Saturday, January 9, 2010

☯ Lục Thập Hoa Giáp - Ngũ Hành ☯

Chu kỳ 60 năm

muốn tìm "năm sanh" chẳng hạn, bấm một lượt Crtl và f
Ngũ đế: Hoàng đế (Huỳnh đế), Bạch đế, Hắc đế, Thanh đế, Xích đế, năm vị thần trấn năm hướng vào đây xem thêm! Ý nghĩa cũa Phú Quí, Cô Bần, Tân Khổ, v.v. xem bên dưới!
*Chú ý trong bài này tôi đề cập đến 2 loại Mệnh: Sinh mệnh và Cung mệnh. Sinh mệnh gắn liền với con giáp của một người và thường dùng trong tướng số, cân xương đoán số, là mạng "thiên định". Ngoài ra còn có Cung mệnh, trừ một số ít người, cung mệnh nam và nữ thường khác nhau (trai 7 vía, gái 9 vía) và cũng trừ một số ít người Cung mệnh thông thường khác với Sinh mệnh của một người.
Khác với Sinh mệnh, tất cả các câu hỏi trong đó thắc mắc của người xem là "có hợp hay là không?" thì phải xem Cung mệnh theo "Cung phi" (theo bảng này). Thí dụ một vài câu hỏi: vợ chồng có hợp hay không? chọn người làm ăn hùn hạp có hợp hay không? đeo đá phong thủy, mặc trang phục màu ngũ hành theo phong thủy như vậy có hợp hay không? xây nhà theo hướng (đông/tây/nam/bắc) như vậy có hợp hay không? tức là tất cả những gì "nhân định" chính mình có thể thay đổi vận số cho mình.
Sinh Mệnh = Cung Ký = Cung Sanh : hễ cùng tuổi với nhau thì đàn ông cung gì thì đàn bà cũng cung đó
Có đứa quen than với tôi rằng: "theo bảng này, em là con nhà Xích đế, cô bần! vậy là em thua chắc...", rồi mặt mày và thân người nó xìu và thểu nảo như cọng bún riêu. Tôi không thể nhịn cười, nói với nó: "hôm bửa nghe khoe xương 5 lượng 4 chỉ mà! Sao hôm nay mặt giống như mới bị ai giựt đồ vậy?".
Như đã có nói trong "Cân xương đoán số", số mạng con người không chỉ dựa vào có mấy chử trong Lục Thập Hoa Giáp này mà quyết định được trọn một đời người.
Tại sao biết bao nhiêu người sanh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm, cùng giờ, nhưng số mạng lại không giống nhau? Kẻ đang trên lưng voi bổng xuống cởi chó, người đang cực kỳ quang vinh lại phải vô ngồi tù? Ở xã hội nào cũng đều đọc được những tin tức đó!

Đời người từ khi mới sanh đã chịu ảnh hưởng môi trường bên ngoài, xã hội xung quanh cũng như tiềm năng, tánh nết ở bên trong, mầm mống, gien, phước đức hoặc gian ác, tham lam của cha mẹ ông bà tích lũy. Một số người tự mình lại nẩy sinh lòng tham, tham ô, tham nhũng, tham lời nhiều nên cuối cùng mất hết bởi vì y như người mê cờ bạc, càng thắng họ càng tham mà có ai nghe nói chủ casino nghèo bao giờ đâu? Tiền chưa chắc đem lại hạnh phúc và may mắn mà đôi khi nó mang lại họa diệt thân, trong một tíc tắc Họa Phúc, Thời Cơ có thể chuyển biến.
Ai nói số mạng không thể thay đổi? theo tôi thì "số mạng có thể đổi" không đổi được hoàn toàn, cũng có thể tạm thời thay đổi. Bởi vì giữa trời đất không có gì là tuyệt đối. Nếu đã tới số, đoán biết trước được thì mình tìm cách tránh, không được thì cũng không ân hận vì trước đó mình đã có thử né roài hihihi. Người nghiên cứu phong thủy cũng giống như người nhìn thiên nhiên mà đoán biết được hôm nay có mưa hay không? hôm đó họ muốn xuất hành và đã mang theo dù. Họ đã đoán đúng, trời trở mưa, nhờ có dù che mà họ có thể tránh được cảm lạnh, bịnh hoạn. Thiên thời trong thiên nhiên luôn luôn là như vậy, điều gì đến nó sẽ đến (trời mưa), may mắn cho những ai đoán biết được để có chút xíu lợi thế hơn những kẻ khác.
Vì Thiên cơ không nên nói ra, nên mình coi cho mình là tốt nhứt, vận số tự chính mình nắm trong tay. Quyết định đúng hay sai là do ở mình coi và hiểu được đến đâu về luật phong thủy, là những điều luật gom góp từ kinh nghiệm lâu đời truyền lại chứ không phải ai đó tùy tiện nói đại.

Có câu: "Đức năng thắng số" Đức ở đây không phải đem hết tiền cho ăn mày hay cúng nhà thờ hay "thầy" chùa để trông mong thần phật giúp, mà Đức chính là giúp người từ tâm của mình, giúp không kể công, cũng không cầu mong sự đền đáp và kỵ nhứt là lường công người khác.
Trong mọi việc làm, ăn uống, không nên làm ác hay giảm bớt cái ác. Bởi vì tích đức không những cho con cháu mà là cho chính mình trong kiếp này đó vậy.

Phần "Phụ giải tổng quát" được trích từ sách "Tử vi tướng pháp trọn đời" của tác giả Bảo Sơn.
1974,2034 Giáp Dần - cung Cấn - Dương Thủy - Đại Khê Thủy
: Nước dưới khe lớn - Lập định chi hổ: cọp ngồi yên - xương con cọp, tướng tinh con trâu - khắc Sơn Hạ Hỏa - con nhà Hắc đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Mậu Thân, Bính Thân, Canh Ngọ, Canh Tý.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Đoán xem số mạng Giáp Dần,
Đại Khê mạng Thủy nước sông chảy hoài.
Số tuổi lúc nhỏ gian nan,
Có lúc bịnh tật khóc hoài khó nuôi.
Lớn lên làm có của kho,
Có rồi lại hết sớm đầy tối vơi.
Số này phải chọn phương xa,
Lập nên cơ nghiệp vậy mà mới yên.
Nhân duyên trắc trở buổi đầu,
Về sau mới được an hòa gia môn.
Trung vận phát đạt giàu sang,
Cũng nhờ hồng phước của Trời ban cho.
Nhưng nhà chẳng đặng yên vui,
Trở về vận cuối gia môn đắc thành.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi giáp Dần này dù giàu hay nghèo cũng không đến nỗi cơ cực lắm, chỉ trừ người nào sanh vào mùa xuân và hạ thì mới bị khổ bần. Đêm ngày phải lo thân phận, khó mà sung sướng an nhàn được. Lúc nhỏ thì khó nuôi, có những bện hoạn bất thường. Làm có tiền của từ nhỏ nhưng số phải ngoài 40 mới tụ tài. Nhơn duyên phải chọn lấy, chớ cha mẹ không định đoạt. Tiền vận không khá, hậu vận mới vinh hiển.
Nữ mạng Giáp Dần có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Giáp Dần số gái khôn ngoan,
Đại Khê mạng Thủy nước khe chảy dài.
Đàn bà sanh thuận Thu Đông,
Thanh nhàn sung sướng có chồng giàu sang.
Xuân Hạ sanh ra lỗi mùa,
Đêm ngày lo lắng muôn phần chẳng an.
Nhưng số vận mạng gian nan,
Tưởng đâu âm phủ đòi sang đã rồi.
Số gái lập nghiệp phương xa,
Duyên tình trắc trở nhiều lần mới nên.
Anh em cha mẹ chẳng gần,
Ở gần sung khắc đi xa nhớ buồn.
Tiền vận có của như không,
Hậu vận tụ của gia đình ấm no.
Phụ giải tổng quát: Tuổi Giáp Dần con gái nếu sanh nhằm vào mùa thu và đông, nếu sanh nhằm ban ngày thì là người đàn bà quý tướng, ít khi đau ốm bệnh tật. Nếu sanh ban đêm là lỗi số, thường gặp chuyện chẳng may, số tình duyên trắc trở không thể sống một đời chồng. Lúc thiếu thời làm ăn giàu có nhưng cầm của chưa được. Trở về sau mới tụ tài, còn nếu thiếu âm đức thì khó sống, đến 31 tuổi là cùng. Khuyên nên ăn ở có đức thì mới trường thọ.
1975,2035 Ất Mẹo - cung Ly - Âm Thủy - Đại Khê Thủy - xương con mèo, tướng tinh con dơi - khắc Sơn Hạ Hỏa - con nhà Hắc đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Kỷ Dậu, Đinh Dậu, Tân Mùi, Tân Sửu.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Số tuổi Ất Mẹo như vầy,
Đại Khê nước lớn chảy về thiên nhiên.
Thu Đông sanh thuận mới yên,
Thanh nhàn sung sướng sáng kiến nhiều nghề.
Xuân Hạ lỗi số bị chê,
Giàu có làm đặng công thần cũng lo.
Xét qua trong đạo vợ chồng,
Hoa thơm hương nhụy trăng vòng tròn gương.
 Chẳng qua gãy gánh giữa đường,
Duyên sau chắp nối mới yên gia đàng.
Tiền bạc làm có trong tay,
Ba chìm bảy nổi đổi thay gia đình.
Số phải xa mẹ khắc cha,
Tha phương lập nghiệp tiền tài thạnh hưng.
Phụ giải tổng quát: Người tuổi ất Mẹo số giàu có nhưng khổ tâm cực trí không ít, dù cho có của kho nhưng tánh vẫn thấy mình thiếu thốn "túi tham không đáy". Nhưng được là ăn ở hiền lành không hại ai. Người lại có số đào hoa, sanh ban ngày là lỗi số cho nên cuộc đời thường gặp cảnh trái lòng. Số phải lập nghiệp phương xa mới thành đạt. Vợ chồng khắc khẩu hay cãi vã, gia đình thường hay bị xáo trộn, nhưng con cái đông và số trường thọ. Tuổi này từ trung vận trở đi mới được phú quý đến già.
Nữ mạng Ất Mẹo có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Ất Mẹo mạng Thủy cung Ly,
Nước trong khe lớn tự nhiên chảy hoài.
Thu Đông sanh đặng hạp thời,
Có phần sung sướng hưởng đời giàu sang.
Xuân Hạ lỗi số gian nan,
Phần đông vất vả tấm thân lạc loài.
