉ giáp hoa, Phương tiên hoa, Tán mạt hoa, Khau thiên. Lá cây lá Móng tay có tác dụng hoạt huyết, tán ứ, sát trùng. Dùng chữa bịnh ngoài da như lang beng, ghẻ lở, mụn nhọt. Ngoài ra dùng chữa tiêu chảy, bại liệt, trừ sán, điều kinh, trị viêm họng. Do lá có tính chất nhuộm màu nên được dùng trong dầu gội đầu, thuốc nhuộm tóc.
* Chữa tê bại, đi lại khó khăn do chấn thương cột sống hoặc té ngã:
toàn Cây lá Móng tay sao vàng hạ thổ 30g
Cốt toái bổ cạo sạch lông, sắc mỏng, phơi khô 20g
Ngũ da bì 12g
Cẩu tích đốt cháy hết lông 12g
Cam thảo 8g
Sắc với 1lít nước còn 200ml, chia 3-4 lần uống trong ngày.
* Sau khi sốt rét vàng da, sưng lá lách, đau tức hạ sườn:
Cây lá Móng tay khô, sao vàng hạ thổ 20g
Cỏ mực khô, sao vàng hạ thổ 16g
Rau má khô, sao vàng hạ thổ 16g
Sắc với 600ml nước còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liên tục 30 ngày. Trẻ em dùng 1/3 liều.
* Lang beng, ghẻ lở toàn thân, chảy mủ hôi thúi:
Lá tươi cả ngọn lá, 1 nắm lớn
Nấu nước tắm hàng ngày, liên tục 10-15 ngày.
Lá móng tay tươi rửa sạch, để ráo nước, giã nhuyễn, trộn với dấm nuôi thoa nơi bị lở ngứa. Ngày 1-2 lần.
Mộc Qua Cydonia oblonga, chi Cydonia. Mộc Qua Trung Quốc Pseudocydonia sinensis, chi Chaenomeles. Tên khác: Xá lỵ, Quitte
Chaenomeles speciosa - Mộc qua kiểng Tàu, bông màu hồng đậm đến đỏ, bụi cao trung bình 3m, thường được trồng làm hàng rào, thích nơi có nhiều nắng hoặc nữa bóng mát. Bông nở vào tháng 4, tháng 5.
Chaenomeles japonica - Japanese quince - Mộc qua kiểng Nhựt, bông đỏ, cao trung bình 1m-2m.
Chaenomeles speciosa Nivalis - Mộc qua kiểng, Mộc qua cảnh, mọc thành bụi, cao trung bình 2m đến 3m, lá xanh lá cây đậm, bông màu trắng nở vào mùa xuân tháng 3 tháng 4, trái vàng/xanh lá cây.
Mộc Lan Magnolias
Mộc Thông Akebia trifoliata Thumb, họ Lardizabalaceae.
Còn gọi là Tam Diệp Mộc Thông, là thân khô của cây Mộc Thông. Trái tiếng Anh: Big Purple. Cây xuất xứ từ Nhựt, có thể cao từ 10m đến 12m, bông nở vào tháng Năm.
Vị đắng, tính hàn, vào 4 kinh: tâm, phế, tiểu tràng, bàng quang. Tác dụng lợi tiểu, lưu thông khí huyết, làm hạ sốt. Dùng chữa các chứng tiểu tiện khó khăn, mạch máu tắc nghẽn, tắc tia sữa, bế kinh. Dùng ngày 5-10 g sắc uống. Bài thuốc dùng thông tuyến sữa sau khi sanh: Mộc thông 10 g, một cặp chân heo nấu nhừ, ăn cả cái và nước, có thể cho thêm ít gạo nấu cháo.
Trái ăn, lá dùng làm trà, có tác dụng: lợi tiểu, chống viêm, giúp thông kinh nguyệt. Ngoài ra Thông mộc được cho là chữa được sỏi thận, chữa trị ung thư có hiệu quả. Ở bên tàu, Diệp mộc thông được xếp hạng thứ 13 trong số các dược thảo dùng để ngừa thai.
Mồng Gà - Cockscomb / Celosia
Môn Xanh - Philodendron, họ Araceae
Mua - Pink LasiandraMù U, cây Đồng Hồ - Balsamia inophyllum loureilloMỹ Nhân - California Poppy
***
Ngò Gai - Eryngium foetidum, Sawtooth Coriander, tàu: Dã Nguyên Tuy:
trị hôi miệng, kích thích tiêu hóa, giải khí trướng. Bài thuốc trị hôi miệng: lấy một nắm ngò gai sắc lấy nước đặc, thêm vào chút muối làm nước súc miệng, khò họng nhiều lần trong ngày, sau khoảng 5-6 ngày là có công hiệu.
Ngô Đồng - họ Firmiana simplex L., Sterculia platanifolia, họ Trôm Sterculiaceae. Tên khác: 梧桐, Chinese parasol tree (người Anh), Pheonix tree (cây phượng hoàng), Sterculia à feuille de platane (tiếng Pháp). Hột Ngô đồng ăn được, trái nhỏ như hột tiêu.Ngô Thù Du - Evodiae rutaecarpae. Các tên khác: Ngô Thù, Thù Du, Wu Zhu Yu 吴茱萸 Fructus evodiae là trái của Ngô Thù Du hay còn gọi là Thù Du Tử
Vị cay, đắng, tính nhiệt, có độc ít. Qui kinh Can, Tỳ Vị. Có tác dụng tán hàn hành khí, táo thấp chỉ thống, sơ can hạ khí, ôn trung chỉ tả, dùng ngoài, thuốc có tác dụng dẫn hỏa đi xuống. Chủ trị các chứng: ợ chua, muốn ói, hàn thấp tiết tả, kiết lị, cao huyết áp.
- Ngô thù với tinh dầu thơm có tác dụng kiện vị trừ phong và ức chế các loại men không bình thường ở ruột, có tác dụng cầm ói, dùng với Sinh khương tác dụng mạnh hơn.
- Ngô thù có tác dụng giảm đau tương đương với Antipyrine.
- Tác dụng hạ huyết áp: thuốc làm giãn mạch ngoại vi, làm giảm lực cản của mạch ngoại vi và phóng histamin. Dùng băng dính có bột Ngô thù du trộn dấm lòng bàn chân có tác dụng hạ áp trong vòng 12 - 24 giờ.
- Tác dụng đối với cơ trơn: Thành phần Rutamine được chế từ Rutaecarpine có tác dụng kích thích co thắt tử cung.
- Thuốc sắc Ngô thù có tác dụng lợi tiểu.
- Tác dụng kháng khuẩn: thuốc sắc có tác dụng ức chế mạnh khuẩn. Thuốc còn có tác dụng ức chế các loại trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu khuẩn, một số nấm ngoài da, một số ký sinh trùng như: sán đũa, Hirudo (đỉa) và sán đất.
- Tác dụng điều hòa nhiệt: có tác dụng hạ nhiệt nhẹ, thuốc sắc cũng có tác dụng tương tự.
- Độc tính của thuốc: liều cao Ngô thù du có tác dụng kích thích thần kinh trung ương gây rối loạn thị giác và hoang tưởng (hallucination).
Trị ói do vị hàn khí nghịch:
- Ngô thù tán bột mịn, mỗi lần uống với nước sôi ấm 2 - 5 g.
- Ngô thù, Gừng nướng lượng bằng nhau tán bột mịn, mỗi lần uống 3 - 5 g với nước sôi ấm. Trị ói kèm đau bụng, ợ chua.
- Ngô thù du thang: Ngô thù 5 g, Đảng sâm 黨參 10 g, Đại táo 10 g, Gừng tươi 20 g, sắc uống ấm.
Trị các chứng đau do hàn như nhức đầu, đau bụng, đau cước khí:
- Ngô thù du thang: như trên.
- Tả kim hoàn (Đơn khê tâm pháp): Hoàng liên (tẩm nước gừng sao) 6 phần, Ngô thù du (ngâm nước muối) 1 phần, sấy khô tán bột mịn làm hoàn. Mỗi lần uống 3 - 6 g. Trị viêm dạ dày mạn, đau bụng kèm đau sườn ngực, nôn, ợ chua, miệng đắng.
- Ngô thù thang: Ngô thù 4 g, Bình lang, Mộc qua đều 10 g, sắc uống ấm. Trị đau bụng đầy do hàn, cước khí.
- Đạo khí thang: Ngô thù 4 g, Tiểu hồi 3 g, Mộc hương 5 g, Xuyên luyện tử 10 g, sắc uống ấm. Trị đau bụng quặn từng cơn.
Trị miệng lỡ: dùng bột mịn Ngô thù du gia giấm vừa đủ làm thành hồ cho vào miếng vải bó vào huyệt Dũng tuyền và vùng 1/3 trước lòng bàn chân, 24 giờ sau lấy ra.
Giúp tiêu hóa nhanh: Ngô thù du, Mộc hương đều 2 g, Hoàng liên 1 g, sấy tán thành bột trộn đều chia 3 lần uống trong ngày.
Bìu dái chảy nước ngứa ngáy: Ngô thù du sắc nước rửa.Trị nhức răng: Ngô thù du ngâm rượu, ngậm một lúc rồi nhổ.Trị chàm (thấp chẩn): Ngô thù du 40 g (sao), Mai mực 30 g, Lưu hoàng 8 g, tán bột mịn trộn đều. Trường hợp chảy nhiều nước, bôi bột khô; trường hợp chàm khô, trộn với dầu thầu dầu hay dầu mù u, bôi 2 ngày 1 lần, bôi xong dùng vải bọc lại.
Liều dùng và chú ý:
- Liều thường dùng cho thuốc uống: 1,5 - 5g. Dùng ngoài theo yêu cầu.
- Chú ý: Ngô thù rất táo dễ hao khí động hỏa, sinh mụn nhọt, mờ mắt, không nên dùng lâu, dùng nhiều. Thận trọng lúc dùng cho bệnh nhân âm hư nội nhiệt.
- Sách Bản kinh có ghi: "Thù du thiện đi lên, cho nên người dùng Thù du có thể có hiện tượng xung cách, xung nhãn (nặng ngực mờ mắt), rụng tóc, đau họng, động hỏa sinh nhọt", nên lúc dùng cần chú ý.
Ngọc Giá - YuccaNguyệt Quế - Lakeview jasmine
Ngũ Vị Tử (Ngũ Main Tử)- Fructus schisandrae chinensis Baill:
thuốc có đủ 5 vị! Trái chín phơi hay sấy khô. Chủ trị hư suyễn, di tinh, tiêu chảy, tim hồi hộp, mất ngủ.
Ngưu Bàng - Arctium lappa, họ Compositiae
Ngưu Bàng Tử - Fructus Arctii Lappae.
Các tên khác Đại đao tử, Á thực, Hắc phong tử, thử niêm tử:
Ngưu bàng tử là trái chín của cây Ngưu bàng. Vị cay đắng tính hàn, qui kinh Phế Vị. Giải cảm sốt (sơ tán phong nhiệt) thuốc có tác dụng lợi tiểu, hạ sốt, kháng khuẩn, nước sắc thuốc có tác dụng kháng khuẩn rõ rệt đối với phế cầu khuẩn. Giải độc thúc sởi mọc, lợi yết tán kết.
Liều dùng: 4 - 12 g
Trị chứng ngoại cảm phong nhiệt:
sốt ho, đờm vàng ( trường hợp viêm amidan, viêm họng, viêm đường hô hấp cấp tính) dùng bài:
- Ngân kiều tán ( ôn bệnh điều biện) gồm: Ngân hoa, Liên kiều, Ngưu bàng tử, Đạm đậu xị, mỗi thứ 8 -12g, Cát cánh, Trúc diệp, Bạc hà mỗi thứ 6 - 12g, Kinh giới tuệ 4 - 6g, Cam thảo 2 - 4g, sắc nước uống. 1 - 2 thang trong một ngày. Hoặc Ngưu bàng tử, Kim ngân hoa mỗi thứ 12g, Liên kiều, Kinh giới, Bạc hà mỗi thứ 8g, sắc uống, thêm Cam thảo 2 - 4g. Hoặc Ngưu bàng tử 12g, Bạc hà 6g, Thuyền thoái 2 - 4g.
Trị bệnh sởi trẻ em: chậm mọc, mề đay. Có thể dùng bài: Ngân kiều tán hoặc các bài sau:
- Kim ngân hoa 12g, Ngưu bàng tử 12g, Thăng ma 8g, Cát căn 12g, Cam thảo 4g, Kinh giới tuệ 4g, sắc nước uống.
- Ngưu bàng tử 12g, Kinh giới 8g, Bạc hà 4g, Phòng phong 4g, Cam thảo 3g, sắc nước uống.
Khi sởi đã mọc:
- Lá tre 20g, sài đất 20g, củ sắn dây 12g, mạch môn 12g, cam thảo đất 20g, kim ngân hoa 20g, sắc uống.
- Củ sắn dây 20g, kinh giới 12g, lá từ bi 12g, đậu đen 12g, gừng tươi 3 lát, nước 3 bát, sắc còn 1 bát chia uống 2 lần trong ngày.
- Lá diếp cá 200g, rửa sạch, vò với nước nấu sôi để nguội, chia uống nhiều lần trong ngày.