Con người lòng dạ thông minh,
Bụng nghi thì có thật tình chẳng sai.
Làm ăn tiền bạc có hoài,
Ba chìm bảy nổi đổi thay gia đình.
Nhưng mà trong đạo vợ chồng,
Hoa thơm hương nhụy trăng vòng sáng gương.
Chẳng qua gãy gánh giữa đường,
Duyên sau chắp nối mới yên gia đàng.
Phụ giải tổng quát: Tuổi Ất Mẹo là con người thông minh sáng suốt, học ít biết nhiều, người có giác quan thứ sáu nghi đâu có đó, tánh lại hiền hòa cho nên có thần linh phù trợ, gặp tai nạn thấy chết trước mắt nhưng nhờ trời phật độ nên mới tai qua nạn khỏi. Số sanh được ban đêm thì quí tướng, có duyên lại có tài hoa, còn người nào lỗi số thì phải chịu hai đời chồng hoặc phải chịu nuôi em của chồng. Số này con cháu rất đông. Từ trung vận trở lên mới được an cư lạc nghiệp. Số cao, thọ đến 81 tuổi.
1976,2036 Bính Thìn - cung Khảm - Dương Thổ - Sa Trung Thổ
: Đất lẫn trong cát, Đất ở sa mạc - xương con rồng, tướng tinh con chuột - khắc Dương Liễu Mộc - con nhà Huỳnh đế, phú quí. Xung khắc với  tuổi: Mậu Tuất, Nhâm Tuất, Nhâm Ngọ, Nhâm Tý.
Nam mạng có bà Chúa Ngọc độ mạng.
Bính Thìn số mạng tuổi này,
Tuổi cùng với mạng ấy là tương sanh.
Số người tánh nết hiền lành,
Tánh thì đằm thắm thuận hòa tương lân.
Mạng này có phước lộc trời,
Phong sương cũng lắm gian nan cũng nhiều.
Số phải lập nghiệp phương xa,
Cửa nhà yên ổn gia môn hiệp hòa.
Trung vận làm có của kho,
Nhưng mà hậu vận mới là hiển vinh.
Số này phước lớm mới an,
Không thời chết hụt chết oan đã rồi.
Giận ai nói dữ nói nhiều,
Lòng không độc ác nói rồi bỏ qua.
Phụ giải tổng quát: Tuổi bính Thìn là người có nhiều dịp may mắn trong đời bởi tuổi cù với mạng tương sanh. Nếu sanh nhằm ban ngày thì là người có quyền tước lớn, có óc kinh doanh hoặc chỉ huy nhiều người. Người ăn ở có tâm đức, không làm điều gì xằng bậy, người hiền lương, siêng năng, trí sáng. Lúc nhỏ thường gặp cảnh khổ cực nhưng lớn lên thì được sung sướng. Kể từ trung vận sẽ được phát tài, gia đình có hạnh phúc. Số phận lập nghiệp phương xa thì mới khá, sống lâu.
Nữ mạng Bính Thìn có bà Chúa Ngọc độ mạng.
Bính Thìn cung Khảm sanh ra,
Mạng Thổ cát trắng thật là chẳng sai.
Mùa Hạ sanh đặng thời may,
Giàu nghèo cũng sướng guốc giày nhởn nhan.
Mùa Xuân sanh cái khổ nàng,
Rất là cực nhọc chẳng màng tấm thân.
Anh em cũng chẳng được gần,
Tình đầu trắc trở bởi sầu lương duyên.
Về sau nhờ phước lộc trời,
Cửa nhà yên ổn gia môn phát tài.
Trung vận còn phải bôn ba,
Trở về cuối vận mới là hiển vinh.
Nếu nàng tích đức tu thân,
Về sau con cháu muôn phần nhẹ lo. 
Phụ giải tổng quát: Số tuổi gái sanh nhằm mùa Hạ thì được thuận số dù giàu hay nghèo cũng được ăn trên ngồi trước. Nếu sanh nhằm ban ngày thì càng hợp hơn. Tánh người hiền hậu trí tuệ thông minh, không bao giờ phản bội ai dù ai có quấy cũng sẵn sàng tha thứ. Tuổi nhỏ thường gặp cảnh gian truân khổ cực từ trung vận mới tụ tài, gia đạo an hòa số có quới nhơn phù trợ dịp may thường đưa đến, có của hoạnh tài. Thọ đến 79 tuổi.
1977,2037 Đinh Tỵ - cung Khôn - Âm Thổ - Sa Trung Thổ : Đất pha cát - xương con rắn, tướng tinh con cú - khắc Dương Liễu Mộc - con nhà Huỳnh đế, phú quí. Xung khắc với  tuổi: Kỷ Hợi, Quý Hợi, Quý Sửu, Quý Mùi.
Nam mạng có bà Chúa Ngọc độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Trong tâm thường có tánh linh thường thường.
Số người khôn khéo mọi đường,
Nếu mà lỗi số thiên đình sầu vương.
Có khi mắc phải tai ương,
Phu thê cắn đắng đôi phen mới bền.
Thấy ai thất thế lỡ đường,
Ai mà than thở thì thương giúp liền.
Nhiều lúc làm có của tiền,
Cũng bị tan rã phá tan rã rời.
Bà con thân thích chẳng trông,
Một tay lập nghiệp gia môn an hòa.
Số này Trời đã ban cho,
Trở về hậu vận mới là thảnh thơi.
Phụ giải tổng quát: Số của tuổi đinh Tỵ con người có giác quan thứ sáu, thường hay nghi đâu có đó, linh tính báo trước chuyện may rủi hoặc nghi chuyện gì thì trúng. Nếu người nào sanh vào ban đêm mà nhằm vào mùa thu và hè thì có số lấy vợ giàu sang phú quý. Còn sanh ban ngày là lỗi số, lúc nhỏ gian lao cực khổ, thường thay đổi bạn. Tình duyên cũng trắc trở phải hai lần mới an gia thất, số tự tay tạo thành sự nghiệp chớ không nhờ họ hàng. Số thọ đến 78 tuổi nếu có âm đức.
Nữ mạng Đinh Tỵ có bà Chúa Ngọc độ mạng.
Đinh Tỵ mạng Thổ cung Khôn,
Đất mà pha cát số này như sau.
Nếu sanh mùa Hạ thời sang,
Như cá gặp nước như rồng lên mây.
Thu Đông cũng chẳng đặng an,
Mùa Xuân khắc Mộc nên nàng cực thân.
Lỗi sanh cha mẹ chẳng gần,
Ly hương tổ quán tại phần số ta.
Vợ chồng phải gặp xứ xa,
Tánh tình ăn nói ai mà chẳng thương.
Nhiều khi lắm phải tai ương,
Cũng nhờ Phật độ qua tuông khỏi nàn.
Tiền vận số phải lao đao,
Hậu vận toại hưởng giàu sang mấy hồi.
Phụ giải tổng quát : Số này lúc nhỏ phần đông phải chịu cảnh gian truân, cha mẹ anh em chẳng gần nhau, số khắc cha. Nếu cô nào sanh vào mùa Thu hay mùa Hạ thì được phú quý sang giàu. Nếu sanh nhằm ban đêm là thuận số, còn sanh nhằm ban ngày là lỗi số có cuộc sống cơ cực, phải tay gồng vai gánh, có chồng cũng chẳng được nhờ. Số lại đông con nhưng mà tay trắng làm nên chứ chẳng nhờ được ai. Số có chân tu nên có tai nạn cũng có quới nhơn giúp đỡ.
1918,1978,2038 Mậu Ngọ - cung Chấn - Dương Hỏa - Thiên Thượng Hỏa
: Lửa trên trời; nắng - xương con ngựa, tướng tinh con heo - khắc Sa Trung Kim - con nhà Xích đế, cô bần. Xung khắc với tuổi: Bính Tý, Giáp Tý.
Nam mạng có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Mậu Ngọ mạng Hỏa lửa trời sáng soi.
Xuân Hạ sanh đặng gặp thời,
Thong thả sung sướng an nơi thanh nhàn.
Tiền vận vất vả bôn ba,
Kể từ trung vận mới mong thanh nhàn.
Anh em xa cách chẳng gần,
Vắng mặt thương nhớ lại gần chẳng yên.
Bởi vì số nghịch đắng cay,
Gia đình lập trễ mới là bền lâu.
Nếu người tích đức thiện tâm,
Tu hành giải bớt oan gia nghiệp đời.
Trung vận chẳng đặng thảnh thơi,
Số người vận cuối giàu sang thanh nhàn.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi mậu Ngọ sanh thuận mùa thu và đông thì quý tướng. Nhưng tánh tình lại cứng cỏi bất đồng, làm ăn không tính toán, hễ muốn là làm khó ai cản được. Lòng dạ thông minh, thuở nhỏ vất vả, về già mới yêu, gia nghiệp thanh nhàn. Số có thể thọ đến 79 tuổi.
Nữ mạng Mậu Ngọ có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Mậu Ngọ mạng Hỏa số này,
Lửa trời soi sáng chiếu cùng khắp nơi.
Xuân Hạ sanh gái là nàng,
Thanh nhàn sung sướng có chồng giàu sang.
Thu Đông lỗi số cực thân,
Cuộc đời chẳng đặng thong dong an nhàn.
Số này khắc mẹ khắc cha,
Anh em chẳng thuận phải xa chớ gần.
Mậu Ngọ quý tướng gái này,
Ban ngày mà hạp ấy là số ta.
Lỗi sanh duyên số lỡ làng,
Không thì chồng vợ lòng dòng đôi ba.
Thấy ai nghèo khổ xót xa,
Tiền bạc giúp đỡ vậy mà phản ngay.
Số này tiền vận lao đao,
Hậu vận có của có nhà mới yên.
Phụ giải tổng quát : Số tuổi Mậu Ngọ dù sanh vào mùa nào mà nếu sanh ban ngày là sung sướng chẳng khổ cực, tướng người sang quí. Nhưng tính tình nóng nảy, mau giận cũng mau nguôi, lòng dạ thông minh, tuổi nhỏ vất vả, gian nan, giàu có nhưng không sung sướng chẳng cầm của được. Tuổi này ngoài 40 mới tụ tài, nhơn duyên trắc trở, đời sau mới thành giai lão. Số này phải lận đận vì chồng vì con, lại còn lắm người phải nuôi con cho chồng (số vượng phu ít tử) cần phải tu tâm đặng thoát giải oan nghiệp.
1919,1979,2039 Kỷ Mùi - cung Tốn - Âm Hỏa - Thiên Thượng Hỏa : Lửa trên trời - xương con dê, tướng tinh con rùa - khắc Sa Trung Kim - con nhà Xích đế, cô bần. Xung khắc với tuổi: Đinh Sửu, Ất Sửu.
Nam mạng có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi Mùi,
Mạng Hỏa là lửa chơi vơi trên trời.
Thuận sanh sung sướng biết bao,
Xuân Hạ sanh đặng như cua gãy càng.
Thu Đông cực khổ lỗi thay,
Dù giàu cũng khổ tảo tần lo âu.
Tình duyên lỡ dỡ buổi đầu,
Phải duyên chắp nối mới mong sắt cầm.
Vợ chồng gặp gỡ xứ xa,
Khác làng khác xã mới là an thân.
Số người thân cận người sang,
Trên thì yêu mến dưới hay thương tình.
Tuổi trẻ khó đặng yên thân,
Trở vể hậu vận phước lai thanh nhàn.
Phụ giải tổng quát: số tuổi kỷ mùi phần đông nhờ tánh tình hiền hậu nên được mọi người yêu mến cho nên cuộc sống có phần tương đối an nhàn nhưng lương duyên vợ chồng thì có khắc. Con phải hai dòng. Tuổi này nếu sanh ban đêm là nghịch không được tốt dù là lỗi số sanh nhưng cũng không nghèo khó, có quới nhơn giúp đỡ, người có giác quan thứ sáu thường hay nghĩ đâu có đó. Số về già được vinh hiển.
Nữ mạng Kỷ Mùi có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số mạng Kỷ Mùi,
Cung Tốn mạng Hỏa ấy là số ta.
Xuân Hạ sanh đặng thuận mùa,
Thu Đông lỗi số cực thân lắm lần.
Số gái hiếu thảo mẹ cha,
Khổ vì duyên nợ lao đao lắm bề.
Một đời chẳng đặng buồn lâu,
Phải duyên chắp nối mới mong sắt cầm.
Số gái nếu thuận giàu sang,
Chồng thì thương mến họ hàng tương lân.
Tuổi già mới được an thân,
Trung niên lo tảo chạy tần chưa yên.
Số này thân kẻ bề trên,
Chơi cùng bạn hữu chẳng bền phản ta.
Làm ăn tiền bạc có hoài,
Nhiều nghề biết đặng đàn bà ít ai.
Phụ giải tổng quát : Tuổi đàn bà Kỷ Mùi có nhiều người làm nên danh nghiệp, số có phần chơi thân với người có quyền cao chức lớn, tuy là đàn bà nhưng thích làm việc xã hội, nếu cô nào sanh ban ngày mà thuận vào mùa Xuân hay mùa Hạ thì lại càng quí hơn, còn ai sanh nhằm ban đêm là nghịch số không tốt. Số Kỷ Mùi đàn bà tánh tình khẳng khái không chịu nịnh bợ kẻ có quyền cao, giàu có, nhưng lại số được nhiều người thương mến, ăn nói có duyên, tiền bạc lúc tiền vận như nước thủy triều khi vào buổi sáng lúc chiều tuông ra. Tuổi già mới được an nhàn. Số được chồng thương yêu.
1920,1980,2040 Canh Thân - cung Khôn - Dương Mộc - Thạch Lựu Mộc
: Gỗ cây Thạch Lựu - xương con khỉ, tướng tinh con chó sói - khắc Bích Thượng Thổ - con nhà Thanh đế, cô bần. Xung khắc với tuổi: Nhâm Dần, Mậu Dần, Giáp Tý, Giáp Ngọ.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Bởi vì lỗi số sanh rày ban đêm.
Nếu mà sanh đặng Đông Xuân,
Hai mùa vượng tướng ung dung thanh nhàn.
Tánh người nhờ ở hiền lương,
Gia đạo dời đổi lương duyên không bền.
Số người duyên nợ đa đoan,
Đời sau mới đặng phỉ quyền yến anh.
Tuổi nhỏ chẳng đặng yên thân,
Trở về lớn tuổi mới mpng thanh nhàn.
Nếu mà niệm Phật tụng kinh,
Ngày sau con cháu phước lành hưởng lâu.
Tiền vận nhà cửa đổi thay,
Nhiều lúc giàu có khiến rồi phải tan.
Phụ giải tổng quát: số tuổi này tuy là tánh người hiền lương, không số vất vả và mạng có khắc cho nên cuộc đời thường gặp chuyện chẳng may. Lúc nhỏ có tiền của rồi khiến cũng tan rã gia đạo bất hòa vợ chồng không hạp nhau cãi vã luôn, khắc khẩu mà con lại đông (số xấu) về già mới an nhàn. Nếu sanh nhằm ban ngày thì tốt có quới nhơn phù trợ còn sanh nhằm ban đêm thì lỗi số không tốt cuộc đời phải chịu lận đận lao đao. Về già mới được sung sướng.
Nữ mạng Canh Thân có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Canh Thân số mạng như vầy,
Cung Khôn mạng Mộc rõ ràng đá xanh.
Hạ Thu lỗi số bất thành,
Thuận Thu sanh đặng Đông Xuân mới nhàn.
Số cô có bị hàm oan,
Nhưng mà nhờ phước trời ban yên lành.
Khuyên cô tích đức tu thân,
Về sau mới được an nhàn tấm thân.
Chỉ buồn duyên nợ đa đoan,
Người sau mới đặng thỏa nguyền ước mơ.
Tuổi nhỏ chẳng đặng yên thân,
Trở về lớn tuổi mới hòng làm nên.
Nếu mà niệm Phật ăn chay,
Ngày sau được hưởng của Trời ban cho.
Phụ giải tổng quát : Tuổi Canh Thân nếu sanh thuận vào mùa Đông và mùa Xuân thì được nhàn hạ, người có cốt cách phong lưu giàu sang phú quý, phải sanh nhằm ban ngày thì trọn tốt,còn cô nào sanh ban đêm là lỗi số nên phải chịu gian lao khổ cực. Tuổi Canh Thân người tính hiền hòa nhưng số gái phải chịu truân chuyên về đường lương duyên. Tiền vận có việc buồn số (vượng phu ích tử) có tiền cũng cực thân, nặng vì chồng lo vì con. Số trường thọ. 
1921,1981,2041 Tân Dậu - cung Càn - Âm Mộc - Thạch Lựu Mộc - xương con gà, tướng tinh con chó - khắc Bích Thượng Thổ - con nhà Thanh đế, cô bần. Xung khắc với tuổi: Quý Mẹo, Kỷ Mẹo, Ất Sửu, Ất Mùi.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Tân Dậu số mạng như vầy,
Là cây lựu đá cung Đoài chẳng sai.
Đông Xuân sanh đặng thời may,
Suốt đời thong thả gặp may tới hoài.
Hạ Thu lỗi số chơi vơi,
Dù cho giàu có cũng lo cũng buồn.
Tánh người vui vẻ dễ thương,
Hai bàn tay trắng tạo nên cơ đồ.
Tân Dậu tâm tánh thật thà,
Gặp người hung dữ thì ta nhịn liền.
Nhiều lúc làm có của tiền,
Cũng đều tan rã chẳng yên khó cầm.
Tiền vận nhà cửa chẳng yên,
Hậu vận gia đạo mới yên an hòa.
Phụ giải tổng quát: Số người tuổi tân dậu phần đông là người nhân hậu có đạo đức, thật thà nhưng tâm trạng thường có những chuyện buồn vô cớ. Là người làm ra tiền của nhưng không giữ được khiến phải tan theo thời vận mà hết. Tuổi này ngoài bốn mươi mới an cư lạc nghiệp. Số này (bạch thủ thanh gia) chớ không nhờ anh em họ hàng gì cả. Số thọ đến 79 tuổi.
Nữ mạng Tân Dậu có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Tân Dậu mạng Mộc cung Càn tốt thay.
Cây lựu kề đá mọc tàng,
Đông Xuân sanh đặng thuận mùa số cô.
Hạ Thu sanh gái lỗi thời,
Dù giàu có của số nàng phải lo.
Đàn bà ít có lắm thay,
Ra vai gánh vác đảm đang cho chồng.
Nhưng mà có ở được đâu,
Duyên đầu chẳng thuận duyên sau mới hòa.
Tân Dậu vô số đàn bà,
Tánh tình cứng cỏi chẳng chìu lụy ai.
Lỗi sanh lao khổ tứ bề,
Nhà cửa dời đổi xa quê họ hàng.
Tuổi già số thọ trời ban,
Vinh hoa phú quý một đời ấm no.
Phụ giải tổng quát: đàn bà tuổi Tân Dậu được tánh tình tốt, dù là nóng tánh nhưng không hề hại ai, giận thì nói dữ (khẩu xà tâm phật), nếu cô nào sanh nhằm mùa Thu và Đông mà ban ngày thì là trọn tốt. Cuộc đời giàu sang phú quý, còn sanh nhằm ban đêm là lỗi số phải chịu nghèo khổ gian lao. Số thân tự lập thân chứ không nhờ anh em họ hàng. Số cao trường thọ. 
1922,1982,2042 Nhâm Tuất - cung Đoài - Dương Thủy - Đại Hải Thủy
: Nước đại dương, Nước biển lớn - xương con chó, tướng tinh con chim trĩ - khắc Thiên Thượng Hỏa - con nhà Hắc đế, Quan lộc, tân khổ. Xung khắc với tuổi: Bính Thìn, Giáp Thìn, Bính Thân, Bính Dần.
Nam mạng có Phật độ mạng.
Nhâm Tuất số mạng như vầy,
Nước ở biển lớn chảy vào tràn sông.
Thuận sanh gặp đặng Thu Đông.
Mạng đặng sung sướng ở không ăn hoài.
Sanh nhằm tháng khác chẳng may,
Thìn Tuất Sửu Mùi Dần Mẹo chẳng hay.
Tưởng đâu chết hụt đã rồi,
Nhờ Trời Phật độ thuở hồi ấu niên.
Số này phải giữ phải kiên,
Có khi té nặng tật nguyền chẳng sai.
Không phần chơi với bạn bè,
Bạc tiền giúp đỡ sau là phản ngay.
Tiền vận phải chịu gian truân,
Nhà cửa nhiều lớp kinh dinh đổi dời.
Hậu vận mới được yên thân,
Lập nên cơ nghiệp ở thời bền lâu.
Phụ giải tổng quát: Tuổi nhâm tuất mạng thủy trong năm nên để ý những tháng dần, mẹo, thìn, tuất, sửu, mùi là những tháng có khắc kỵ có làm ăn thì nên dè dặt. Số không phần chơi với bạn bè, gặp phải bạn ít chân tình. Tiền vận phải chịu gian truân hậu vận mới khá.