Chữa phù ( do dị ứng hoặc viêm cầu thận cấp): Ngưu bàng tử ( nửa sao nửa sống), Bèo cái sao khô lượng bằng nhau tán nhỏ trộn đều, mỗi lần 5g, ngày 3 lần với nước nóng (bài này chữa cả viêm họng sưng đau).
Chú ý khi dùng thuốc:Tây y dùng rễ Ngưu bàng làm thuốc thông tiểu, ra mồ hôi, chữa tê thấp, đau sưng khớp, lang beng, mụn trứng cá lở loét. Còn dùng trị bệnh tiểu đường (cao rễ ngưu bàng có tác dụng hạ glucoza máu), hoặc chữa mụn nhọt, ngày uống 3 lần, mỗi lần 0,6g cao thuốc (hoặc bột) trong 3 ngày. Không dùng đối với người bị tiêu chảy do tỳ hư.
Ngưu Tất Achyranthes arborescens, A. aspera (Thổ Ngưu Tất, Nam Ngưu Tất). Tên khác: Cỏ Xước
Nhân Sâm (sâm rừng, nguyên sâm) - Panax gingsen
Nhân Trần - Adenosma glutinosum, họ Scrophulariaceae, chữa bịnh vàng da, bịnh gan mật, thông tiểu tiện: mỗi ngày 8-16g sắc uống. Giúp sản phụ ăn ngon: sắc uống với Mần Tưới, Mạch Môn, Ngải Cứu, Rẻ Quạt, vỏ Bưởi, Đào khô.
Cây Nhân Trần có tác dụng làm tăng tiết mật, tăng chức năng thải trừ của gan, chống viêm, kháng khuẩn, diệt sán, không có độc tính.
Nhân trần có vị đắng, cay, tính bình. Dùng để thanh nhiệt, lợi thấp, hành khí, lợi tiểu, làm ra mồ hôi.
Công dụng: chữa viêm gan, vàng da, xơ gan, sốt, tiểu tiện không thông, lợi mật, chữa phong thấp, phụ nữ sau khi sanh uống để kích thích ăn uống, trị mụn nhọt, mẫn ngứa.
Liều dùng: 10 - 20g / ngày.
Nhục Quế - Cinnamomum cassia Presl, họ Lauraceae. Các tên khác: vỏ quế, quế bì, ngọc quế
Bộ phận dùng: Vỏ gốc hoặc vỏ khô của thân cây. Vị cay, ngọt, tính nóng. Vào kinh Thận, Tỳ, Tâm và Can.
Tác dụng: trừ lạnh và giảm đau, làm ấm kinh lạc và tăng lưu thông. Bổ nguyên dương, ấm tỳ vị, trừ lạnh, thông huyết mạch. Chữa các chứng liệt dương, lạnh tử cung, lưng gối lạnh đau, hen suyễn do thận suy, lạnh đau dạ dày, nôn ói do lạnh, bế kinh, đau bụng kinh.
- Thận dương suy biểu hiện như lạnh chi, đau và yếu vùng ngang lưng và đầu gối, bất lực và hay đi tiểu: Dùng nhục quế với Phụ tử, Sinh địa hoàng và Sơn thù du trong bài Quế Phụ Bát Vị Hoàn.
- Tỳ Thận dương hư biểu hiện như đau lạnh ở thượng vị và vùng bụng, kém ăn, phân lỏng: Dùng Nhục quế với Can khương, Bạch truật và Phụ tử trong bài Quế Phụ Lý Trung Hoàn.
- Hàn tà ngưng trệ ở kinh lạc biểu hiện như đau lạnh thượng vị và bụng, đau lưng dưới, đau toàn thân, kinh nguyệt không đều, ít kinh nguyệt: Dùng Nhục quế với Can khương, Ngô thù du, Đương quy và Xuyên khung.
- Nhọt mạn tính: Dùng Nhục quế với Hoàng kỳ và Đương qui.
Bào chế: Cạo sạch lớp vỏ thô, rửa sạch, thái phiến, phơi trong bóng mát cho khô hoặc tán bột.
Kiêng kỵ: Có thai không dùng. Kỵ lửa.
Nhục Thung Dung - Herba cistanches
Trị thể thận âm/dương hư.
Triệu chứng thể thận âm hư: bứt rứt, hồi hộp, khó ngủ, dễ quên, hay tiểu đêm, đau lưng, mỏi gối, ù tai, nóng về đêm, ra mồ hôi ở lòng bàn tay, bàn chưn, quan hệ tình dục không có lực, mau mất sức, dương nuy bất cử (dương vật không cương) , xuất tinh sớm.
Bài thuốc dùng để trị tình trạng này là Lục Vị Địa Huỳnh Hoàng, bao gồm:
- mỗi vị 12 g Ba Kích, Ích Trí Nhơn, Phục Linh, Đơn Bì, Hà Thủ Ô, Chích Bắc Kỳ.
- 16 g Thục Địa.
- 10 g Tục Đoạn, Nhân Sâm, Sơn thù, Sơn Thù, Hoài Sơn Bắc.
- 8 g Nhục Thung Dung.
- 8 g Trạch Tả (sao rượu).
- 4 g Ngũ Vị.
Cách nấu: lần 1, cho các vị thuốc trên vào nồi đất cùng 4 chén nước, sắc còn 1 chén. Lần 2, cho vào 3 chén nước, sắc còn nửa chén. Hợp nước lần 1 và 2 rồi chia làm 3 phần để dùng trưa, chiều, tối. Dùng trước bữa ăn khoảng 1 giờ.
Triệu chứng thể thận dương hư: gồm một số triệu chứng giống thận âm hư, nhưng kèm một số chứng khác như: eo lưng và chưn lạnh, hay bị rối loạn tiêu hóa, thường đi tiêu vào lúc sáng sớm, lòng bàn tay và bàn chưn lạnh.
Bài thuốc trị chứng này gồm:
- 10 g Âm Dương Hoắc, Nhục Thung Dung, Tục Đoạn, Sơn Thù, Hoài Sơn Bắc, Nhung Nai.
- 12 g Ba Kích, Đỗ Trọng, Nhân Sâm, Chích Bắc Kỳ, Kỷ Tử, Phục Linh, Đơn Bì.
- 8g Ích Trí Nhơn, Trạch Tả.
- 4 g Phụ Tử, Ngũ Vị.
- 6 g Nhục Quế.
Cách chế biến cũng giống như bài thuốc thể thận âm hư, riêng Nhục Quế thì để riêng, đem hãm nước sôi, đợi nấu xong thuốc rồi mới cho vào sau cuối.
Các bài thuốc khác:Ôn Thận Ích Tinh Thang: Ngũ vị tử 10 g, Thỏ ty tử 15 g, Câu kỷ tử 15 g, Thục địa 20 g, Sơn dược 20 g, Sơn thù nhục 10 g, Đảng sâm 黨參 12 g, Bạch truật 10 g, Phục linh 12 g, Tiên linh tỳ 12 g, Ba kích 12 g, Nhục thung dung 12 g, Lộc giác giao 12 g, Phụ tử 10 g, Nhục quế 6g, Chích cam thảo 6g. Cách dùng: Sắc nước uống trong ngày. Liên tục 20 ngày (1 liệu trình), nghỉ 5 ngày rồi tiếp tục liệu trình khác. Tác dụng: Bổ thận trợ dương, ích khí điền tinh. Dùng chữa cho nam giới vô sinh do tinh loãng, thể "Thận dương bất túc, tinh khí suy thiểu". Những biểu hiện: Lượng tinh dịch ít, trong, loãng, lạnh hoặc trong tinh dịch có những cục đông đặc, ham muốn tình dục giảm, có thể kèm theo những triệu chứng toàn thân như ghét lạnh, ngón chân ngón tay lạnh, sắc mặt nhợt nhạt, tinh thần uể oải, ăn ít, tiêu hóa kém, lưng đau, gối mỏi, lưỡi bệu, chất lưỡi nhạt, mạch chìm nhỏ yếu.
Tư Âm Ích Khí Điền Tinh Thang: Thành phần: Thục địa 15 g, Sinh địa 15 g, Sơn dược 20 g, Sơn thù nhục 15 g, Đan bì 10 g, Đảng sâm 黨參 12 g, Mạch môn 15 g, Thiên môn 15 g, Quy bản 15 g, Hà thủ ô chế 20 g, Hải cẩu thận 1 cặp, Câu kỷ tử 15 g. Cách dùng: Sắc nước uống theo từng liệu trình 20 ngày. Tác dụng: Bổ âm, ích khí, tăng tinh dịch... Dùng chữa nam giới vô sinh do tinh loãng, thể: "Thận âm bất túc, tinh khí suy thiểu" với những biểu hiện chính: Lượng tinh dịch ít và đặc, ham muốn tình dục bình thường hoặc cao hơn bình thường, nhưng lưng, gối đau mỏi, tinh thần uể oải, người mệt mỏi, khó tập trung tư tưởng, hay quên, có thể kèm theo chứng choáng đầu hoa mắt, miệng khô họng ráo, buồn phiền mất ngủ, tóc rụng nhiều, răng lung lay, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít, mạch nhỏ, nhanh.
Hoạt Huyết Trục Ứ Thông Tinh Thang: Thành phần: Đương quy 12 g, Sinh địa 15 g, Đào nhân 10 g, Hồng hoa 10 g, Xuyên khung 10 g, Ngưu tất 20 g, Chỉ xác 10 g, Thỏ ty tử 15 g, Câu kỷ tử 15 g, Tiên mao 15 g, Tiên linh tỳ 15 g, Cam thảo 6 g, Tạo giác thích 6 g. Cách dùng: Sắc nước uống trong ngày, theo từng liệu trình 15 ngày. Tác dụng: Hoạt huyết hóa ứ, kiêm bổ thận điền tinh, sơ thông tinh lô. Dùng chữa nam giới vô sinh do loãng tinh, thể: "Huyết ứ trở trệ, thận tinh bất thông", với những biểu hiện chính: Tinh dịch đặc, lượng tinh trùng giảm nhiều; thường kèm theo triệu chứng như: tính tình trầm mặc, dễ nổi giận, vùng ngực có cảm giác đầy tức khó chịu, có lúc nhói đau hoặc có cảm giác lạnh ở dương vật hoặc tinh hoàn; chất lưỡi tối, có điểm ứ huyết, mạch chìm rít.
Hóa Đàm Thông Tinh Thang: Thành phần: Quất hạch 12 g, Lệ chí hạch 12 g, Hải tảo 12 g, côn bố 12 g, Xuyên luyện tử 12 g, Chỉ xác 10 g, Mẫu lệ 30 g, Miếp giáp 30 g, Quy bản 20 g, Ngưu tất 15 g, Hà thủ ô 30 g, Sài hồ 10 g. Cách dùng: Sắc nước uống trong ngày. Dùng theo từng liệu trình 15 ngày. Tác dụng: Hóa đàm nhuyễn kiên, bổ thận thông tinh. Dùng chữa nam giới vô sinh do tinh loãng, thể: "Đàm trọc ngưng trệ, tinh lạc bất thông", với những biểu hiện: Lượng tinh dịch ít, tinh trùng ít, kèm theo đau tức ở hai bên bụng dưới; người uể oải, chân tay nặng nề, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng nhớt mạch chìm, trơn, có trường hợp tinh hoàn sưng đau.
**Oải Hương Thảo - Lavender, Spike, Nard, Elf - (tiếng Latin: Lavare, có nghĩa là rửa wash) - Lavandula angustifolia, họ Lamiaceae Lindl
cây Óc Chó. Tên khác: Cát Tuế Tử * (xem thêm ở trên) , Sung dại (Bắc) , Ổi dại (Nam), vú
chó, vú bò. Tên khoa học
Juglans regia, họ Juglandaceae
rễ của cây óc chó Ficus hirta Vahl có vị ngọt hơi đắng, tính bình, tác dụng khử phong thấp, mạnh gân cốt, khử ứ tắc, tiêu thũng, sinh tân. Sử dụng nhựa mủ trắng của cây óc chó pha trộn cùng nghệ vàng làm hoàn để trị chứng bụng trướng đầy, đại tiện táo kết. Lá hay trái cây óc chó giã nát đắp chữa vết thương bầm tím.
Cây óc chó loại to mọc ở rừng có vị ngọt hơi chát, tính ấm, đi vào hai kinh phế, thận, để bổ dưỡng gan thận, làm mạnh lưng gối, hạ suyễn, cố thận, sáp tinh. Công dụng làm thuốc bồi dưỡng cơ thể, trừ ho đờm, lao lực quá độ sinh ho, hen suyễn, lưng đau mỏi gối, chân yếu, làm thuốc dưỡng da, đen tóc, lợi tiểu, trừ trĩ. Lá óc chó còn sử dụng làm thuốc mỹ phẩm cho da, làm săn da, sát khuẩn, khử lọc máu. Dầu óc chó dùng chữa phòng lở chàm và nhuộm đen tóc. Cũng có tài liệu đông y nói rằng hột óc chó còn gọi là hồ đào nhục, có vị ngọt, tính bình hơi ấm, tác dụng bổ phế, thận, làm mạnh sức, đen tóc, trơn da, chữa các chứng tiết tinh, ho lâu, gối lưng đau mỏi.