Nữ mạng Nhâm Tuất có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Nhâm Tuất mạng Thủy số này,
Nước ở biển lớn chảy hoài chẳng thôi.
Tuổi nàng hạp số Thu Đông,
Ấy mùa vượng phát ở không ăn hoài.
Lỗi sanh Tuất Sửu Thìn Mùi,
Dần Mẹo sáu tháng đắng cay vô ngần.
Số này bị nạn nhiều lần,
Cũng may nhờ có Phật Trời độ qua.
Số nàng phải giữ phải kiên,
Sợ e nạn có tật nguyền chẳng sai.
Vô phần chơi với bạn bè,
Thương người giúp đỡ vậy mà phản ta.
Tiền vận phải chịu linh đinh,
Nhà cửa tay có vậy mà cũng tiêu.
Hậu vận mới được tụ tài,
Lập nên cơ nghiệp ở thời bền lâu.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi Nhân Tuất coi chừng tránh, e phải vấp té mà mang tật nguyền, nếu cô nào sanh vào mùa Thu và mùa Đông thì thuận, nhằm ban ngày thì lại càng trọn tốt, còn ai sanh nhằm ban đêm thì lại vất vả, ắy là lỗi số. Vốn thật thà mà có đôi khi phải chịu thiệt thòi, không có phần chơi với bạn bè, tiền vận vất vả lao đao hậu vận mới an cơ nghiệp.
1923,1983,2043 Quý Hợi - cung Cấn - Âm Thủy - Đại Hải Thủy - xương con heo, tướng tinh con gà - khắc Thiên Thượng Hỏa - con nhà Hắc đế, Quan lộc, tân khổ. Xung khắc với tuổi: Đinh Tỵ, Ất Tỵ, Đinh Mẹo, Đinh Dậu.
Nam mạng có ông Tử Vi độ mạng.
Quý Hợi số mạng như là,
Mạng Thủy nước biển chảy tràn vào sông.
Số này thuận hạp Thu Đông,
Cuộc đời sung sướng ít ai sánh bằng.
Nhưng sanh Xuân Hạ lỗi thay,
Nghèo giàu cũng cực tay chân không ngừng.
Vợ chồng có khắc chẳng an,
Con thì nhiều đứa làm phiền cho ta.
Anh em xung khắc chẳng gần,
Người dưng giúp đỡ lập nên nghiệp nhà.
Số này tài lộc có nhiều,
Tuổi nhỏ chưa được tuổi già hiển vinh.
Lắm lúc buôn tảo bán tần,
Nhà cửa dời đổi nhiều lần chẳng an.
Phụ giải tổng quát: số người tuổi quý hợi chỉ có thuận là người sanh nhằm thu và đông còn ngoài ra thì có phần gian nan khổ cực dù có giàu nhưng vất vả lắm chớ không được sung sướng như kẻ khác. Số lúc nhỏ giàu có nhưng không cầm của được. Tuổi từ 44 trở đi mới an hưởng giàu sang.
Nữ mạng Quý Hợi có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Quý Hợi cung Cấn số này,
Mạng Thủy nước biển chảy tràn vào sông.
Số gái sanh thuận Thu Đông,
Thanh nhàn sung sướng ít ai sánh bằng.
Xuân Hạ thì lỗi số nàng,
Giàu nghèo cũng cực thân nàng thảm thương.
Tưởng đâu chết hụt chết oan,
Cũng nhờ mạng lớn khỏi mang tật nguyền.
Có chồng cũng kể như không,
Vì đâu nên nỗi duyên thừa đắng cay.
Anh em xung khắc chẳng hòa,
Ở gần gây gỗ đi xa thì buồn.
Miệng thì nói dữ lòng hiền,
Biết người phản phúc có tiền cũng đưa.
Trung niên tài lộc có thừa,
Vậy mà hậu vận hưởng phần giàu sang.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi Quý Hợi, đàn bà mà lanh lợi như đàn ông, giàu lòng vị tha không oàn thù ai, tuy miệng nói dữ nhưng lòng hiền hậu. Nhưng số lại lở dở duyên đầu, có chồng phải người có vợ rồi chứ không phải là con trai. Nếu sanh vào mùa Thu hay mùa Đông thì làm ăn phát đạt khá giả. Số người rất sang quý. Sanh nhằm vào mùa Hạ và Xuân nhằm ban đêm là lỗi số. Hậu vận mới an cư lạc nghiệp sung sướng an nhàn.
1924,1984,2044 Giáp Tý - cung Chấn - Dương Kim - Hải Trung Kim
: Vàng dưới biển - xương con chuột, tướng tinh con chó sói - khắc Bình Địa Mộc - con nhà Bạch đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Mậu Ngọ, Nhâm Ngọ, Canh Dần, Canh Thân.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Luận xem số mạng tuổi này,
Giáp Tý số cực chịu nhiều nổi trôi.
Ly hương tổ quán xứ xa,
Anh em cô bác ai giàu nấy ai.
Lỗi sanh phải chịu bơ vơ,
Cực nhọc lo lắng tại giờ sinh ra.
Số người chết hụt nhiều lần,
Người nào thất đức phải sa ngục hình.
Tu nhân tích đức hiển vinh,
Rủi bị tai nạn thánh thần độ cho.
Số này hậu vận mới no,
Tiền vận làm có của kho chẳng còn.
Phụ giải tổng quát: tuổi giáp tý số dù giàu hay nghèo thì thân cũng vất vả cực nhọc chớ ít khi sung sướng, chỉ trừ người nào thuận sanh vào ban ngày và mùa thu thì mới gọi là tốt số được sống cuộc đời vinh hoa phú quý chớ còn ngoài ra thì vất vả, số này tính nết bốc đồng làm việc gì cũng không cần suy tính có nhiều khi thất bại
Số tuổi hậu vận mới nên gia nghiệp, tiền vận làm giàu rồi cũng hết.
Nữ mạng có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Giáp Tý số mạng như vầy,
Dời đổi nhà cửa sau này mới yên.
Anh em giàu có chẳng mong
Tự tay lập nghiệp chẳng trông cậy nhờ.
Lương duyên trắc trở buổi đầu,
Phải quen nhau trước mới hầu lập gia.
Phụ giải tổng quát: Phần đông đàn bà tuổi Giáp Tý thì có tánh hay khinh người thờ ơ lãnh đạm, nhưng sống cuộc đời thanh bạch phải xa xứ lìa quê có chồng phải khác tỉnh khác làng mới nên. Nếu bà nào sanh nhằm ban ngày thì thường gặp nhiều may mắn, có chồng giàu sang, còn nếu sanh nhằm ban đêm thì bởi số phải hai lần thay đổi vợ chồng mới mong lập nên gia nghiệp. Số người là số (vượng phu ích tử). Cho nên cho dù có tiền bạc thì cũng cực thân lo cho chồng cho con.
Nếu bà nào sanh nhằm mùa thu là thuận tháng 7, 8 và 9 thì có cuộc sống khá cao an nhàn tấm thân. Còn bà nào sanh nhằm mùa xuân thì phần đông duyên tình đầu hay bị vỡ lở, làm có của bao nhiêu cũng tan, số có chết hụt hai lần nhưng nhờ âm đức của ông cha nên thoát qua tai nạn. Số này ăn ở cho có âm đức thì mới tạo được sự nghiệp lâu dài. Số thọ đến 85 yểu 34.
1925,1985,2045 Ất Sửu - cung Tốn - Âm Kim - Hải Trung Kim : Vàng trong biển - xương con trâu, tướng tinh con chó - khắc Bình Địa Mộc - con nhà Bạch đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Kỷ Mùi, Quý Mùi, Tân Mẹo, Tân Dậu.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Ất Sửu số mạng cuộc đời,
Bà con dòng họ chẳng nhờ chẳng trông.
Anh em sung khắc chẳng gần,
Người dưng giúp đỡ thân nhân chẳng nhờ.
Phụng thờ của quý có duyên,
Lợi danh được chút hảo huyền mà thôi.
Tánh người chơn chánh thật thà,
Làm ơn cho bạn sau là phản ngay.
Bạc tiền trợ giúp hỏi vay,
Ăn rồi đá bát trở tay đâm mình.
Bụng người cũng có tánh linh,
Nghi ai thì có thiệt tình chẳng sai.
Số phải tu niệm ăn chay,
Không thì khổ nảo bị mang giam cầm.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi này có phần lận đận. Sống cuộc đời như gió đông tuyết lạnh, anh em họ hàng không ai giúp đỡ, tự tay làm nên gia nghiệp "bạch thủ thành gia". Số phải chịu sự khổ não nhiều bề, có chí phiêu lưu nơi xứ lạ quê người hầu quên sự khổ tâm. Vợ chồng cũng bất hoà. Số về già mới đặng thanh nhàn, chỉ trừ người nào sanh vào mùa thu và đông là thuận phú quý trung vận đã giàu có rồi.
Nữ mạng Ất Sửu có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Ất Sửu cũng là số tuổi cao,
Đời cô lắm nổi sóng ba đào.
Phong trần mưa nắng đầy gian khổ,
Duyên nợ chua cay lắm dạt dào.
Thân thế từng phen sầu lận đận,
Hồng nhan nhiều lúc bận lao đao.
Bốn mươi mới được hưởng huy hoàng.
Vườn hồng có lúc nhạt tình Xuân,
Phong sương nào quãn đời gian khó,
Mưa nắng trải bao chuyện nợ nần.
Tài sắc đa mang sầu khổ lụy,
Huy hoàng trung vận bỏ phong trần.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi Ất Sửu nếu cô nào sanh mùa Thu và Đông thì thuận số sau này có chồng giàu sang có địa vị quan trọng trong xã hội. Còn số cô nào sanh nhằm mùa Xuân và Hạ thì số phải gian truân chịu cuộc đời ba chìm bảy nổi phải đau khổ vì đường lương duyên. Cuộc đời gặp nhiều éo le ngang trái. Tuổi nhỏ cực nhọc, qua 40 tuổi mới được tụ tài. Số lại không thuận hòa anh em ai làm nấy ăn chẳng ai giúp đỡ ai. Tuy vậy về sau được sung sướng an nhàn tấm thân.