Cây óc chó cũng có tác dụng chữa bệnh hở van tim và ngừa nhồi máu cơ tim. Dùng 9 đọt cây ócchó, cho ½ ly nước rồi giã vắt lấy nước cốt. Lấy cùng 1 bó hẹ tươi chừng 1 nắm tay, cũng cho ½ ly nước giã vắt lấy nước để riêng. Hai ly này đem phơi sương trong đêm, cho đến 12 giờ đêm mang vào và uống riêng từng ly một, mỗi lần uống từng ly này cách nhau 30 phút (uống ly nào trước cũng đều được). Mỗi tuần uống hai đêm liền, nhưng sang tới tuần thứ hai cũng uống liên tiếp hai ngày liền trùng vào hai ngày tuần trước đã uống, 4 lần uống sẽ có hiệu quả.
* Chữa vết thương đau nhức: Dùng nhân hạt óc chó giã nhỏ hòa với rượu uống, kết hợp lấy lá óc chó tươi hay vỏ trái giã nát đắp rịt bên ngoài vết thương.
* Chữa người già hen suyễn, đái ra cát sỏi: Giã hạt óc chó nấu cháo thường ăn sẽ khỏi.
* Chữa phỏng, lở chàm, nhuộm đen tóc: Lấy dầu óc chó bôi ngoài, hay chải tóc.
* Chữa thận lạnh, đau ngang lưng, mỏi mệt, liệt dương, tiểu són, tiểu nhiều, vãi đái, tiết tinh: Nhân hạt óc chó (hồ đào nhục) 12g, ba kích 10g, nhân, trái, rể (ích trí nhân) 8g, ô dược 8g, cẩu tích 8g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.Chi Ficus tiếng Anh gọi chung "figs", gồm hơn 850 loại, họ Dâu tằm Moraceae. Một số loại Ficus:
Ficus heterophyllus cây Vú bò, Vú Chó.
Ficus championi Đa xanh.
Ficus virens Sung xanh.
Ficus carica đồng nghĩa Ficus caprificus;
Ficus sycomorus, english: Sycamore fig.
Ficus natalensis, english: Bark cloth fig; Natal fig.
Ficus cotinifolia, english: Strangler fig.
Ficus padifolia; Ficus pertusa, english: Perforated fig; Plum leaved fig tree
Ficus benghalensis đồng nghĩa: Ficus indica; Cây Dong, Cây Đa lá tròn. English: Banyan fig.
Ficus hispida Cây Ngái; english: Rough leaved fig.
Ficus callosa, cây Gừa.
Ficus semicordata Cây Cọ nọt, Đa lá lệch.
Ficus elastica Đa búp đỏ; India rubber fig; Ornamental rubber tree; Rubber plant.
Ficus macrophylla; Ficus erecta đồng nghĩa: Ficus japonica Blume.
Ficus carica Vô hoa quả, Trái Vả.
Ficus auriculata Cây Vả; english: Roxburgh fig.
Ficus drupacea Cây Đa lông, english: Brown woolly fig; Hairy fig.
Ficus religiosa Cây Bồ đề; english: Bo tree; Bodhi tree; Peepul tree; Sacred fig.
Ficus racemosa cây Sung, Ưu đàm thụ, Tụ quả dong, Thiên sinh tử. tên Anh: Cluster tree, Cluster fig;
Cây Si Ficus stricta, trái có độc.
Cây Sanh Ficus benjamina, họ Moraceae. tên tiếng Anh: Weeping fig, Benjamin tree.
Cây Trâu Cổ Ficus pumila đồng nghĩa Ficus pisocarpa, họ Moraceae. Tên khác: cây Xộp, Sộp, Vẩy ốc, Vương bất lưu hành, Climbing fig, Creeping rubber plant. Bộ phận dùng: trái (fructus fici pumilae), lá, cành, rễ, nhựa. Trái có tác dụng tráng dương, cố tinh, lợi thấp, thông sữa, kinh nguyệt không đều, viêm tinh hoàn, liệt dương, di tinh. Rễ, khư phong hoạt lạc, hoạt huyết, giải độc. Lá, tiêu thũng, giải độc, viêm khớp xương, nhức mỏi chưn tay, đòn ngã tổn thương, đinh sang, nhứa lở. Liều dùng: - cành lá ngày dùng 30g, trái 10-15g, thân 10-20g, dùng tươi sắc uống hoặc nấu thành cao ngày dùng 5-10g chữa đau xương, người già đau mình, làm thuốc điều kinh, thuốc bổ, giúp tiêu hóa. Dùng cành và lá Trâu cổ hợp với đậu đen, ngâm rượu uống bổ, chữa di tinh, liệt dương, đau mình, đau lưng.
Ông Lão - Clématite, Clematis họ Hoàng liên Ranun culaceae. Tên khác: Dây vằng, dây mộc thông. Chi Clematis gồm hơn 230 loài. Ở Việt Nam có 16 loài: Clematis armandii; -brevicaudata; -chananiana; -chinensis; -fasciculiflora; -gouriana; -henryi (ông lão henry; Thiết tuyến liên lá đơn); -leschenaultiana; -loureiriana; -meyeniana; -smilacifolia; -uncinata; -loureiriana (ông lão Loureiro); -orientalis; -songarica; -uncinata
*Phật Thủ - Buddha's Hand
cây Phèn đen
Tên khoa học: Phyllanthus reticulatus, họ Thầu dầu Euphorbiaceae. Cây mọc thành bụi, mọc hoang ở ven rừng khắp mọi miền đất có độ cao 500m so với mặt biển. Cây cao khoảng 2 đến 4m, cành nhánh màu đen lợt, lá đơn nguyên, mọc so le, có hình dạng thay đổi như hình trái xoan, hình bầu dục, hình trứng. Phiến lá rất mỏng, dài 1,5 đến 3cm, rộng 6-12mm, mặt trên đậm hơn màu mặt dưới, lá kèm hình tam giác hẹp. Bông mọc nách lá, riêng lẻ hay xếp thành 2-3 cái một. Trái hình cầu, chín có màu đen. Ra bông và kết trái khoảng tháng 8, tháng 10 hàng năm. Bộ phận dùng làm thuốc là rễ và lá với tên dược liệu Radix et Folium Phyllanthi Reticulati. Vỏ thân cũng dùng làm thuốc. Thuốc được thu hái vào mùa Thu, rửa sạch, cắt nhỏ phơi khô, cất sử dụng dần. Lá hái vào mùa hè, phơi trong bóng mát. Vỏ thu hoạch quanh năm.
Rễ Phèn đen có vị chát, tính lạnh, có công năng tiêu viêm, thu liễm, chỉ tà. Chủ trị lỵ, lao ruột, viêm ruột, viêm gan, viêm thận, trẻ em cam tích. Ngoài ra còn dùng trị bị thuốc độc và rắn cắn. Lá có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát khuẩn, lợi niệu, dùng trị sốt, tiêu chảy, phù thũng, ứ huyết do đòn, té ngã, huyết nhiệt sinh đinh nhọt, dùng riêng hay chung với lá long não, xuyên tiêu giã ngậm trị chảy máu chân răng. Người ta còn lấy lá trị rắn cắn như nhai nuốc nước còn bã đắp lên vết thương. Vỏ thân cây phèn đen có vị lạt chát, thường dùng trị lên đậu có mủ hay tiểu tiện khó khăn.
- Trị kiết lỵ: lá phèn đen tươi giã nát, thêm nước rồi lọc lấy nước. Sau đó lấy mạch nha, cam thảo đất, ý dĩ khô tán bột lượng mỗi vị như nhau và mỗi lần lấy nửa muổng cà phê bột thuốc uống với nước phèn đen đã lọc sẵn.
Hoặc dùng rễ cây phèn đen 20g, dây mơ lông 20g, cỏ seo gà 20g, cỏ tranh 20g, gừng tươi 2 lát, sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần (theo Nam dược thần hiệu).
- Tiêu chảy, lỵ do nhiệt: dùng phèn đen cả cành và lá 40g, đậu đen sao 40g, ngày 1 thang cho nước sắc kỹ lấy nước thuốc chia 3 lần uống.
- Trị đại tiện ra máu: phèn đen cả cành và lá, xắt nhỏ khoảng 3 chén ăn cơm, sắc kỹ lấy nước thuốc đặc chia 2 lần uống.
- Trị bịnh trĩ: lá phèn đen 1 nắm, lá trắc bạch diệp 1 nắm, lá huyết dụ 7 lá. Sao vàng hạ thổ, sắc lấy nước uống 1 chén, nước còn lại dùng rửa vùng bị trĩ ngày 1-2 lần.
- Trị chảy máu nướu răng: lá phèn đen khô ngậm, có thể hợp lá long não và lá xuyên tiêu.
- Trị nhọt độc mới phát: lá phèn đen cùng với lá bèo ván giã đắp nơi phát đinh.
- Trị chấn thương: lá phèn đen giã nát đắp nơi sưng đau.
- Trị vết thương sưng đau: lá phèn đen khô tán bột rắc lên vết thương ngày 1-2 lần sẽ mau lành và mau lên da non.
- Trị tiểu tiện khó: vỏ thân cây phèn đen 20g-40g sắc lấy nước uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần trong ngày.
Phong Lữ - Phong Lữ Thảo, Thiên Trúc Quỳ - Geranium pelargonium, họ Geraniaceae
Phân biệt giữa chi Phong Lữ và chi Mỏ Hạc: Mỏ Hạc họ Geraniaceae, bao gồm cả chi Geranium. Geranium có 5 cánh bông đối xứng, trong khi Pelargonium có cánh bông không đều hay có vết đốm.
loại thơm:
- Pink capitanum
- Attar of roses
- Afonie snowflake
Phúc Bồn Tử Raspberry (dâu tây trái tròn đỏ) - Rubus idaeus, họ Rosaceae. Loại khác: Blackberry (màu đỏ đen) Dâu đen - Rubus fruticosus, họ Rosaceae; Dâu dại Wild Berry - Maesa indica, họ Myrtaceae; Blue Berry - Vaccinium myrtillus, họ Ericaceae.
Phù Dung - Confederate Rose/ Cotton Rose
Thổ Phục Linh, Smilax glabra. Tên khác: củ khúc khắc.
Thổ phục linh có vị ngọt lạt, chát, tính bình. Có tác dụng tiêu độc, thanh nhiệt, giải độc, tiêu thủng, trừ phong thấp, mạnh gân xương, lọc máu. Chủ trị: Thấp khớp, đau nhức gân xương, mụn nhọt, lở ngứa, giang mai, giải độc thủy ngân, dị ứng, kích dục, thuốc bổ sau khi đẻ, đái đục, khí hư bạch đới. Liều dùng: 10 - 60g / ngày.
Phục Linh Poria cocos, họ nấm Polyporaceae
Nấm mọc hoại sinh trên rễ cây thông.Thể hình khối to, có thể nặng tới 5kg nhỏ cũng có thể bằng nắm tay, mặt ngoài màu xám đen, nhăn nheo có khi hình bướu, cắt ngang sẽ thấy mặt lổn nhổn màu trắng hoặc hồng xám có khi có rễ thông ở giữa nấm. Thường phân biệt loại màu trắng gọi là Bạch linh, loại hồng xám gọi là Phục linh, loại có rễ thông đâm xuyên giữa gọi là Phục thần. Hái nấm vào tháng 10-11 sau tiết lập thu. Khi đào lên, người ta ngâm nước một ngày, rửa sạch, gọt bỏ vỏ, xắc mỏng 2-3 mm, phơi hay sấy khô. Khi dùng thì sắc với thuốc thang. Vị ngọt lạt, tính bình; có tác dụng lợi thủy thẩm thấp, kiện tỳ, định tâm. Ðược dùng làm thuốc bổ, thuốc lợi tiểu, chữa thủy thũng, đầy trướng, ỉa chảy, tỳ hư ít ăn. Còn dùng làm thuốc trấn tĩnh, an thần phách, chữa các chứng sợ lửa, mất ngủ, di tinh. Liều dùng 9-15 g, dạng thuốc sắc, thuốc bột hay thuốc viên. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
- Chữa tim yếu hay hồi hộp, sợ hãi, ngủ không yên, hay quên, mất trí, tinh thần suy nhược, ăn uống kém sút, rũ mỏi thích nằm; Phục thần, Ðẳng sâm, Liên nhục, Long nhãn, Ðại táo, đều 16g; Táo nhân sao, Viễn chí, Xương bồ đều 8g, sắc uống, hay tán bột, viên với mật ong, uống mỗi ngày 10-12g.
- Chữa phù thũng mắt, mặt, chân tay đều phù, bụng trướng. Vỏ Phục linh, vỏ Quýt cũ (Trần bì), vỏ trái Cau, vỏ rễ Dâu, vỏ Gừng sống, mỗi vị 15-20 g hoặc thêm vỏ cây Dướng, Mộc thông bằng các vị trên cùng sắc uống (theo sách Nam dược thần hiệu).
Phượng Đỏ - Flame Tree
Phượng Tím - acaranda
**Quỷ Kiến Sầu - Tribulus cistoides, họ Gai chống Zygophyllaceae.
(xem thêm Bạch Tật Lê)
Tên khác: Jamaican feverplant, Puncture vine, Tật lê, Gai ma vương, Burrnut, Caltrop, Goats head. Cây có gai nhọn, phân nhiều nhánh, mọc bò lan, hoang trong vùng khí hậu nóng, ấm ở nhiều nước ở châu Á, châu Phi, châu Âu. Ở Việt nam, cây mọc dại ven biển, ven sông ở các tỉnh từ Quảng Bình trở vào.
Ghi chú: loài Gai ma vương Tribulus terrestris, họ Gai chống Zygophyllaceae mọc ở đất khô vùng duyên hải, có bông tháng 5-7 cũng được dùng như Quỷ kiến sầu.
Lá kép lông chim, mọc đối hoặc gần đối gồm 5 đến 7 đôi, phiến lá dài 6 đến 15mm, rộng 2,5mm, phủ lông trắng ở mặt dưới. Bông mọc riêng lẻ ở nách lá, bông 5 cánh mỏng, màu vàng như bông mai, mau rụng. Nhị có 5 cái dài 5 cái ngắn. Trái thường có 5 cạnh, có gai và có lông dày. Nở bông tháng 5-8, có trái tháng 8-9. Trái hái khi chín, có thể hái cả cành mang trái, phơi khô, đập lấy trái già. Dùng sống hay sao qua cho cháy gai.
Bộ phận dùng: trái - Fructus Tribuli, thường gọi là Tật Lê. Trái chứa chất béo, một ít tinh dầu, chất nhựa và nitrat, alcaloid, phylocrythrin, tanin, flavonosid, rất nhiều saponin, trong đó có diosgenin, ruscogenin, hecogenin, gitogenin, tribuloside, kaempferol-3-rutinoside, astragalin, harmin.
Tính vị, tác dụng: trái có vị cay, tính hơi ấm, bình can giải uất, hoạt huyết khư phong, minh mục, chỉ dương.
Công dụng: thường dùng chữa nhức đầu, chóng mặt, ngực bụng trướng đau, tắt sữa, đau vú, mắt đỏ, nhức vùng mắt, chảy nước mắt, ngứa ngáy. Còn dùng làm thuốc bổ thận, trị đau lưng, tinh dịch không bền, ốm yếu, lở loét miệng, mụn lở, viêm họng đỏ và chữa kiết lỵ.
Đơn thuốc:
- Chữa bịnh mắt mù lâu năm: tật lê hái về phơi râm cho khô, tán nhỏ, mỗi lần uống 4g. Ngày uống 2 lần sau bữa ăn, uống lâu sẽ khỏi (theo Nam dược thần hiệu).
- Chữa đau mắt: cho tật lê vào chén nước, nấu sôi rồi hứng mắt vào hơi nước.
- Chữa thận hư tiết tinh, di tinh, hoạt tinh, liệt dương: tật lê, kỷ tử, củ súng, hột sen, nhị sen, thỏ ty tử, mỗ vị 16g. Trái dùm dũm, ba kích, kim anh (bỏ ruột) mỗi vị 12g sắc uống.
- Chữa kinh nguyệt không đều, có kinh đau bụng: tật lê 12g, dương quy 12g, nước 400g sắc còn 200g. Chia 2 lần uống trong ngày.
- Chữa lở miệng, mụn lở: trái tật lê nấu cao, trộn mật ông rồi bôi.
- Chữa kiết lỵ: 8-16g nghiền trái thành bột uống, hoặc sắc uống.
Quỳnh Hoa - Epihyllum oxypetalum, họ Xương rồng Cactaceae
Quỳnh có 2 nhóm, loại trổ bông về đêm và loại nở bông giữa ban ngày. Loại nở về đêm gọi chung là Night blooming cereus, bao gồm các chi Helicocereus, Selenicereus, Penioce reus và một số loại lai tạo (hybrid). Trong nhóm này loại đẹp và quý nhứt là Epiphyllum grandilo (hay E. oxypetalum, tên cũ Cereus oxypetalis).
Quỳnh cho bông ban ngày: cây Quỳnh đỏ Epiphyllum ackermannii (Epiphylle d'Aclerman)
Phần được dùng làm dược liệu là Bông và thân. Bông có vị ngọt, tính bình. Có tác dụng chống viêm, chống sưng và cầm máu. Bông thường được dùng để chữa ho ra máu (lao phổi), xuất huyết tử cung, sưng cổ họng: Sắc và uống 3-5 bông. Bông cũng được nấu chung với thịt heo để trị sưng phổi, ho và các bịnh đường hô hấp. Có thể giã nát đắp lên vết thương sưng đau.
Thân có vị chua, mặn, tính mát. Có tác dụng chống sưng. Toàn cây có tác dụng thanh phế, trị ho. Trái của Quỳnh loại Hylocereus undatus, loại cho bông về đêm, đó chính là Trái Thanh Long (Red Pitahaya, Dragon fruit).
* xem thêm truyền thuyết Quỳnh Hương
***
hoa Rạng Đông, cây Chùm Ớt - Flame vine, golden shower, flaming trumpet - Pyrostegia venusta, họ Bognoiaceae
cây Rau Trai Commelina communis, họ Commelinaceae. Các tên khác: Trai Thường, Thài Lài, blue-eyed grass
Bộ phận dùng: toàn cây Herba Commelinae, thường gọi là Áp Chích Thảo. Hái ngọn non làm rau luộc hay nấu canh ăn. Toàn cây quanh năm lấy về rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô để làm thuốc.
Vị ngọt lạt, tính hơi hàn, có tác dụng giải nhiệt, kháng sinh, chống viêm, lợi tiểu, tiêu sưng, tiêu thũng. Thường được dùng để chữa bịnh cảm cúm, nhiễm khuẩn đường hô hấp, viêm họng, viêm amiđan, nhiễm trùng đường tiết niệu, sinh dục, phù thũng.
Các bài thuốc:
- Chữa viêm họng, viêm amiđan: rau trai tươi 30 g sắc uống, ngày 1-2 lần, uống 3-4 ngày, có thể dùng 90-120 g giã nát chắt nước, cho thêm chút muối, uống hàng ngày.
- Chữa viêm ruột, kiết lỵ: rau trai tươi 30 - 40 g sắc uống trong 3 - 5 ngày.
- Chữa viêm cầu thận, phù thũng, tiểu ít: rau trai 30 g, cây cỏ nước (cỏ Xước) 30 g, bông mã đề 30 g. Sắc uống thường xuyên hằng ngày.
- Chữa phong thấp, viêm khớp, phù tim: rau trai 40 g xắt nhỏ, đậu đỏ 40 g, nấu chín ăn hàng ngày, ăn cả cái lẫn nước.
- Chữa viêm nhiễm đường hô hấp trên: rau trai 30 g, Bồ công anh 30 g, lá Dâu tằm 30 g, dùng sắc uống hàng ngày.
- Trị cảm cúm, viêm nhiễm phần trên đường hô hấp, viêm amiđan, viêm hầu họng, phù thũng, nhiễm khuẩn đường niệu và sinh dục, viêm ruột thừa, kiết lỵ. Liều dùng 30 - 40 g dạng thuốc sắc.
- Dùng ngoài trị viêm mủ da, giải chất độc do rắn rết bò cạp cắn đau buốt và đầu gối, khớp xương bị sưng đau, lấy 16 g cây tươi rửa sạch, nhai nuốt nước, bã đắp lên chỗ rắn cắn, hoặc giã đắp, ngày làm 1-2 lần.
****
Sa Sâm rễ thường dùng là Launae pinnatifida.
Radix Glehniae, Glehnia liloralis, họ Umbelliferae. Các tên khác: Nam Sa Sâm Adenophora tetraphylla Fisah; Adenophora stricta Mio, họ Camphalulaceae.
Dùng rễ. Rễ nhỏ, chắc, trắng ngà, hơi thơm nhiều bọt, giòn là tốt. Loại to xốp, vụn nát, mọt là không tốt. Vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn. Tác dụng: dưỡng âm, thanh Phế, tả hỏa, chỉ khát. Chủ trị âm hư, Phế nhiệt ho khan, kém tân dịch, miệng lưỡi khô, khát. Liều dùng: ngày dùng 5-12 g.
Cách bào chế: chùi bỏ tạp chất, bỏ đầu cuống, rửa sạch, ủ mềm, cắt ra từng đoạn ngắn, phơi khô dùng. Theo kinh nghiệm Việt Nam: Không được rửa, bẻ đoạn ngắn, dùng sống. Có khi tẩm gừng sao qua (Phế hàn). Rễ dễ bị mọt, cần tránh nóng, ẩm. Để nơi khô ráo, mát trong hủ đất có chất hút ẩm. Không nên phơi nắng nhiều.
- Phế Âm suy kèm nhiệt biểu hiện như ho khan, ho có ít đờm, giọng khàn do ho kéo dài, khô cổ và khát: Dùng Sa sâm với Mạch đông và Xuyên bối mẫu.
- Sốt lâu ngày làm mất tân dịch biểu hiện như khô lưỡi và kém ăn: Dùng Sa sâm với Mạch đông, Sinh địa hoàng và Ngọc trúc trong bài Ích Vị Thang.
Bài thuốc Ích Vị Thang: Sa sâm 15g, Mạch môn đông 10g, Ngọc trúc 10g, Phục linh 10g, Sinh địa 12g, Hoắc hương 12g, Sa nhân 8g, Trích cam thảo 8g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.
Kiêng kỵ: không phải âm hư phổi ráo, mà ho thuộc hàn thì không nên dùng. Sa sâm tương tác với lê lộ.
Sài Hổ - Bupleurum chinense
Sài hồ có vị đắng, mùi thơm, tính mát. Có tác dụng hạ nhiệt, giải cảm, thông khí, nhuận gan, sáng mắt, trừ sốt rét. Chủ trị: sốt cao, nhức đầu, chóng mặt, sốt do thương hàn, sốt rét, ngực bụng đầy trướng, kinh nguyệt không đều, viêm gan vàng da, viêm túi mật, đái tháo đường, viêm dạ dày tá tràng. Liều dùng: 5 - 12g / ngày.
Sâm Đại Hành - Eleutherine subaphylla
Còn gọi là Tỏi Lào, Sâm cau. Sâm đại hành có vị ngọt, tính bình. Có tác dụng ức chế đối với phế cầu khuẩn, tụ cầu vàng, chống viêm cấp tính và mãn tính, giảm ho, cầm máu, tiêu độc. Chủ trị: chữa thiếu máu, vàng da, xanh xao, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, mệt mỏi, băng huyết, ho ra máu, ho gà, viêm họng, viêm phổi, mụn nhọt, lợi tiểu, kiết lỵ, sa trực tràng, rối loạn tiêu hóa. Liều dùng: 5 - 12g / ngày.
sen - Lotus
Sen Cạn - TropaeolaceaeSim - Rose Myrthe / Downy myrthe
Sơn Thù Du - Fructus Cornus officinalis, họ Cornaceae. Các tên khác: Sơn Thù, Thù Nhục, Táo Bì 山茱萸 Shãn Zhũ Yú
Tên thuốc: Fructus corni, là trái bỏ hột phơi khô của cây Sơn thù du. Theo kinh nghiệm Việt Nam: bỏ hột, rửa qua cho nhanh, để ráo nước, lấy 1 kg Sơn thù cho vào 60 ml rượu đế trộn đều, chưng khô, đem phơi khô. Đậy kín, để nơi khô ráo , dễ mốc mọt. Không nên sấy khô quá sẽ mất chất nhuận. Sơn thù vị chua, tính bình, qui kinh Can Thận. Chủ trị các chứng: Can thận hư tổn, hoạt tinh di tinh, nạp tinh khí, tê thấp, băng lậu, điếc tai, lở ở mặt, ra mồ hôi, làm bớt chứng tiểu nhiều, cường lực, cường dương, bí tinh, rối loạn kinh nguyệt, bổ thận khí, hưng dương đạo, liệt dương, trị ù tai. Can, Thận hư triệu chứng hoa mắt, mờ mắt, đau lưng dưới, chân yếu, di tinh, bất lực. Sơn thù nhục thường hợp với nhiều vị thuốc khác trị các chứng do cơ thể hư nhược. Liều lượng: uống 6 - 12 g, có thể dùng 30 g cho vào thuốc thang sắc uống. Người hỏa thịnh không nên dùng.
- Trị chứng suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể do thận hư, liệt dương, di tinh, ù tai, điếc tai, tiểu nhiều lần.
1.Thảo hoàn đơn: Sơn thù, Bổ cốt chỉ, Đương qui đều 10 g, Xạ hương 0,1 g, tán bột mịn, luyện mật làm hoàn, uống với nước muối lạt.
2. Sơn thù, Thạch xương bồ, Địa hoàng, Cam cúc hoa, Hoàng bá, Ngũ vị tử lượng bằng nhau 6 g, sắc uống hàng ngày hay ngâm rượu uống, uống 15 ngày, nghỉ 10 ngày rồi uống tiếp 3 - 5 lần.
- Trị chứng ra mồ hôi trẻ em hoặc cơ thể suy nhược sau khi bịnh: 1. Lai phục thang: Sơn thù, Đảng sâm đều 30 g, Sinh Long cốt, Sinh mẫu lệ, Sinh Bạch thược đều 12 g, Cam thảo 3g, sắc uống. Trị ra mồ hôi nhiều.
2. Sinh Mẫu lệ 10 - 15 g ( sắc trước), Phù tiểu mạch 6 - 15 g, Sơn thù nhục 6 - 10 g sắc uống. Trị chứng ra mồ hôi ở trẻ em còi xương, suy dinh dưỡng.
- Trị phụ nữ kinh nguyệt ra nhiều do cơ thể yếu hoặc do tiểu cầu giảm dùng bài: 1. Sơn thù du 30 g, Nhân sâm 4 - 8 g sắc uống (nếu huyết nhiệt không dùng). 2. Sơn thù nhục, Thục địa đều 15 g, Đương qui, Bạch thược đều 12 g, sắc uống.