1926,1986,2046 Bính Dần - cung Khảm - Dương Hỏa - Lư Trung Hỏa
: Lửa trong lư hương, Lửa trong lò (Lộ Trung Hỏa) - Sơn lâm chi hổ: cọp trong rừng, trên núi - xương con cọp, tướng tinh con chim trĩ - khắc Kiếm Phong Kim - con nhà Xích đế, cô bần. Xung khắc với tuổi: Giáp Thân, Nhâm Thân, Nhâm Tuất, Nhâm Thìn.
Nam mạng có Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng.
Bính Dần cung Khảm lửa lư,
Nếu sanh Xuân Hạ ấm no thanh nhàn.
Thu Đông chẳng thuận lỗi thời,
Lỗi sanh cực nhọc nên chàng âu lo.
Số này bất luận gái trai,
Khôn ngoan mưu trí ít ai thiệt thà.
Nhưng mà vô số đàn bà,
Vậy mà sự nghiệp tự tay mình làm.
Sanh thành cốt cách bền lâu,
Gia đình sự nghiệp tự tay tự làm.
Tiền vận chẳng đặng an thân,
Chẳng bằng trung vận tròn vành mấy phân.
Kiểng già nhưng lộc còn xuân,
Số năm mươi tuổi vẫn còn nợ duyên.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi bính Dần này phần đông thì có giỏi nhưng ít ai thiệt thà, đường duyên nợ thì năm ba lần thay đổi, con phải ít lắm là ba dòng. Đến già mà lòng vẫn còn xuân. Số lập thành gia nghiệp chỉ tự tay mình làm nên. Vận trước không khá, từ năm mươi tuổi trở đi thì mới được hanh thông. Số có tiếng tăm lừng lẫy vì số đào hoa. Về sau mới được an nhàn.
Nữ mạng Bính Dần có bà Chúa Ngọc độ mạng.
Bính Dần cung Khảm lửa lư,
Tuổi sanh Xuân Hạ ấm no thanh nhàn.
Thu Đông sinh gái là nàng,
Lỗi sanh cực nhọc sanh nàng âu lo.
Lỗi sanh mang giỏ hái dâu,
Cực xác mệt trí điên đầu vì đâu.
Đặng sanh an ngủ có giờ,
Kẻ hầu người hạ đợi chờ khiến sai.
Tuổi Dần bất luận là ai,
Khôn ngoan mưu trí ít ai sánh bằng.
Giận ai muốn tới ăn gan,
Ai quấy biết lỗi than van chịu liền.
Tiền vận chẳng được an thân,
Hậu vận sung sướng tròn vành mấy thân.
Phụ giải tổng quát: Cuộc đời của tuổi Bính Dần vào tiền vận thì khổ sở, trung vận lao đao, hậu vận mới được an nhàn về thể xác. Về tình duyên tiền vận cũng có nhiều khó khăn rồi mới thành. Sinh vào những tháng: 3, 6, 8 và 10 Âm lịch cuộc đời sẽ có ba lần thay đổi tình duyên và hạnh phúc. Sinh vào những tháng: 2, 4, 7, 9 và 11 Âm lịch thì cuộc đời phải có hai lần thay đổi về vấn đề tình duyên và hạnh phúc. Sinh vào những tháng: 1, 5 và 12 Âm lịch thì cuộc đời hoàn toàn hạnh phúc. Công danh nếu có cũng chỉ ở mức độ tầm thường, nếu không có công danh thì việc làm ăn có nhiều tấn phát. Sự nghiệp được vững chắc từ lúc vừa vào tuổi 40. Tiền bạc có cơ hội phát triển vào tuổi 42 trở đi, vào tuổi nầy thì tiền bạc được dư dả, có cơ hội tạo nên sự nghiệp và tiền bạc hoàn toàn đầy đủ.
1927,1987,2047 Đinh Mẹo - cung Càn - Âm Hỏa - Lư Trung Hỏa : Lửa trong lò - xương con thỏ, tướng tinh con gà - khắc Kiếm Phong Kim - con nhà Xích đế, cô bần. Xung khắc với tuổi: Ất Dậu, Quý Dậu, Quý Tỵ, Quý Hợi.
Nam mạng có Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng.
Số này cốt cách ngang tàng,
Lư trong lửa đỏ mau tàn mau nguôi.
Giận ai không thể giận lâu,
Ai tới năn nỉ nắm tay dịu hiền.
Xin lỗi bạn chớ có phiền,
Ít bữa dịu ngọt có tiền cũng đưa.
Số nhờ biết được nhiều nghề,
Cho nên doanh nghiệp tự nhiên có hoài.
Ra ngoài kẻ mến người thương,
Kết bạn phản phúc họ quên ơn mình.
Thương người giúp đỡ của tiền,
Ăn rồi quẹt mỏ phản liền theo tay.
Hậu vận nhờ đặng cháu con,
Tiền vận lao khổ chẳng bằng vận sau.
Phụ giải tổng quát: Người tuổi đinh Mẹo tánh tình nóng nảy như mạng Hoả nhưng hay giận mà cũng mau nguôi, không giận ai được lâu, chịu ngọt ngào, nhiều kẻ thân thế quyền tước giúp đỡ, được nhiều người thương mến, nhưng số không chơi được bạn hiền mà gặp phải người hay phản phúc. Tiền vận không bằng hậu vận. Nếu người nào sanh vào mùa thu và đông là thuận số, gặp nhiều may mắn trong cuộc đời. Người nào sanh vào mùa xuân và hè thì lỗi số cho nên cuộc đời phải chịu gian lao khổ cực.
Nữ mạng Đinh Mẹo có bà Chúa Ngọc độ mạng.
Đinh Mẹo mạng Hỏa cung Càn,
Lư nhang lửa đổ mau tàn mau nguôi.
Giận ai nóng nảy không day,
Người tới năn nỉ nắm tay dịu liền.
Xin lỗi bạn chớ có phiền,
Ít bửa dịu ngọt có tiền cũng đưa.
Gái mà sanh đặng số này,
Phần đông giàu có số cao có thừa.
Con nhà cốt cách thu phong,
Cửa nhà tổ nghiệp tự mình làm nên.
Hậu vận lao khổ những còn sầu bi.
Tai nạn nhiều lúc hiểm nguy,
Cũng đều qua khỏi nhờ thì ơn trên.
Phụ giải tổng quát: Cuộc đời của tuổi Đinh Mẹo đầy đủ và có thể sẽ được sống một cuộc đời sung túc hoàn toàn. Về vấn đề tình duyên, buổi đầu có ít lắm cũng một lần dang dở hay phũ phàng về tình yêu thương rồi sau đó mới thành. Phần gia đạo, tuổi nhỏ có vài rối rắm hay buồn tủi, nhưng bắt đầu vào trung vận và hậu vận thì êm ấm. Công danh chỉ ở vào mức độ bình thường. Tuổi Đinh Mẹo mạng số rất vững, số hưởng thọ trung bình từ 65 đến 77 tuổi là mức tối đa, làm được nhiều việc phúc đức thì sẽ được gia tăng niên kỷ, gian ác thì sẽ bị giảm kỷ.
1928,1988,2048 Mậu Thìn - cung Đoài - Dương Mộc - Đại Lâm Mộc
: Cây trong rừng lớn - xương con rồng, tướng tinh con quạ - khắc Đại Trạch Thổ - con nhà Thanh đế, trường mạng. Xung khắc với tuổi: Canh Tuất, Bính Tuất.
Nam mạng có Phật độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Tuổi cùng với Mạng thuận hòa tương sanh.
Số như cây trái nở đua,
Nhưng mà bị khắc vì sanh lỗi mùa.
Mùa Xuân vượng tướng phát tài,
Mùa Hạ giàu có muôn ngàn cực thân.
Anh em cô bác chẳng gần,
Người dưng giúp đỡ ân cần độ ta.
Tuổi sanh biết đặng nhiều nghề
Phiêu lưu xứ khác xa quê ông bà.
Có tài có đức trong tay,
Xuân xanh thất bại sau này thuận hưng.
Lòng ở ngay thẳng mới hay,
Phật Trời dòm ngó có ngày làm nên.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi mậu Thìn nhờ tuổi và mạng tương sanh nên số giàu có mau lẹ, cũng như cây trái trổ bông đua nhau nở. Nhưng nếu ai bị lỗi số thì dù có giàu tiền muôn bạc triệu cũng không nhờ tiền của cha mẹ. Nếu ai sanh nhằm mùa xuân và đông là người có quý tướng, sau này làm nên danh phận, nhưng về đường lương duyên thì rắc rối gian truân vì cao số nên tình phải long đong, phải đôi ba dòng con, nhiều vợ.
Nữ mạng Mậu Thìn có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số mạng Mậu Thìn,
Lâm Mộc cây lớn có tàng mái to.
Đông Xuân sanh đặng thời sang,
Mùa Xuân vượng Mộc chẳng an đặng mùa.
Mùa Hạ như tù chẳng an,
Dầu làm có của muôn ngàn cực thân.
Anh em cô bác chẳng gần,
Người dưng giúp của ân cần độ ta.
Tuổi này vô số đàn bà,
Gặp chồng mạng lớn phải là nhịn ngay.
Buổi đầu chồng vợ đổi thay,
Nhiều chổ đi hỏi ngại nàng chẳng ưng.
Tuổi sanh biết đặng nhiều nghề,
Phiêu lưu xứ khác xa quê ông bà.
Phụ giải tổng quát : Tuổi Mậu Thìn sanh vào mùa Đông hay mùa Xuân thì có quí tướng người có số giàu sang, có chồng sau này cũng có địa vị quan trọng trong xã hội. Nhưng về phần lương duyên thì có trở ngại buổi đầu, về sau phải chịu cảnh nuôi con cho chồng. Số người  vượng phu ích tử) hoặc phải có hai dòng con. Người có trí sáng thông minh. Giỏi trước tuổi tính toán nhiều, vận trước xấu, sau mới hanh thông. Không hưởng được của phụ thân. Số cao thọ đến 79 tuổi.
1929,1989,2049 Kỷ Tỵ - cung Cấn - Âm Mộc - Đại Lâm Mộc: Cây trong rừng lớn - xương con rắn, tướng tinh con khỉ - khắc Đại Trạch Thổ - con nhà Thanh đế, trường mạng. Xung khắc với  tuổi: Canh Tuất, Bính Tuất.
Nam mạng có Phật độ mạng.
Kỷ Tỵ cung Cấn tốt thay,
Mạng Mộc cây lớn mọc ngay giữa rừng.
 Đông Xuân thuận số quá chừng,
Có kẻ tưới nước vun chân lâu tàn.
Hạ Thu là lỗi số chàng,
Lỗi sanh cực nhọc nên đành khổ thân.