- Trị chứng tăng cholesterol máu: Lục vị địa hoàng: Thục địa 20g, Hoài sơn, Sơn thù đều 10 g, Trạch tả, Phục linh, Đơn bì đều 8 g, sắc uống.
Sơn Tra - Fructus crataegi / Crataegus cuneata sieba / tên thường gọi Hawthorn Berry / Hawthorn Fruit / Crataegus fruit:
trái hái vào cuối thu hoặc đầu đông, phơi nắng, nướng hoặc dùng sống. Liều dùng: 10 - 15 g
Trị khó tiêu đặc biệt do thức ăn mỡ, đau bụng, ỉa chảy. Dùng phối hợp Sơn tra, Thần khúc (Massa fermentata medicinalis), Mạch nha (Hordeum vulgare L. / Fructus Herdei germinatus), Mộc hương (Radix saussurea, Chỉ xác (Citrus aurantium L. / họ Cam quít Rutaceae).
Đau bụng sau khi đẻ và do ứ máu: dùng phối hợp Sơn tra với Đương qui (Angelica sinensis / Radix Angelicae Sinensis), Xuyên khung (Ligusticum wallichii) và Ích mẫu thảo (Leonurus heterophyllus Sweet).
Súng - Nymphaea stellata, họ Nymphaeaceae - Water Lily*****
Tầm Cốt Phong Herba aristolochiae Mollissimae 寻骨风
Xun gu feng
Dùng toàn bộ cây, thu hái vào mùa hè hoặc thu, rửa sạch phơi khô. Vị cay, đắng, tính ôn. Qui kinh Can. Trừ phong thấp, đau khớp, tê cứng tay chưn, co thắc gân và cơ. Thông các kinh, lạc và giảm đau, đau do chấn thương ngoài. Dùng riêng tầm cốt phong dạng thuốc sắc hoặc ngâm trong rượu hoặc hợp với các dược liệu khác để trừ phong, thấp. Liều dùng 10 - 15 g (
xem thêm những bài thuốc tại đây).
Tần Giao Genliana dakuriea Fisch, họ Genlianaceae
Dùng rễ, rễ có sắc vàng, thơm, dẻo. Vị đắng, tính bình. Vào Kinh Vị, Đại Trường, Can, Đởm. Tác dụng: tán phong thấp, thanh nhiệt, lợi tiểu, hòa huyết. Chủ trị nónhttp://www.blogger.com/post-edit.g?blogID=2616059603297130746&postID=3248065537503579413g lạnh, phong tê, gân xương co quắp, hoàng đản, đại tiện ra huyết, lao nhiệt cốt chưng, trẻ em cam nóng. Ngày dùng 6-12 g.
Kiêng kỵ: không có phong thấp lại hay tiểu gắt thì không nên dùng. Không dùng cho người có thể trạng yếu hoặc bị tiêu chảy.
Cách bào chế: lấy vải chùi sạch lông vàng trắng, ngâm nước một đêm rửa sạch phơi khô dùng.
Theo kinh nghiệm, bỏ cuống, lần ra cho khỏi rối, chùi bỏ tạp chất, rửa sạch cắt khúc ngắn phơi khô, sau đó có thể tẩm rượu dùng. Để nơi khô ráo, mát, thoáng gió.
- Phong thấp đau nhức do nhiệt: Tần giao dùng với Phòng kỷ và Nhẫn đông đằng.
- Phong thấp đau nhức kèm lạnh: Tần giao dùng với Khương hoạt, Độc hoạt, Quế chi và Phụ tử.
- Sốt về chiều do âm hư: Tần giao với Thanh hao, Miếp giáp, Tri mẫu và Địa cốt bì, bài thuốc Tần Giao Miếp Giáp Thang.
- Vàng do thấp nhiệt: Tần giao với Nhân trần cao và Chi tử.
Tang Ký Sinh (tang=dâu, ký sinh=sống nhờ) Loranthus parasiticus, họ Chùm gửi Loranthaceae. Các tên khác: Tầm Gửi Quả Chùy, Mộc Vệ Ký Sinh, Sang Ji Sheng, Surrula parasitica.
Bộ phận dùng: Cành, lá và toàn cây. Ra bông vào tháng 1-3. Vị đắng chát, tính bình, không độc. Vào 2 kinh Can, Thận. Có tác dụng tức phong định kinh, khư phong trừ thấp, bổ thận, mạnh gân xương, thông cân lạc, ích huyết, an thai. Thường dùng làm thuốc bổ gan thận, mạnh gân cốt, lợi sữa. Trị phong thấp, đau nhức xương, lưng mõi gối đau, gân cốt tê bại ở chân tay lưng khớp, kiện tinh, chắc răng. Đàn bà thiếu sữa, thai động không yên, cao huyết áp, phù thũng, cũng được dùng chữa viêm khớp, đau dạ dày. Nước ép lá chùm gửi có tác dụng chữa bịnh tim mạch ở giai đoạn đầu, chữa bịnh ung thư. Từ xa xưa, chùm gửi được dùng làm thuốc chữa bịnh và được gọi là "Cây Thần Kỳ".
Liều dùng 12-20g, dạng thuốc sắc hoặc nấu nước uống thay trà.
- Lá dùng làm trà, pha loãng uống hàng ngày. Tốt cho sản phụ luôn khát nước, và bị nôn oẹ, biếng ăn.
- Chân tay lạnh vào mùa Thu, Đông, đêm đi tiểu nhiều lần, đi đứng khó khăn, thiếu sức, thiếu hơi, đau lưng, mỏi gối: Tang ký sinh 20g, Hoàng kỳ 20g, Táo tàu 3 trái. Nấu nước uống.
- Thần kinh suy nhược: Tang ký sinh 12g, Hà thủ ô 12g. Nấu nước uống sau bữa cơm tối hoặc uống trong ngày.
- Chè gồm trứng gà, trà Tang ký sinh và đường phèn. Dùng để tư nhuận nội tạng, bổ huyết, dưỡng da cho mọi lứa tuổi, đang bịnh hay đã khỏe đều dùng được.
Chú ý: khi dùng Tang ký sinh trong đồ ăn thức uống nên dùng lượng ít để tránh gây vị đắng làm mất ngon.
Thạch Thung Dung - Thrift
Thạch Thảo - Aster amellus, họ Asteraceae. Tên khác: Cúc cánh mối, Starwort, Aster, Oeil de Christ
Thiên Điểu - Strelitzia reginae. Tên khác: Hoa chim thiên đường; Bird of paradiseThiên Lý - Telosma cordata, họ Asclepiadaceae. Tên khác: Dạ lý hương; Dạ lài hương, Tonkin creeper
có tác dụng trợ dương, dân gian có câu: "thương chồng nấu cháo le le, nấu canh hoa lý, nấu chè hạt sen". Vị ngọt tính bình, giải nhiệt, chống rôm sảy, là một vị thuốc an thần, ngủ ngon giấc, bổ tâm, thận, bớt tiểu đêm, đỡ mệt mỏi đau lưng, có tính chống viêm và làm tan màng mộng, làm mau lên da non, sử dụng trị các chứng viêm, mờ đục màng mắt. Bông dùng trị sán lãi.
- Phòng rôm sảy ngày hè: hằng ngày nấu canh hoa thiên lý ăn. Cho trẻ em, nghiền lá và bông ra, nấu chung với bột khi cho ăn dặm.
- Trị lãi kim: lấy lá thiên lý non, nấu canh cho trẻ em ăn liền từ 7-10 ngày sẽ có hiệu quả.
- Chữa lòi dom, dạ con: lấy 1 nắm thiên lý rửa sạch, giã nát cho và0 5% muối ăn, vắt lấy nước cốt thấm bông rịt vào hậu môn, hay âm hộ ngày thay 1-2 lần, sử dụng liền 5-7 ngày sẽ có tác dụng co dần.
- Làm giảm đau mình mẩy, nhức xương cốt: hằng ngày lấy bông thiên lý xào với thịt bò hoặc chấm với muối mè ăn.
- Làm người khoan khoái, ngủ dễ, ngon giấc, đỡ mệt mỏi, giảm tiểu đêm: hằng ngày lấy bông thiên lý nấu canh ăn.
- Chữa đinh nhọt: lấy lá cây thiên lý 30-50 g giã nhỏ đắp lên chỗ mụn nhọt, ngày thay 1 lần, vài ba ngày sẽ khỏi.
- Chữa tiểu đau, tiểu ra máu, cặn trắng, tiểu dắt: lấy rễ cây thiên lý từ 10-20 g, sắc lấy nước uống 2-3 lần trong ngày.
Chú ý: không ăn chung hoặc xào nấu thiên lý với các thức ăn giàu chất sắt như gan, tiết, thịt nạc, heo, rau muống v.v., chất sắt (Fe) có trong các loại thức ăn này sẽ đẩy kẻm (Zn) ra khỏi cơ thể.
Thiên Tuế - Vạn Tuế - Sơn Tuế Cycad revoluta, họ CycadaceaePhân biệt giữa Thiên Tuế và Vạn Tuế:
- Thiên Tuế thân nhỏ hơn so với Vạn Tuế, có vảy ở thân là thẹo do lá già đã rụng; lá xanh sáng bóng. Thiên Tuế thường mọc ở vùng núi đá khô cằn hay trong hang núi, thân thường có hình thù kỳ quái, cong queo như rồng rắn. Nếu trồng tốt, mổi năm Thiên Tuế cao được một tấc (2 lần ra lá mới).
- Vạn Tuế hay trong Nam gọi là Sơn Tuế, lá lớn và thưa hơn Thiên Tuế, lá màu xanh đậm hơn và không bóng. Ở rừng miền Trung có cây cao hơn 2 mét, rất nặng, người ta bó cây Vạn Tuế lại rồi cho lăn xuống núi.
Nếu nói về ý nghỉa của tên "Thiên Tuế - Vạn Tuế" thì Vạn Tuế quý hơn, bởi vì thời phong kiến bên Tàu, chỉ có hoàng đế mới được gọi là Vạn Tuế, ngoài ra tất cả từ hoàng hậu, vương gia, ... chỉ được gọi là Thiên Tuế, ngay cả quyền thần lấn át hoàng đế cũng chỉ được gọi "Cửu thiên tuế" mà thôi!
cây Thông Thảo Tetrapanax papyriferus, họ Nhân Sâm Araliaceae. Tên khác: Aralia papyrifera, Thông Thoát mộc, Rice-paper plant.
Cây cao khoảng 3-4m, thân cứng nhưng giòn, bên trong có lõi xốp trắng, cây càng già thì lõi càng đặc và chắc hơn.
Bộ phận dùng: lõi thân khô của cây Thông thảo - Medulla Tetrapanacis, phơi khô chứ không sấy, khi dùng xắt lát mỏng. Rễ, nụ bông cũng được dùng, có bông tháng 10 - 12. Vị ngọt, lạt, tính hơi hàn (lạnh), vào hai kinh Phế và Vị. Lõi dùng làm thuốc thông tiểu tiện, giãm sốt, trấn tĩnh, thanh thấp nhiệt, giải độc.
Hợp với Hoạt thạch, Xa tiền tử, chữa bịnh sốt khát nước, tiểu tiện khó, ho, tiểu buốt, tiểu mót.
Còn dùng làm thuốc hành khí, tiêu thực, lợi sữa. Ngày dùng 3-10 g dưới dạng thuốc sắc.
Chữa bịnh tiểu đỏ, bịnh lậu đái buốt, thủy thũng tiểu ít, trướng bụng, tuyến sữa không thông.
Đơn thuốc lợi sữa: Thông thảo 10g, cám gạo nếp 10g, hột Bông (sao vàng) 15g, nước 300ml, sắc còn 200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.
Phụ nữ có thai không được dùng.
Thốt Nốt - Hygrophylla salicifolia
Thổ Phục Linh - Salsepareille, Sarsaparilla
Sinh Địa có vị ngọt, đắng, tính lạnh. Có tác dụng bổ âm, thanh nhiệt, sinh huyết dịch, cầm máu. Công dụng: Sinh địa chữa âm hư, phát nóng về chiều, khát nước, đái tháo đường, thiếu máu, suy nhược cơ thể, tạng chảy máu, băng huyết, kinh nguyệt không đều, động thai, viêm họng, tâm thần không yên, mất ngủ. Liều dùng: 10 - 30g / ngày.
Thục Địa - Radix Rehmanniae glutinosae Conquitae, họ Scrophulariaceae
Thục địa là do Sinh địa chế biến thành, Thục địa là phần rễ của cây Địa hoàng Rehmannia glutinosae Libosch. Vị ngọt, hơi ôn. Qui kinh Can Thận. Tác dụng dược lý: Dưỡng huyết, bổ tinh ích tủy. Chủ trị các chứng huyết hư, phụ nữ kinh nguyệt không đều, băng lậu, can thận âm hư.