Số người chết hụt mấy lần,
Quới nhơn độ mạng mới hòng khỏi nguy.
Hạn xưa vất vả long đong,
Tới hồi vận cuối mới hòng thạnh hưng.
Cuộc đời có lắm cát tường,
Không thì vất vả chịu đường linh đinh.
Tạo nên gia nghiệp sau này,
Nhờ Trời Phật độ có ngày làm nên.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi kỷ Tỵ là người tốt số. Nếu sanh được vào mùa xuân và đông là thuận, nếu sanh nhằm ban ngày thì mới trọn tốt, tiền vận cũng như hậu vận phú quý. Nhưng số không nhờ được tổ nghiệp hoặc anh em họ hàng. Tay trắng tạo nên cơ nghiệp. Số này nhờ ơn đức của tiền nhân cho nên phần đông đều có số sung sướng, người có tánh tình hiền hậu, không tham lam, làm việc gì cũng cố gắng chịu đựng mọi gian khổ, cho nên thành công trên đường đời nhiều mà thất bại thì ít.
Nữ mạng Kỷ Tỵ có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Kỷ Tỵ cung Cấn số này,
Mạng Mộc cây lớn mọc ngay giữa rừng.
Nếu mà sanh đặng Thu Đông,
Như cây gặp nước như rồng gặp mưa.
Sanh nhằm những tháng Hạ Thu,
Số phần cực nhọc nắng mưa phũ phàng.
Số nàng chết hụt mấy lần,
Quới nhơn độ mạng có phần khỏi lo.
Tuổi này sáng láng thông minh,
Thấy thì làm đặng thiệt tình chẳng sai.
Tiền vận chưa biết nên hư,
Hậu vận mới khá của dư có xài.
Lòng ở ngay thẳng mới hay,
Phật Trời hộ độ có ngày làm nên.
Phụ giải tổng quát: Tuổi này nếu sanh thuận mùa Đông và mùa Xuân là thuận số, nhưng sanh nhằm ban ngày là trọn tốt, sau này có chồng giàu sang phú quý số có tay làm nên sự nghiệp (bạch thủ thành gia) số chẳng nhờ cha mẹ. Lúc nhỏ có chết hụt hai lần nhưng nhờ có quới nhơn phù trợ cho nên tai qua nạn khỏi.
Tiền vận ba chìm bảy nổi giàu như nước lớn rồi lại ròng, cầm của chưa được. Tuổi này từ năm 38 trở đi thì mới tụ tài sau này giàu có, nhờ con cái nhất là con gái.
1930,1990,2050 Canh Ngọ - cung Ly - Dương Thổ - Lộ Bàng Thổ
: Đất giữa đường; Đất đường đi, Đất ven đường - xương con ngựa, tướng tinh con vượn - khắc Tuyền Trung Thủy - con nhà Huỳnh đế, bần cùng. Xung khắc với  tuổi: Nhâm Tý, Bính Tý, Giáp Thân, Giáp Dần.
Nam mạng có Phật độ mạng.
Canh Ngọ số mạng như vầy,
Đất ở đường lộ muôn ngàn người đi.
Thuận sanh sung sướng lo gì,
Tháng Chạp tháng Chín không thì tháng Ba.
Đặng sanh ba tháng an hòa,
Cũng nhờ ơn đức ông cha để dành.
Thu Đông lỗi số gian lao,
Mùa Xuân Dần Mẹo biết bao khổ rày.
Số này thân tự lập thân,
Được người giúp đỡ có phần làm nên.
Lộc cao như núi Thái Sơn,
Cơ mưu khéo léo chẳng hề ai hay.
Lập nên cơ nghiệp số này,
Kể từ vận giữa mọi đường đặng nên.
Phụ giải tổng quát: Người có số tuổi canh ngọ nếu thuận sanh thì sung sướng chẳng ai bằng còn nghịch và lỗi số thì vất vả gian nan cũng khá nhiều. Số nhờ của cha mẹ mà được thụ hưởng lộc giàu sang. Số thân tự lập thân chớ không có anh em họ hàng giúp đỡ, nhưng số mạng truân chuyên. Nhân duyên muộn màng thì tốt bằng lấy vợ sớm thì sẽ gãy đổ. Số làm bậc thầy.
Nữ mạng Canh Ngọ có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Cung Ly mạng Thổ là đất đường đi.
Mùa Hạ sanh đặng lo chi,
Thuận sanh tháng Chín tháng Ba thanh nhàn.
Thu Đông phải chịu lao đao,
Mùa Xuân Dần Mẹo biết bao khổ sầu.
Sanh kỵ tháng Giêng tháng Hai,
Nặng hơn tháng khác khổ rày cực thân.
Có điều nhờ được phước trời,
Không thì bỏ xác rồi đời đã xong.
Sanh ra thuở nhỏ long đong,
Thay tên đổi họ hai dòng mới an.
Ai nói thiết yếu thở than,
Lòng cầm không được có tiền liền trao.
Số gái Canh Ngọ mà hiền,
Lỗi sanh khổ nảo như thuyền linh đinh.
Phụ giải tổng quát: Canh Ngọ số người hạp vào mùa Xuân và mùa Hạ, quí cô lớn lên khi làm ăn việc gì thì nên lựa hỏi mùa này mà tính toán, làm ăn khó mà thất bại. Quí tướng mà lại giàu sang, chồng có địa vị ấy là số Canh Ngọ. Tuổi này lúc nhỏ khó nuôi có chết hụt nhiều lần, nhưng nhờ có âm đức của mẹ cha và trời phật nếu không che chở cho thì không sống đến ngày nay. Hậu vận không bằng trung vận, nên ăn ở hiền lành thì được trường thọ 
1931,1991,2051 Tân Mùi - cung Khảm - Âm Thổ - Lộ Bàng Thổ - xương con dê, tướng tinh con gấu - khắc Tuyền Trung Thủy - con nhà Huỳnh đế, bần cùng. Xung khắc với  tuổi: Quý Sửu, Đinh Sửu, Ất Dậu, Ất Mẹo.
Nam mạng có Phật độ mạng.
 Đoán xem số mạng Tân Mùi,
Mạng Thổ là đất có nhiều người đi.
Nếu sanh mùa Hạ lo chi,
Nhiều người giúp đỡ thiếu gì tình thương.
Tân Mùi tâm tánh hiền lương,
Giận ai làm dữ nghĩ thương lại người.
Nhưng mà cách trở mẹ cha,
Ly hương tổ quán sau này mới nên.
Số này cốt tướng ít trường,
Tu nhơn tích đức không thì qui tiên.
Nhỏ thời cầm của không bền,
Ngày sau mới khá trở nên vững bền.
Tuổi này Hậu vận về sau,
Vinh hoa phú quý thảnh thơi an nhàn.
Phụ giải tổng quát: Tuổi tân mùi mạng thổ nếu sanh thuận mùa thu và hè thì sau này có vợ giàu sang phú quí. Có quan lộc nhưng phải chịu tân khổ. Tánh người ít nói, lòng dạ hiền lương. Người ăn ở chung thủy, nhưng thường hay bạc số chết yểu. Nếu tu nhân, tích đức thì mới sống lâu. Phải lập nghiệp phương xa thì mới tốt. Số này nếu có tình duyên sớm thì e gãy cánh giữa đường phàm biệt ly không tốt. Nhưng về sau thì giàu có lớn.
Nữ mạng có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số mạng Tân Mùi,
Cung Khảm mạng Thổ đặt ngoài đường đi.
Sanh đặng mùa Hạ lo chi,
Tháng Chạp tháng Chín không thì tháng Ba.
Thổ vương tứ quý bốn mùa,
Sanh đặng tháng Sáu ai mà dám đương.
Tân Mùi tâm tánh hiền lương,
Giận ai nói dữ mà lòng xót thương.
Tháng Giêng tháng Hai lỗi thời,
Bị Mộc khắc Thổ cực đời số ta.
Anh em chẳng đặng thuận hòa,
Ở gần gây gỗ đi xa nhớ hoài.
Vợ chồng chẳng hạp âm dương,
Sánh thương tuổi nhỏ sót thương đáo đầu.
Tuổi này bốn chục về sau,
Vinh hoa phú quý hưởng ngày giàu sang.
Phụ giải tổng quát: số tuổi Tân Mùi nếu người nào sanh vào mùa Thu và mùa Hạ thì tốt số giàu sang phú quý, nhưng sanh nhằm ban ngày thì lại càng quý tướng hơn, số gái cũng gặp nhiều may. Có chồng là người có địa vị quan trọng trong xã hôi. Tánh tình hiền hậu ăn nói có duyên, chậm chạp, không đua đòi, dạ thẳng ngay chung tình. Nhưng phần đông phải lập nghiệp phương xa, phải lấy chồng xa xứ thì tốt. Còn lấy nhau ở cùng làng cùng xóm thì gãy đổ, số thân tự lập thân (bạch thủ thành gia) vận trước không khá, trung vận giàu sang tột đỉnh.
1932,1992,2052 Nhâm Thân - cung Khôn - Dương Kim - Kiếm Phong Kim
: Vàng đầu mũi kiếm - xương con khỉ, tướng tinh con dê - khắc Phúc Đăng Hỏa - con nhà Bạch đế, phú quí.
Nam mạng có ông Tử Vi độ mạng. Xung khắc với tuổi: Bính Dần, Canh Dần, Bính Thân.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Tuổi cùng với mạng lắm lần gian nan.
Tha hương thân lập lấy thân,
Tổ tông sản nghiệp khó phần cậy trông.
Thuận sanh có kẻ rước đưa,
Ăn trên ngồi trước bẩm thưa đón chào.
Lỗi sanh vất vả biết bao,
Tay bùn chân lấm mắt hòa mồ hôi.
Duyên tình phải chịu lôi thôi,
Anh em phận nấy khó mà giúp nhau.
Có khi gặp hội tao phùng,
Nhiều phen đổi chác mới xong môn đình.
Số này tuổi nhỏ tay không,
Lớn lên có của vợ chồng làm nên.
Phụ giải tổng quát: số tuổi nhâm thân nếu thuận sanh vào mùa thu và đông mà nhất là sanh nhằm ban ngày thì số giàu sang phú quí, ai sanh nhằm ban đêm thì lúc nhỏ khó nuôi về sau mới đặng thành gia tỷ. Số có tiểu tật lúc nhỏ, nếu không thì lúc lớn cũng gặp tai nạn rủi ro. Số phần đông được hưởng giàu sang, số phú quí. Tuổi này lúc nhỏ giàu có nhưng rồi cũng tan chưa tụ tài được, phải ngoài 40 tuổi thì mới phát đạt.
Nữ mạng Nhâm Thân có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Vàng trong cây kiếm ít người tìm ra.
Sanh nhằm tháng Chạp tháng Ba,
Mùa Thu rất tốt sanh ra đặng mùa.
Thuận sanh kẻ đón người đưa,
Kẻ hầu người hạ sớm trưa rộn ràng.
Lỗi sanh cực khổ lang thang,
Tay bùn chân lấm lang bang ngoài đường.
Nợ tình cũng chẳng thuận đôi,
Khiến cho tan rả cuộc đời quạnh hiu.
Số phải chịu cảnh xa quê,
Lập nghiệp xứ lạ mới nên gia đàng.
Ba mươi có của chẳng an,
Bốn mươi mới chắc mới an cuộc đời.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi nhâm thân này khi giàu thì giàu lớn mà khi nghèo thì cũng nặng, khi ăn chẳng hết khi đào chẳng ra ấy là số tuổi nhâm Thân vậy nếu cô nào thuận sanh nhằm mùa thu nhứt là ban ngày thì được quý tướng có chồng giàu sang phú quý, còn sanh vào ban đêm thì lỗi số lúc nhỏ khó nuôi. Số lại có tiểu tật. Tuy vậy cô nào sanh thuận thì trí sáng suốt tánh tình hiền hậu liêm sỉ, duyên dáng, ăn nói diệu dàng được chồng nở nang ăn nói được nhiều người nghe, hùng biện, tuổi nhỏ không khá, lớn tuổi mới thành gia. 
1933,1993,2053 Quý Dậu - cung Chấn - Âm Kim - Kiếm Phong Kim : Vàng đầu mũi kiếm - xương con gà, tướng tinh con đười ươi - khắc Phúc Đăng Hỏa - con nhà Bạch đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Đinh Mẹo, Tân Mẹo, Đinh Dậu.
Nam mạng có ông Tử Vi độ mạng.
Luận xem số mạng con Gà,
Mạng Kim cung Chấn ráng tìm thì ra.
Số này bất luận là ai,
Mùa Thu sanh thuận đố ai dám bì.
Nhưng mà nhiều kẻ hiền lành,
Ít ai ở dữ gian manh bạo tàng.
Hậu vận có của mới an,
Tiền vận làm có của kho chẳng còn.
Hai dòng cha mẹ mới an,
Không thì chồng vợ khó toan một đời.
Năm xưa tận khổ đã thường,
Vận sau bốn chín Trời ban phước lành.
Anh em xung khắc hay rầy,
Cô bác có của ta đây chẳng màng.
Phụ giải tổng quát: Tuổi quý dậu phần đông giàu thì tột đỉnh còn nghèo thì nghèo xác mùng tơi chớ không lưng chừng như các tuổi khác. Nếu ai thuận sanh nhằm mùa thu và đông thì được phần giàu sang phú túc có kẻ hầu, người hạ. Nhưng số không nhờ cha mẹ họ hàng tự tay làm nên sự nghiệp mới hay. Lập nghiệp phương xa thì mới tốt tiền vận khổ hơn đến 49 tuổi trở đi thì nhờ phước lộc giàu to. Số trường thọ đến 83 tuổi.
Nữ mạng Quý Dậu có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Vàng trong gươm trắng có phần giàu sang.
Gái mà sanh đặng can này,
Nam Nhâm Quý nữ rõ ràng chẳng sai.
Đặng sanh sáng suốt tinh thần,
Nói năng lưu loát mọi người mến thương.
Quý Dậu nhiều kẻ hiền lành,
Ít ai ở dữ gian manh bạo tàn.
Hậu vận có của mới an,
Không thì chồng vợ khó bền ở yên.
Trung niên nay đổi mai dời,
Ai mà có chí mới mong vẹn toàn.
Sanh ra đặng gái đầu lòng,
Làm ăn có khá mới mong làm giàu.
Phụ giải tổng quát: Số gái mạng quý như tuổi Quý Dậu này thì cuộc đời khá tốt ít lận đận trừ cha mẹ thiếu âm đức cho nên mới bị gian nan khổ cực. Thuận sanh thì phải nhằm mùa thu và mùa Đông thì được giàu sang phú quý. Nếu sanh nhằm ban đêm thì tốt hơn, số có quới nhơn giúp đỡ cho nên trong cuộc đời thường gặp nhiều may mắng. Lúc nhỏ có phần chẳng được cầm của chưa yên, trở về hậu vận thì vinh quang phú quý ít ai bằng. 


1934,1994,2054 Giáp Tuất - cung Càn - Dương Hỏa - Sơn Đầu Hỏa
: Lửa trên núi - xương con chó, tướng tinh con ngựa - khắc Sa Trung Kim - con nhà Xích đế, cô bần.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng. Xung khắc với tuổi: Nhâm Thìn, Canh Thìn, Canh Tuất.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Tuổi cùng với mạng thuận hòa tương sanh.
Nếu sanh Xuân Hạ thời mừng,
Có quyền có chức thanh nhàn tấm thân.
Thu Đông là lỗi số ta,
Giàu có cũng cực nghèo thì bơ vơ.
Vận hanh thì ở hạn sau,
Tự nhiên phước lộc theo nhau tới lần.
Tuổi này thuở nhỏ chẳng an,
Bịnh tật đau ốm liên miên tối ngày.
Tâm tánh sáng dạ rất hay,
Nghề nào cũng biết ít ai dám bì.
Giáp Tuất có chí làm nên,
Quyền tước khá lớn vững bền an thân.
Phụ giải tổng quát: người có số tuổi này thuận sanh vào mùa đông và thu là được sang quí có vợ giàu có sau cũng có địa vị quang trọng trong xã hội, còn sanh nhằm vào mùa xuân và hạ thì bị lỗi số cho nên khổ cực gian truân, vận trước không mấy khá. Tuổi từ 44 về sau mới tụ tài. Số có con đông và được trường mạng.
Nữ mạng Giáp Tuất có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Giáp Tuất mạng Hỏa số này,
Lửa ở đầu núi rõ ràng sáng trưng.
Thuận sanh mùa Hạ mùa Xuân,
Giàu nghèo cũng sướng lo buồn mà chi.
Số gái sanh đặng hạp thời,
Làm ăn có của chồng giàu vinh sang.
Lỗi sanh ở ác trật giờ,
Cuộc đời như thể nắm bèo trôi đi.
Tuổi sanh thuở nhỏ chẳng an,
Bịnh tật đau ốm liên miên tháng ngày.
Số nàng lại khắc mẹ cha,
Đi xa thương nhớ ở gần ốm đau.
Xét qua trang sử lương duyên,
Ngựa Trâu Long Hổ kết duyên mới thành.
Tuổi nhỏ hậu vận gian nan,
Trở về lớn tuổi mới mong thanh nhàn.
Phụ giải tổng quát: Số đàn bà tuổi Giáp tuất số và mạng hạp nên được tương sanh nếu thuận sanh vào mùa Thu và mùa Đông thì có số giàu sang phú quý. Còn ai sanh nhằm vào mùa Hạ và Xuân thì số cực khổ lúc nhỏ khó nuôi phải chịu đau ốm bệnh tật liên miên, lớn lên vất vã gian truân. Nếu cô nào sanh vào mùa lỗi số thì nên giữ âm đức cho tốt hầu mong lấy cái đức để mà thắng số trời vậy. Người xưa có câu: Đức năng thắng số là đúng chớ chẳng sai.
1935,1995,2055 Ất Hợi - cung Đoài - Âm Hỏa - Sơn Đầu Hỏa : Lửa trên núi - xương con heo, tướng tinh con hươu - khắc Sa Trung Kim - con nhà Xích đế, cô bần. Xung khắc với tuổi: Quý Tỵ, Tân Tỵ, Tân Hợi.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Ất Hợi mạng Hỏa số này,
Lửa ở trên núi sáng bay đỏ trời.
Thuận sanh Xuân Hạ gặp thời,
Giàu nghèo cũng sướng gặp nơi thanh nhàn.
Thu Đông chẳng lợi hao tài,
Trai thì lỡ dỡ duyên tình phôi pha.
Ất Hợi nhiều kẻ lòng hiền,
Ai mà nói dữ ta thời nhịn ngay.
Anh em xung khắc chẳng gần,
Nói ra gây gỗ chẳng hoà chẳng an.
Lớn lên cách trở xứ xa,
Học hành nghề nghiệp sau mà mới nên.
Đầu tiên có của chẳng bền,
Làm có hao tán như trên mây hồng.
Phụ giải tổng quát: Người tuổi ất hợi số lận đận về công danh. Sự nghiệp cũng như đường lương duyên có phần trắc trở. Nếu người nào sanh vào mùa hạ và thu thì trọn tốt mà đêm thì lại càng quý hơn. Số phải cực nhọc về tiền vận, hậu vận lại càng tốt đẹp hơn. Nên giữ âm đức để được phước trời ban.
Nữ mạng Ất Hợi có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Lửa ở đầu núi tỏa bay khắp trời.
Mùa Hạ sanh đặng hạp thời,
Là số sung sướng có trời giúp cho.
Ất Hợi mạng Hỏa nhưng hiền,
Lòng dạ chẳng chắp nói rồi bỏ qua.
Số nàng xung khắc anh em,
Chẳng nhờ chẳng cậy ai làm nấy ăn.
Nhỏ thời chìm nổi linh đinh,
Sau nhờ bền chí lập nên gia đình.
Tuổi già giàu có yên thân,
Sớm lập gia thất nhiều lần chẳng nên.
Số tuổi hai bốn mới là,
Lập nên chồng vợ cuộc đời an vui.
Bốn mươi sắp tới trở lên,
Làm ăn có của vững bền đặng lâu.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi Ất Hợi nếu cô nào có gia đình trước hai mươi tuổi thì khó mà ở đời được. Nếu sanh mùa Hạ hay mùa Xuân mà ban đêm, phải chịu đựng mọi vất vả. Kể từ bốn mươi tuổi trở đi thì mới mong giàu sang.
1936,1996,2056 Bính Tý - cung Cấn - Dương Thủy - Giáng Hạ Thủy
: Nước mù sương, Nước sông, nước dưới khe (Giản Hà Thủy; Giang Hà Thủy) - xương con chuột, tướng tinh con rắn - khắc Thiên Thượng Hỏa - con nhà Hắc đế, cô bần. Xung khắc với tuổi: Canh Ngo, Mậu Ngọ.