Đại bổ huyết hư, bất túc thông huyết mạch, ích khí lực. Bổ cốt tủy, trưởng cơ nhục, sinh tinh huyết, bổ ngũ tạng, nội thương bất túc, làm rõ tai mắt, làm đen răng tóc, nam tử ngũ lao thất thương, nữ tử thương trung bào lậu, kinh lậu bất điều, thai sản bách bịnh. Bổ huyết lấy Thục địa làm chính và Khung qui làm tá dược. Trị âm huyết hư không thể không có Thục địa. Bổ huyết lấy Thục địa mà nấu chưng rượu, vị đắng thành ngọt, tính lương thành ôn vào kinh can bổ huyết... ích tâm huyết, bổ thận thủy. Tư thận thủy cốt tủy, lợi huyết mạch, bổ ích chân âm, làm rõ tai mắt, làm đen râu tóc. Còn bổ tỳ âm, trị cửu tả, trị lao thương phong tý, âm hư phát nhiệt, ho khan, ho có đàm, suyễn, tức khó thở. sau khi mắc bịnh chân đùi đau nhức, sau khi sanh bụng rốn đau cấp, chứng cảm âm hư, tiện táo, không ra mồ hôi, các chứng huyết động, tất cả chứng can thận âm hư, bách bịnh hư tổn là chủ dược thuốc tráng thủy.
- Nước sắc Đại hoàng có tác dụng kháng viêm.
- Địa hoàng làm hạ đường huyết.
- Thuốc có tác dụng cường tim, hạ áp, cầm máu, bảo vệ gan, lợi tiểu, chống chất phóng xạ, chống nấm.
- Thuốc có tác dụng ức chế miễn dịch kiểu cocticoit nhưng không làm ức chế hoặc teo vỏ thượng thận. Thực nghiệm đã chứng minh Sinh địa và Thục địa đều có thể làm giảm tác dụng ức chế chức năng vỏ tuyến thượng thận của cocticoit.
Trên lâm sàng Đông y, thường dung Thục địa trong các bài thuốc để trị các chứng sau:
1. Trị chứng huyết hư kinh nguyệt không đều ở phụ nữ hoặc các chứng huyết hư khác như sắc da tái, hoa mắt, ù tai, thiếu máu: thường dùng bài Tứ vật thang (Cục phương) gia giảm.
- Tứ vật thang: Thục địa 20g, Đương qui, Bạch thược mỗi thứ 12g, Xuyên khung 6 - 8g.
- Gia giảm: Khí hư gia Đảng sâm, Hoàng kỳ để bổ khí sinh huyết, nếu ứ huyết nặng gia thêm Đào nhân, Hồng hoa ( tức bài Đào hồng Tứ vật) để tăng tác dụng hoạt huyết hóa ứ. Trường hợp huyết hư kiêm hàn gia Nhục quế, Bào khương để ôn dưỡng huyết mạch. Nếu huyết hư sinh nội nhiệt gia thêm Liên kiều, Đơn bì, Thục địa thay bằng Sinh địa để lương huyết dưỡng huyết. Trường hợp huyết hư kèm chảy máu bỏ Xuyên khung gia A giao, Hoa hòe để bổ huyết chỉ huyết.
2.Trị chứng âm hư (hư nhiệt sốt âm ỉ vào chiều tối nặng hơn, sốt kéo dài, ra mồ hôi, môi khô, lưỡi thon đỏ, mạch tế, sác) thường gặp trong các bịnh nhiễm thời kỳ hồi phục, bịnh ung thư suy kiệt, bịnh chất tạo keo, viêm đa khớp dạng thấp, bịnh suy giảm miễn dịch. Tùy theo bịnh lý có thể chọn dùng các bài sau:
- Tả qui hoàn (Cảnh nhạc toàn thư): Thục địa 20g, Sơn thù, Câu kỷ tử, Thỏ ty tử, Lộc giác giao, Qui bản mỗi thứ 12g, Sơn dược 16g, Ngưu tất 12g, tán bột mịn luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 8 - 12g, ngày 2 lần.
- Lục vị Địa hoàng hoàn (Tiểu nhi dược chứng trực quyết): Thục địa hoàng 32g, Sơn dược 16g, Sơn thù 16g, Bạch linh, Trạch tả, Đơn bì mỗi thứ 12g. Thục địa sắc lấy nước còn bã cùng các vị thuốc khác sấy khô tán bột mịn trộn với nước Thục địa cho thêm mật ong vừa đủ làm hoàn nhỏ. Mỗi lần uống 8 - 12g, ngày 2 - 3 lần với nước sôi nguội hòa nước nuối nhạt, chủ yếu là bổ thận âm.
- Đại bổ âm hoàn (Đơn khê tâm pháp): Thục địa (rượu chưng), Qui bản (dấm chích) mỗi thứ 24g, Tri mẫu, Hoàng bá mỗi thứ 16g, Thục địa sắc lấy nước như trên, các vị thuốc tán bột mịn cùn tủy heo chưng chín luyện mật làm hoàn, mỗi lần uống 8 - 12g, ngày uống 2 lần sáng tối.
Đối với những bệnh viêm thận mạn, huyết áp cao, tiểu đường, suy nhược thần kinh thể âm hư, dùng bài Lục vị gia giảm!
3.Trị hư suyễn: Kinh nghiệm cổ nhân có nói: "Thục địa là thuốc trị hư đờm". Bịnh nhân hư suyễn có thể dùng Thục địa uống thay trà hợp với Ngưu tất càng tốt. Có thể dùng các bài:
- Đô khí hoàn (Lục vị địa hoàng gia Ngũ vị tử) mỗi lần 8 -12g, ngày 2 lần, tùy trạng thái bịnh có thể gia vị sắc uống.
- Kim thủy lục quân tiễn (Cảnh nhạc toàn thư): Đương qui 12g, Thục địa 16g, Trần bì 6g, Bán hạ chế gừng 8g, Bạch linh 12g, Chích thảo 4g, sắc uống.
4.Trị táo bón do âm hư: thường trở thành tập quán dùng Thục địa 80g sắc với thịt nạc heo uống.
5.Trị tiểu đường: dùng bài:
- Sinh tân chỉ khát thang (kinh ngiệm): Đại Thục địa 12g, Thái tử sâm 16g, Sơn dược 20g, Ngũ vị tử 8g, sắc uống.
6.Trị huyết áp: mỗi ngày dùng Thục địa 20 - 30g liên tục trong 2 tuần.
7.Trị viêm thoái hóa cột sống: dùng Thục địa 30 cân, Nhục thung dung 20 cân, đều sấy khô, tán bột mịn, Cốt toái bổ, Dâm dương hoắc, Kê huyết đằng, mỗi thứ 20 cân, La bạc tử 10 cân, sắc thành cao còn 22 cân, gia mật 3 cân, trộn đều luyện thành hoàn nặng 2,5g/hoàn, mỗi lần uống 2 hoàn, ngày uống 2 - 3 lần, liệu trình một tháng.
8.Trị tế bào thượng bì thực quản tăng sinh: dùng Lục vị địa hoàng gồm: Thục địa, Sơn thù, sơn dược, trạch tả, Phục linh, Đơn bì theo tỷ lệ 8:4:4:3:3:3, tán mịn, luyện mật làm hoàn. Mật, thuốc tỷ lệ mỗi thứ 1/2, mỗi hoàn 10g, mỗi lần uống 1 -2 hoàn, ngày uống 1 - 3 lần liên tục trong 12 năm.
Liều lượng thường dùng: 10 - 30g, thuốc sắc, nấu cao, hoàn tán.Chú ý lúc dùng:
Thục địa tính nê trệ cùng dùng với Trần bì, Sa nhân để dễ tiêu hóa hấp thụ.
Theo kinh nghiệm cổ truyền: Thục địa sao thành than để cầm máu.
Thục địa ngâm rượu vừa có tác dụng bổ huyết vừa hoạt huyết.
Trường hợp tỳ vị hư hàn, tiêu chảy, biếng ăn hay đầy bụng, lúc cần nên phối hợp thuốc kiện tỳ hành khí.
Thục Quỳ (hoa Quỳ đất Thục), Mãn Đình Hồng - Hollyhock Mallow (hock leaf) - Althaea rosea, họ Malvaceae:
Sử dụng làm thuốc giúp dịu các cơn đau bao tử, ho và khó chịu đường tiểu. Bông dùng nấu nước uống giúp sản phụ dễ sinh và giúp tăng sữa. Trẻ em đang mọc răng được cho nhai cọng hoa để giúp giảm đau nướu, lợi. Nước sắc toàn cây dùng làm thuốc súc miệng, trị viêm họng. Lá tươi giã nát dùng đắp vết thương, vết cắn do côn trùng. Hollyhock thường được dùng hợp với * Inula helenium, Tussilago farfara (Khoản Đông Hoa họ Cúc) và Thymus (Cỏ Xạ Hương họ Hoa Môi Lamiaceae) để làm xi rô trị ho. Lá non ăn thay rau. Cánh hoa và nụ hoa nấu chín trộn sa lát.
Inula helenium Thổ Mộc Hương, tên khác: Hoàng Hoa Thái, thuộc họ Cúc Asteraceae. Lá phía gốc to hơn lá ở thân, mọc so le. Mép lá có răng cưa không đều, bông màu vàng.
Bộ phận dùng: rễ củ. Thu hoạch rễ vào mùa thu từ cuối năm thứ 2 đầu năm thứ 3.
Vị cay, đắng, tính ôn, không độc. Vào kinh Tâm, Phế, Can, Vị, Tỳ, Bàng Quang, Đại Trường.
Có tác dụng trừ độc, trị tà khí, điều hòa khí, kiện vị, giúp ăn ngon miệng. Trị ngực bụng đầy trướng, đau bụng, ói mửa, tiêu chảy, lỵ, phù thũng, thông tiểu.
Người âm hư, táo nhiệt không dùng. Thổ mộc hương có tác dụng tiết khí, vì vậy người khỏe mạnh uống lâu ngày sẽ không tốt.
Dùng để điều khí thì dùng sống. Rễ ngâm nước, vớt ra, ủ trên vải ướt, khi nước ngấm vào mềm đều, xắt phiến, phơi khô dùng sống hoặc trộn với bột mì đem nướng rồi dùng. Rửa sạch, phơi trong bóng mát cho khô, cắt mỏng, tán bột. Khi dùng, cho vào nước thuốc đã sắc xong, quậy đều uống hoặc mài với nước thuốc thang đã sắc rồi, uống.
Liều dùng 2 - 12 g
- Hoa Mãn Đình Hồng vị ngọt/mặn, tính hàn, làm lợi tiểu, nhuận táo, hoạt huyết, điều kinh, tán ung, giải độc. 12 g hoa, sắc nước uống, trị đại, tiểu tiện không thông, phụ nữ kinh nguyệt không đều, trị phong thấp.
- Hột có vị ngọt, tính hàn, tác dụng lợi tiểu, thông lâm, thông đại tiện, hạ nhiệt.
- Rễ dùng trị kiết lỵ, làm dịu.
Chú ý: cây Thục Quỳ vàng còn gọi là Bụp Mì Abelmoschus manihot, họ Malvaceae, lá ăn thay rau, hoa trị bịnh tương tự như Mãn Đình Hồng. Thân, lá, hoa chứa chất nhầy abelmoschus mucilage, 17% protein và 82% polysaccharid. Dùng trị viêm phế quản mạn tính, ho dai dẳng.
Lá Thúi Địt - Paederia lanuginose, Paederia tomentosa, Paederia consimilis, Paederia scandens. Họ Càfe Rubiaceae. Tên khác: Mơ lông; Dây Mơ tam thể; lá Mơ; Ngưu Bì Đống; La ma
Vị hơi mặn, thơm, không độc, tính bình. Dược năng: điều hòa khí huyết, tiêu đàm, giải độc. Chủ trị đau bụng nóng, kiết lị, đau ruột, tê thấp, hạ cung huyết, ứ huyết, chữa sạn thận, bí tiểu tiện. Ăn sống như gia vị, rau. Có thể nấu tươi 30g, nấu khô 10g uống, hay chưng hoặc xào ăn.
- Chữa táo bón, đi vệ sinh ra máu và đau: trứng gà và lá thúi địt trong vòng 3 ngày là khỏi.
200g lá thúi địt rửa sạch xắt nhỏ; 2 trứng gà đánh và trộn với lá thúi địt, nêm thêm gia vị: muối, bột canh. Cho chút dầu vô chảo, chiên hổn hợp, ăn ngay lúc nóng với cơm.
- Trị kiết lị, đau bụng nóng: 40-50g lá thúi địt xắt nhỏ, chưng với một trứng gà, ăn 2-3 lần là khỏi.
- Hạ huyết áp và ứ máu: Lá thúi địt tươi 50g, lá Giấp cá 40g, nấu với 1/2 lít nước, uống mổi ngày 2 lần, trong 3 ngày.
Lá Thuốc Vòi - Pouzolzia zeylanica (Linnaeus) Bennett, thuộc họ Urticaceae. Tên Khác: Cây Thuốc Dòi, 雾水葛 Wu Shui Ge.
Trị ho dai không dứt, chữa viêm họng, bài thuốc dân gian: dùng một nắm lá thuốc dồi, 1 nắm nhỏ lá Ngải Cứu, vỏ nửa trái cam hay quýt; một nắm nhỏ Cam thảo đất. Tất cả đâm nhuyển, nước một trái dừa xiêm cho vào tổng hợp đã đâm nhuyễn, lược xong chia ra nhiều phần, uống mỗi ngày một trái.
Thược Dược -Dahlia, họ Asteraceae tên gọi của một vài loài Mẫu Đơn Paeonia
Thương Lục Mỹ - Phytolacca americana, họ Phytolaccaceae. Rễ củ - Radix Phytolaccae Trái và lá đều được dùng. Thường dùng ngoài da để điều trị bịnh về da, nấm da đầu. Lá giã nát, sao nóng đắp lên những vết ghẻ lở, lang beng. Rễ dùng làm thuốc lọc máu trong lúc điều trị bịnh thấp khớp, béo phì.
- Mỹ da đỏ dùng trà từ trái Thương Lục Mỹ để trị lỵ. Trái giã ra trị lở loét.
- Rễ dùng trị phỏng, trặc, sưng.
- Lá được chế thuốc làm long đờm, giã đắp lên vết thương, mụt.
Chú ý: - Không dùng cho phụ nữ có thai và người tỳ vị hư, nhược. - Một số người lầm gọi nó là Sâm Cao Ly, Nhân Sâm, dẫn đến trường hợp ngộ độc!
Thương Truật Atractylodes carlinoides, Atractylodes chinensis, họ Compositae. Các tên khác: Mao Truật, Xích Truật, Nam Thương Truật là thân rễ của cây Thương Truật
Thương Truật vị cay đắng, tính ôn, qui kinh Tỳ vị. Có tác dụng táo thấp kiện tỳ, phát hãn, trừ phong thấp, minh mục quáng gà, mắt khô.
- Trị viêm khớp đau do phong hàn thấp hoặc do thấp nhiệt:
Thường Truật; Tần Giải; Tần Giao; Mộc Qua; Ý Dĩ Nhân; Tang Ký Sinh; Thạch Hộc; Hoàng Kỳ; Thục Địa; Thạch Xương Bồ: mỗi vị đều 10 g
Quế Chi 6 g; Tàm Sa 10 g; Cam Thảo 3 g, sắc uống. Trị viêm khớp mạn thể phong hàn thấp.
* Nhị Diệu Hoàn: Thương Truật, Hoàng Bá Sao (sao) lượng bằng nhau, tán bột mịn làm hoàn, mỗi lần uống 6-10 g, ngày 3 lần với nước ấm. Trị viêm khớp thể thấp nhiệt.
- Trị rối loạn tiêu hóa, bụng đầy, tiêu chảy, ói:
*Bình Vị Tán: Thương Truật, Cao Bản, Xuyên Khung, Khương Hoạt, Bạch Chỉ, các vị đều 6 g
Cam Thảo 3 g, Tế Tân 3 g, tán bột mịn, uống ấm.
- Trị chứng quán gà, Thương Truật nấu với gan heo ăn.
Liều lượng dùng và chú ý:
5-10 g dùng sống tính táo của thuốc mạnh, sao lên bớt táo. Không dùng trong trường hợp âm hư nội nhiệt, biểu hư, nhiều mồ hôi, đại tiện táo bón. Bịnh âm hư, triệu chứng huyết thiểu tinh bất túc, nội nhiệt cốt chưng, miệng khô, ho có đàm, thổ huyết, chảy máu mũi, họng tắc, đại tiện táo thì không dùng.
Tiên Mao - Curculigo orchioides Gaerten, họ Thủy tiên (Amaryllidaceae). Tên khác: Sâm cau (vì lấy rễ làm thuốc nên gọi là Sâm, lá giống lá Cau), Ngải cau. Tên thuốc: Rhizoma Curculiginis
Dược thảo chứa testosteron, một nội tiết tố sinh dục nam. Bộ phận xử dụng là rễ củ Tiên mao. Đào củ rễ vào đầu xuân, bỏ rễ xơ, phơi nắng và xắt lát mỏng. Có vị cay, hơi đắng, tính ấm, có độc, đi vào kinh Thận giúp ôn thận, tráng dương, mạnh gân cốt, trừ hàn thấp. Chủ trị chứng dương suy, lãnh tinh. Ngoài ra còn dùng để chữa phong thấp, tâm can suy nhược, liệt dương, ho, trĩ, vàng da, đi tiêu lỏng, ghẻ, viêm da (giã nát đắp bên ngoài). Có khả năng tăng cường công năng miễn dịch, gia tăng khả năng chịu đựng của cơ thể trong lúc thiếu dưỡng khí, có tác dụng trấn tĩnh, chống co giựt, kháng viêm, chống huyết tắc, chống nấm, kháng ung thư, tăng sức hoạt động của tim, giãn mạch vành. Tiên mao rất hợp với Sâm.
- Thận dương hư có triệu chứng như bất lực, đau lạnh ở lưng phần dưới và đầu gối do thấp phong hàn xâm nhập làm ngưng trệ: dùng Tiên mao với Dâm dương hoắc.
Liều dùng trung bình mỗi thang là 10-15g Tiên Mao dạng thuốc sắc hoặc luyện thành hoàn. Người bị âm hư, hỏa vượng không được dùng.
- Dùng cho loại "Mệnh môn hỏa suy", gồm cách triệu chứng như: giao hợp không xuất tinh, nhu cầu tình dục giãm, lưng gối yếu, chân tay không ấm, tiểu nước trong, đại tiện phân nát.
Phụ tử chế 6g, nhục quế 3g, thục địa 15g, sơn dược 12g, sơn thù 6g, câu kỷ tử 12g, thỏ ty tử 15g, đương quy 12g, tiên mao 12g, tiên linh tỳ 12g, mộc hương 9g, trần bì 6g, ngô công phấn 1,5g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2-3 lần.
-
Rượu tiên mao: Có công hiệu trị liệt dương, lưng đau lạnh, phong thấp, thần kinh suy nhược. Gồm tiên mao (xắt mỏng sao vàng) 50g, rượu gạo 650ml. Cho tiên mao vào rượu ngâm, sau 7 ngày có thể dùng được
(hằng ngày lắc nhẹ bình ngâm 1-2 lần). Ngày uống 2 lần vào bữa ăn, mỗi lần uống 1 chén chừng 30ml.
Tiểu Kế - Herba cephalanoplosis, Cephalonoplos segetum, họ bông Cúc Asteraceae. Tên khác: Miêu kế, Thích kế thái, Thích nhi thái, Thiên châm thảo.
Dùng toàn cây. Vị ngọt đắng, khí hàn, tính lương không độc. Qui kinh Tâm Can. Có tác dụng lương huyết, chỉ huyết, giải độc, tiêu ung, lợi tiểu, hạ huyết áp, trị viêm gan, viêm thận, trĩ. Trị lạc huyết, thổ huyết, băng lậu, nhiệt độc sang ung, xuất huyết do nhiệt, tiêu ra máu, dùng đắp ngoài da cầm máu, trị ung nhọt.
- Trị chảy máu cam, dùng bông gòn thấm nước Tiểu kế nhét mũi, mỗi ngày 3-4 lần.
- Trị xuất huyết sau khi sanh do tử cung co bóp thiểu năng, dùng cao nước tiểu kế (1:10) mỗi lần 1-3ml, ngày uống 3 lần.
- Phòng, trị kiết lỵ dùng 100ml thuốc sắc có 50g thuốc sống, người lớn ngày uống 50ml, trẻ em giảm liều, uống cách nhật, 3 lần một ngày.
Liều uống 10-30g. Thuốc tươi dùng 30-60g, có thể giã đắp mụn nhọt hoặc vắt nước uống. Đối với mụn nhọt dùng thuốc nấu nước rửa.
Thận trọng lúc dùng đối với bịnh nhân dễ bị tiêu chảy, tỳ vị hư hàn, bịnh nhân yếu.
Trầu Không - Betel pepper
- Uống hỗn hợp nước cốt trầu không pha chung với sữa loãng, một chút đường sẽ giúp chấm dứt được tình trạng tiểu giắt.
- Chữa nhức đầu: Lá có tác dụng giảm đau và làm mát. Lá trầu giã dập rồi xoa vào thái dương hay đỉnh đầu.
- Khi mắc bịnh về phổi, lấy lá tẩm dầu mù tạt rồi hơ ấm, đặt lên ngực day nhẹ sẽ giảm được ho và giúp bệnh nhân thở dễ hơn.
- Phỏng nước sôi: Lấy lá trầu không hơ nhẹ để lá mềm ra rồi phết một lớp dầu thầu dầu rồi đặt nhẹ lên vết phỏng, sau vài giờ lại thay 1 lá trầu không mới. Sau vài lần, dịch trong vết phỏng sẽ tiêu hết, chỗ dộp không mọng nước, không gây mủ. Nên dùng vào ban đêm và bỏ lá đi vào sáng sớm.
- Khi đau họng, dùng trầu không sẽ rất công hiệu. Lấy lá trầu không và ít hoa trái xay nhuyễn lấy nước, trộn thêm mật ong rồi ngậm thật lâu, nếu uống được thì càng tốt, sẽ giảm các kích thích gây ho.
- Chống viêm nhiễm: Lá trầu không luôn có tác dụng hữu hiệu với bịnh thấp khớp và viêm tinh hoàn.
- Khi bị thương, vắt nước cốt trầu không rửa vết thương rồi dùng lá trầu không sạch phủ lên, băng lại. vết thương sẽ khô, kín miệng sau 2 ngày.
- Suy nhược thần kinh: Khi đau dây thần kinh, hay mệt mỏi, suy nhược thần kinh, lấy nước cốt vắt từ vài lá trầu không với một muổng mật ong. 1 muổng hỗn hợp này chia làm 2 lần trong ngày.
- Dùng lá trầu không hơ nóng hoặc nước cốt trầu không trộn với dầu dừa rồi đắp vào thắt lưng sẽ giúp giảm đau lưng nhanh chóng.
- Khi đang cho con bú bị tắc tuyến sữa, hãy lấy lá trầu không tẩm một chút dầu gió xoa nhẹ, sẽ kích thích sữa chảy nhanh và tuần hoàn dòng sữa tốt.
Chú ý: không nên áp dụng nhiều vì bé dễ bị khó tiêu, viêm lợi.
Tục Đoạn Dipsacus japonicus, họ Dipsacaceae
Cây Thương Lục Mỹ
Rễ giống Củ Sâm
Coi chừng kẻo lầm
Mang họa vào thân.
cây Tiền - Crassula arborescens
Tiểu Quỳnh - Christmas CactusTi-Gôn – Coral Vine/Chain of love/Bleeding Heart - Antigonon leptopusTim Vỡ - Bleeding Heart
Trà Mi - Camellia japoniaca, họ trà teaceae. Các tên khác: Trà My, hồng Nhật bản, CamellusTrang - Ixora mauiTrinh Nữ - Mắc Cở - Cỏ Thẹn - Mimosa pudica - Tickle Me Plants
Trúc Đào - Nerium oleander
Tử Đinh Hương - Lilac
****Uất Kim Hương - Tulip
Thông và Tùng Bách là chung một Bộ, cùng là cây lá kim. Tất cả các loại thực vậy có trái hình nón như Tuyết Tùng, Thông, Vân Sam, Linh Sam, Thông rụng lá, Cự Sam, Hoàng Đàn, Tùng Tháp hay Thanh Tùng v.v. đều được gộp vào trong bộ này. Thông là họ thân gỗ cao, Tùng là họ cây thân gỗ thấp hoặc cây bụi. Các họ: họ Thông Pinaceae; họ Bách Tán Araucariaceae; họ Thông Dù Sciadopityaceae; họ Hoàng Đàn, Tùng Bách Cupressaceae; họ Đỉnh Tùng Cephalotaxaceae; họ Thanh Tùng Taxaceae.
Tùng Bách - Juniperus chinensis, họ Cupressaceae. Tên khác: Tùng Xà
Đỗ Tùng - Juniperus communis,
họ Cupressaceae.
Dẻ Tùng - Amentotaxus, họ Thanh Tùng / họ Thông đỏ / Thủy Tùng - Taxus baccata, họ Taxaceae
Đỉnh Tùng - họ Cephalotaxaceae
Tùng La Hán - Podocarpus macrophyllus, họ podocarpaceaeVạn Niên Tùng - Juniperus squamata. Tên khác: Tùng Tháp
Vạn Tuế (Bắc), Sơn Tuế (Nam) - Cycas revoluta, Eukaryota, họ Cycadaceae (* coi giải thích)
Viễn Chi - Polygale, Polygala senegalá Vối - Cleistocalyx circumscissa, họ Myrtaceae, Schima khasiana, S. argentea, họ Theaceae
Dùng tươi hoặc phơi nắng thật khô giòn rổi dùng.
Lá Vối khô cho vào ấm, cho nước lạnh nấu đến khi sôi, uống nóng hoặc lạnh. Nụ Vối cũng nấu tương tự như vậy, hoặc có thể hãm trong nước sôi như hãm trà. Nước Vối có vị đắng nhẹ, hơi ngọt. Dùng chủ yếu để uống giải khát, cũng có thể chan cơm như một loại canh. Nước sắc đặc có thể dùng làm thuốc sát khuẩn chữa bịnh ngoài da như ghẻ lở, mụn nhọt, diệt được một số loại vi khuẩn gây bịnh như Streptococcus, Staphylococcus, vi khuẩn Bạch hầu, phế cầu, Salmonella, Bacillus subtilis. Lá Vối tươi vò nát, nấu với nước sôi có thể gội đầu chữa ghẻ chốc, lở loét.
Cây Xá Xị - Cinnamomum parthenoxylon Meissn, họ Lauraceae. Các tên khác: Vù Hương, Gù Hương, Rè Hương, Re Dầu, Re Hương, Cô Châu, Canh Châu, Hoàng Chương, Hương Chương, bois de vierge
- tinh dầu gỗ thân và gỗ rễ cây có mùi giống mùi nước uống xá xị (Salsepareille) nên người miền Nam đặt cho cây này tên như vậy.
Hột chứa nhiều dầu béo. Cây mọc nhiều nhứt ở vùng Lâm Đồng, Đồng Nai, Sông Bé.
Bộ phận dùng: rễ, thân, lá, trái (Radix, Caulis, Folium, Fructus Cinnanomi Parthenoxyli).
Vị hơi đắng, cay, tính ấm. Rễ, thân có tác dụng ôn trung tán hàn, tiêu thực hóa trệ. Lá có tác dụng cầm máu. Trái giải biểu thoát nhiệt. Cũng như Long Não, tinh dầu, dầu của hột được dùng chữa đau, tê thấp.
Rễ, thân dùng trị cúm, cảm mạo, ăn uống không tiêu, bụng đầy trướng, đau dạ dày, viêm khớp xương do phong thấp, tiêu hóa không bình thường, ho gà.
Lá dùng trị ngoại thương xuất huyết.
Trái dùng trị cảm mạo sốt cao, bịnh sởi.
Loại nước xá xị của Mỹ, Kim thường uống là loại này ...
ngon lắm ... khi nào ăn không tiêu ạch ử khó chịu, uống một lon vô, ngủ một giấc là khỏe như mới. Cũng có xá xị làm tại Thái và Tàu, nhưng Kim không uống vì không bảo đảm không có chất độc trong đó, của Mỹ vì được duyệt xét kỷ và hảng của họ cũng xét kỷ, vì nếu có độc người dân uống bịnh, kiện bắt đền là xập hảng của họ nên bảo đảm hơn.
* chuyện của bản thân nói về đồ hộp của Tàu và Thái: có một lần mua một hộp hột sen đã nấu chín bỏ trong nước đường sản xuất tại Tàu và một lần mua hộp Sương Sáo làm tại Thái. Khui hộp hột sen ra ăn xong đem quăn cái lon mới thấy phía trong của lon có 1 chổ bị móp vô nứt một lằn cở 1 cm, từ chổ đó có rỉ ... ít nên nước không bị đổi màu nên Kim không thấy, thì ra là xui xẻo mua nhằm cái lon bị móp một tí, vì có nguyên tấm giấy nhản che chổ móp nên mua không để ý. Đem lon ra mắng vốn chủ tiệm, rốt cục ăn trét luôn, không có cả một tiếng xin lổi của họ :( .
Lần khác mua lon Sương Sáo, làm xong sẳn sàng nước cốt dừa hòa đường ngào, nước đá nhận, hý hửng khui lon Sương Sáo, tưởng có được một món ăn mát rượi ngày hè. Đang Cắt thành hột lựu cho vào tô, cắt luôn nguyên một cái con gì đó như con gián vậy, hét lên một tiếng hải hùng ... từ đó về sau ... đói sắp chết cũng không mua đồ hộp Made in China or Made in Thailand :(
Xà Sàng Tử - Fructus cnidii Monnieri. Tên khác: hột Giần sàng, She chuang zi;
Giần Sàng Cnidium monnieri, họ Apiaceae
Xà Sàng Tử là trái của Giần Sàng, trái hình bầu dục, hơi dẹp, dài khoảng 2-5 mm, rộng 1-5 mm, có rìa mỏng dạng cánh. Hột phơi hay sấy khô. Vị cay, đắng, tính ấm, bình, không độc, có tác dụng ôn thận tráng dương, táo thấp, khư phong, sát trùng. Thường dùng chữa liệt dương, phụ nữ lạnh tử cung vô sinh, khí hư, vùng âm đạo ngứa, sưng đau, lưng gối mỏi đau, nam giới liệt dương. Liều dùng 4-12 g dạng thuốc sắc, uống riêng hay hợp với các vị thuốc khác. Uống lâu mạnh chân âm sẽ sinh con, làm nhẹ mình, trừ khí tắc, lợi khớp, chữa động kinh.
Dùng ngoài, nấu nước rửa chữa phụ nữ ngứa ở âm đạo, viêm âm đạo, ghẻ lở.
Xà sàng lấy hột để sao qua
Tính nó ấm cay chẳng độc mà
Thận thấp âm nuy tiêu ghẻ lở
Khứ phong trục ứ giúp muôn nhà
- Chữa nam giới âm nang thấp ngứa: Xà sàng tử 16g, ba kích 12g, viễn chí 10g, ngưu tất 12g, hà thủ ô 12g, dương khởi thạch 10g. Nước 600ml, sắc còn 200ml uống 2 lần trong ngày giữa 2 bữa ăn.
- Trị âm hộ sưng đau: Xà sàng tử 12g, ba kích 10g, ngưu tất 10g, đỗ trọng 12g, tục đoạn 10g, địa hoàng 10g, hoàng bá 10g. Nước vừa đủ sắc còn một nửa, uống 2 lần trong ngày.
- Trị khí hư bạch đới: Xà sàng tử 12g, hoàng bá 10g, sơn thù nhục 10g, ngũ vị tử 8g, phục linh 12g, xa tiền tử 10g, hương phụ chế 10g, tục đoạn 10g, bồ cốt khí 8g. Nếu khí hư ra đỏ thì thêm bạch giao 10g, a giao 10g cắt nhỏ cho vào thuốc đã sắc xong hòa tan uống. Cách sắc như bài trên.
- Trị liệt dương: Xà sàng tử 200g, ngũ vị tử 100g, thỏ ty tử 100g, tất cả nghiền nhỏ hòa mật, quết nhuyễn làm viên bằng hột bắp. Ngày uống 3 lần mỗi lần 30 viên với rượu ấm; không uống được rượu thì pha rượu vào nước nóng mà uống để dẫn thuốc nhanh.
- Trị không có kinh mà khí hư trắng hoặc đỏ: Xà sàng tử 100g, phèn chua nướng khô 100g, hai thứ giã nhỏ trộn đều hòa với dấm làm viên vừa phải đặt vào âm hộ. Ngày làm 1 lần.
- Trị tử cung lạnh: Xà sàng tử 50g nghiền nhỏ, cho thêm chút ít bột hoàn viên như trái táo tàu đặt vào sẽ ấm.
- Trị đàn bà hay ngứa âm hộ: Xà sàng tử 40g, bạch phàn 8g. Sắc nước rửa hằng ngày.
- Sau khi sanh, sa tử cung: Hạt xà sàng 200g, ô mai 14 trái. Sắc nước rửa ngày 5-6 lần. Đàn bà âm hộ đau cũng dùng nước này ngâm rửa.
- Nam giới tinh hoàn sưng đau: Bột hạt xà sàng vừa đủ hòa với 1 tròng đỏ trứng gà đắp lên chổ đau.
- Trị lòi dom: Hột xà sàng 40g, cam thảo 40g. Nghiền nhỏ mỗi lần uống 4g với nước ấm, ngày uống 3 lần.
- Đau trĩ, lở sưng đau: Dùng hột xà sàng sắc nước ngâm rửa trĩ.
- Trị trẻ em bị lở ngứa: Bột hột xà sàng hòa mỡ heo bôi chỗ ngứa.
- Trị tai chảy nước: Hoàng liên 4g, hạt xà sàng 4g, khinh phấn chút ít, nghiền nhỏ thổi vào tai.
- Trị răng sâu đau: Hột xà sàng sắc nước đặc, ngậm lúc nước nóng, ngày ngậm 2-3 lần, mỗi lần ngậm 5-10 phút.
- Trị đau cổ họng đờm tắc: Hột xà sàng đốt trong lò sưởi, dùng phễu hứng khói hít khói đó, tác dụng thông đờm.
Xô Hương - Sage
Xuyên Ngưu Tất - Huai Niu Xi, Radix achyranthis Bidentatae, officinalis Kuan
Rễ phơi hay sấy khô. Vị đắng, chua, bình. Qui kinh Can Thận.
Thuốc có tác dụng hoạt huyết khu ứ, bổ can thận dưỡng gân cốt, lợi niệu thông lâm, dẫn huyết và hỏa xuống phần dưới cơ thể. Chủ trị các chứng: rối loạn kinh nguyệt, đau kinh, tắt kinh, đau bụng sau sanh, đau do chấn thương, lưng gối nhức mỏi, huyết niệu, tiểu tiện đau buốt, không thông, các chứng thổ huyết, nục huyết, đau lợi răng, miệng lưỡi lở, nhức đầu chóng mặt, sanh khó.
- Chủ hàn thấp nuy tý, chân tay co quắp, gối đau không duỗi được, trục huyết khí, lở loét do hỏa nhiệt, trụy thai.
- Trị nam thận âm suy giảm, người già tiểu không tự chủ, tăng cốt tủy, trị đau trong não và cột sống thắt lưng, trị phụ nữ kinh nguyệt không đều, huyết kết, ích tinh, lợi âm khí, giảm tóc bạc.
- Ngưu tất sao rượu bổ can thận, dùng sống trừ ác huyết (máu độc). Trị đau lưng gối, chân teo, âm tiêu (yếu sinh lý) tiểu không tự chủ (thất niệu), sốt rét lâu ngày (cửu ngược). Thuốc còn trị chứng trưng hà, các chứng tâm phúc thống, ung thũng ác sang, họng lợi răng đau, tiểu đau, tiểu ra máu, các chứng kinh thai sản nhờ thuốc có tác dụng khử ác huyết.
- Trị chứng ngũ lâm, dùng Ngưu tất 1 lạng gia thêm ít Nhũ hương sắc uống vài thang là khỏi, nhờ tác dụng đi xuống mà thông được tiểu tiện.
- Ngưu tất nguyên là thuốc bổ, chuyên đưa khí huyết đi xuống, mà dùng làm thuốc dẫn dược.Thuốc trị chứng thận hư, đùi lưng đau, gối đau không co duỗi được, cẳng teo không đi lại được. Trị con gái kinh bế huyết khô, có tác dụng dục sản. Trị chứng tiểu buốt (lâm thống), thông lợi tiểu tiện.
Trị bệnh phụ khoa: như rối loạn kinh nguyệt, đau kinh, kinh bế, đau bụng sau sanh do thuốc có tác dụng thông kinh, khu ư,ù chỉ thống. Thường dùng hợp với Đào nhân, Hồng hoa, Đương qui. Có thể dùng các bài thuốc sau:
- Xuyên Ngưu tất 20g sắc nước uống với rượu trị kinh bế, kinh không thông.
Thoát hoa tiễn: Hồng hoa, Xuyên khung mỗi thứ 6g, Xuyên Ngưu tất 16g, Đương qui 12g, Nhục quế (tán bột hòa uống) 3g, Xa tiền tử 12g, sắc uống trị sinh khó, thai chết lưu không ra.
- Ngưu tất tán: Ngưu tất, Đương qui, Xích thược, Đào nhân, Diên hồ sách, Đơn bì đều 12g, Quế tăm, Mộc hương đều 6g, tán bột mịn, mỗi lần uống 10g, ngày 2 - 3 lần với rượu ấm trị hết kinh đau bụng.
Trị các chứng gân cơ yếu: (thuốc có tác dụng tư bổ can thận) thường phối hợp với Thục địa, Qui bản, Tỏa dương, Hổ cốt. Bài thuốc thường dùng:
- Hổ tiên hoàn ( Y phương tập giải): Qui bản, Hoàng bá, Tri mẫu, Thục địa, Đương qui, Tỏa dương, Bạch thược, Trần bì, Hổ cốt, Ngưu tất.
Trị chứng tê thấp khớp đau: dùng Ngưu tất phối hợp với Thương truật, Hoàng bá, Ý dĩ như các bài:
- Tam diệu tán (hoàn) ( Y học chính truyền): Thương truật 12g, Xuyên Ngưu tất 12g, Hoàng bá 8g, tán bột mịn trộn đều mỗi lần uống 10g, ngày 3 lần với nước gừng.
- Tứ diệu hoàn (Thanh phương tiện độc) gồm Ngưu tất gia Mộc qua, Phòng kỷ, Tỳ giải.
Trị chứng tiểu ra máu: (viêm niệu, sạn niệu) dùng Ngưu tất gia Đương qui, Cù mạch, Hoạt thạch ( Ngưu tất thang trong sách Bị cấp thiên kim yếu phương).Phòng trị chứng Bạch hầu: Ngưu tất 7 phần, Cam thảo 3 phần, sắc uống thay nước trà hằng ngày.Trị chứng thổ huyết, nục huyết ( chảy máu cam): thường dùng hợp với Tiểu kế, Bạch mao căn, Chi tử. Dùng Ngưu tất, Đại giá thạch, Tiên hạc thảo lượng bằng nhau trị chảy máu cam, uống trung bình trên dưới 10 thang đều khỏi.
Trị tử cung xuất huyết cơ năng: dùng Xuyên Ngưu tất mỗi ngày 30 - 45g sắc uống. Uống liên tục 2 - 4 ngày hết xuất huyết, trường hợp xuất huyết lâu ngày, uống tiếp thêm 5 - 10 ngày.
Trị Lactosurie: dùng Ngưu tất 90 - 120g, hột rau cần 45 - 60g, sắc 2 lần trộn uống chia 2 - 3 lần, uống 6 thang khỏi, 3 tháng thấy có kết quả.