Nam mạng có Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng.
Luận xem số mạng tuổi này,
Bính Tý mạng Thủy nước đầy tràn sông.
Trai mà sanh đặng Thu Đông,
Như cây gặp nước, như rồng gặp mây.
Bính Tý tánh ở hiền lành,
Có tiền ai hỏi cũng trao đưa liền.
Ăn rồi phản phúc tự nhiên,
Đổi thời không khả nghịch liền tự nhiên.
Một thân thất ý đủ điều,
Nửa lành nửa dữ bao nhiêu chưa đành.
Tới hồi vận giữa hiển vinh,
Căn nguyên tất phát môn đình đổi thay.
Tuổi già vận đến càng hay,
Vinh hoa phú quý vàng son cửa nhà.
Phụ giải tổng quát: tuổi bính tý nếu mà người nào sanh đặng mùa thu và đông thì con người quý tướng có phần ăn trên ngồi trước thiên hạ. Người có tính hiền lương lòng dạ tốt hay thương người nghèo khó. Thân tự lập thân chứ chẳng có anh em họ hàng giúp đỡ. Tới năm 32 tuổi thì bắt đầu vinh hiển sống cuộc đời đầy hạnh phúc. Càng lớn tuổi càng phát đạt là tuổi bính tý.
Nữ mạng Bính Tý có bà Chúa Ngọc độ mạng.
Bính Tý Cung Càn sinh ra,
Mạng Thủy là nước mà ta nhờ nguồn.
 Đàn bà sanh thuận Thu Đông,
Kẻ đưa người rước người mong chuyện tình.
Tuổi này lúc nhỏ khó nuôi,
Hai lần chết hụt nổi trôi nhiều lần.
Cũng nhờ âm đức cha ông,
Nghi đâu có đó khó mong ai lường.
Bính Tý người nữ thì sang,
Nhưng mà lở dở chẳng an một đời.
Đầu tiên trắc trở lôi thôi,
Duyên sau mới hợp mới thôi lỡ làng.
Số này cách trở mẹ cha,
Ly hương tổ quán cửa nhà làm nên.
Phụ giải tổng quát: Tuổi Bính Tý nếu thuận sanh thì phải là mùa đông thì giàu sang phú quý. Còn nếu sanh vào mùa hạ và xuân thì Tử Vi xác định là lỗi số, nhưng tuổi Bính Tý dù giàu hay nghèo thì cũng là con người có tánh tình hiền hậu, nhưng số phải gian nan từ lúc thiếu thời. Tuổi ngoài 30 mới tạm an cư lạc nghiệp, có chồng cũng chẳng chịu nhờ vả bên chồng. Tuổi này nếu kết hôn trễ thì một đời không dang dở bằng lấy chồng sớm tuổi 20 thì ắt có sự thay đổi hay tan rã.
1937,1997,2057 Đinh Sửu - Cung Ly - Âm Thủy - Giáng Hạ Thủy - xương con trâu, tướng tinh con trùn - khắc Thiên Thượng Hỏa - con nhà Hắc đế, cô bần. Xung khắc với tuổi: Tân Mùi, Kỷ Mùi.
Nam mạng có Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng.
Đinh Sửu số mạng như là,
Giang Hà là nước chảy dài ra sông.
Trai mà sanh thuận Thu Đông,
Mùa Hạ lỗi số làm không nên trò.
Số như nổi sóng linh đinh,
Đầu đội tay xách vác cày lùa trâu.
Sanh ra nhiều lúc hiểm nguy,
Tưởng chết thuở nhỏ lúc thì mới sanh.
Số này quyền tước công danh,
Không thầy cũng thợ mới đành số ta.
Tuổi này tánh nết thật thà,
Giận đi nói dữ nhưng lòng vị tha.
Đầu tiên làm có của kho,
Nhiều lần làm khá hiệp rồi lại tan.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi đinh Sửu có thể gọi là cao số vì được "tam sanh" có long thần chiếu mạng. Số lập nghiệp nhiều lần, làm ăn như diều gặp gió. Con đường sự nghiệp khá vẻ vang, số có quyền cao chức trọng, nhưng lận đận ở tuổi nhỏ, phải muộn màng về lương duyên thì mới tốt. Tánh hiền, trí sáng, hiếu thảo với cha mẹ. Số trường thọ.
Nữ mạng  có bà Chúa Ngọc độ mạng.
Đinh Sửu mạng Thủy cung Ly,
Giang Hà nước chảy từ từ đi qua.
Gái mà sanh thuận Thu Đông,
Có chồng sung sướng ở không ăn hoài.
Sanh nhằm Xuân Hạ lỗi thay,
Đầu đội tay xách tay mang gánh gồng.
Đinh Sửu số cũng thong dong,
Âm đức phải giữ mới mong thanh nhàn.
Số đặng nên cửa nên nhà,
Tự tay lo lắng đàn bà mấy ai.
 Bôn ba nào có ích gì,
Số trời đã định nghĩ gì xa xôi.
Khuyên ai phận nấy thôi mà,
Đông Tây vùng vẫy cũng là uổng công.
Miễn sao ăn ở hiền lành,
Về sau cũng có đôi phần ấm no.
Phụ giải tổng quát: Số này như lượn sóng ba đào, cuộc đời ba chìm bảy nổi nếu cô nào sanh nhằm ban đêm thì thuận mà phải muộn màng về lương duyên thì mới tốt. Người có tánh hiền hậu nhưng hay bị hoạn nạn. Trí sáng, có hiếu với cha mẹ. Tuổi nhỏ có cơ nghiệp nhưng phải tiêu tan, từ trung vận 40 trở đi mới tụ tài. Số phải tha phương lập nghiệp nơi xứ khác thì mới khá. Sau có con gái làm nên sự nghiệp. 
1938,1998,2058 Mậu Dần - cung Khảm - Dương Thổ - Thành Đầu Thổ
: Đất trên thành vách - Quá sơn chi hổ: cọp vượt qua núi - xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng - khắc Thiên Thượng Thủy - con nhà Huỳnh đế, phú quí. Xung khắc với  tuổi: Canh Thân, Giáp Thân.
Nam mạng có Phật độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Mậu Dần mạng Thổ đất thành đền vua.
Số này trước vắn sau dài.
Anh em thân thích lạc loài phương xa.
Số cao có số quá chừng,
Duyên tình trắc trở lòng dòng đôi ba.
Tâm cơ tân khổ những là,
Bởi vì số mạng trở ra muộn màng.
Một thân toan tính trăm đường,
Đến khi vận giữa mới yên tấm lòng.
Tuổi sau mới được hưng long,
Cây già kết trái bông hồng tốt tươi.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi mậu Dần nếu ai sanh nhằm ban đêm thì tốt, sau này có vợ giàu sang có hạnh phúc, số lại có danh dự địa vị trong xã hội. Có điều ai sanh nhằm mùa xuân là bị lỗi số, cho nên lúc nhỏ phải chịu gian truân, đến tuổi già mới được hanh thông. Số không nhờ cậy được anh em họ hàng "bạch thủ thành gia" tay trắng làm nên sự nghiệp. Số này vợ con đông, đến hai hoặc ba dòng. Số được trường thọ.
Nữ mạng Mậu Dần có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Số này sau ngắn trước dài,
Anh em thân thích lạc loài phương xa.
Nếu mà sanh thuận mùa Hè,
Ấy là sung sướng khác thì lỗi ngay.
Mùa Xuân lỗi số chẳng mong,
Vợ chồng chẳng hạp duyên đầu phải xa.
Anh em sung khắc chẳng hòa,
Nói ra gây gỗ tự nhiên rầy rà.
Số tuổi tự lập gia đình,
Một mình toan tính trăm đường tự do.
Tuổi già y lộc hưng long,
Cây già kết trái những chồng phước dư.
Phụ giải: Con gái sanh nhằm số tuổi mậu Dần này thì có cuộc đời lận đận lắm. Chỉ có cô nào sanh được thuận là mùa hè thì mới được an nhàn sung sướng cho thân, có chồng giàu sang phú quý. Còn phần đông thì phải chịu cảnh gian truân, số thân tự lập thân chớ anh em họ hàng không ai giúp đỡ. Số có tay tạo ra tiền của nhưng không giữ được. Tình duyên cũng lận đận, trắc trở, số phải quen nhau trước rồi lấy nhau sau thì mới ở đời được, nếu cưới hỏi thì sẽ gãy đổ. Con cái đông. Nên kiên cữ thịt chó, mèo, rùa, ngựa, trâu là tốt.
1939,1999,2059 Kỷ Mẹo - cung Khôn - Âm Thổ - Thành Đầu Thổ - xương con thỏ, tướng tinh con rồng - khắc Thiên Thượng Thủy - con nhà Huỳnh đế, phú quí. Xung khắc với  tuổi: Tân Dậu, Ất Dậu.
Nam mạng có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Số này tuổi nhỏ có tiền,
Nhưng không giữ được bay liền theo tay.
Mùa Xuân lỗi số đắng cay,
Mồ hôi nước mắt chảy ngay ròng ròng.
Gặp hồi cực khổ gian nan,
Vợ chồng khắc bạc muôn ngàn thảm thương.
Anh em cha mẹ hai dòng,
Không thì chồng vợ lòng dòng đôi ba.
Thấy ai năn nỉ xót xa,
Bạc tiền ủ sẵn móc ra đưa liền.
Ăn rồi phản phúc tự nhiên,
Ơn đâu không thấy oan liền theo tay.
Chờ cho vận cuối phát tài,
Cây già kết trái bằng hai những ngày.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi kỷ Mẹo này lúc nhỏ tiền vận làm ra của nhưng không giữ được. Cuộc đời sung sướng giàu sang phú quý nhưng ví như nước thuỷ triều có rồi tan chớ chưa giữ được. Số người nào sanh mùa xuân thì phải chịu cay đắng, sống cuộc đời vất vả, làm ra tiền của bằng mồ hôi nước mắt. Còn ai sanh nhằm ban đêm thì được phú quý. Tánh người hiền lương giàu lòng từ thiện, hay giúp đỡ người, không nợ công lao. Tình duyên trắc trở nếu muộn màng thì sau mới bền chặt. Thường bị bạn phản trắc. Vận sau sẽ phát hơn vận trước. Số được hiển vinh, sau này nhờ con cái.
Nữ mạng Kỹ Mẹo có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Kỷ Mẹo mạng Thổ số này,
Đất ở trên vách vậy mà chẳng khô.
Mùa Hạ sanh gái an nhàn,
Có danh có vị giàu sang một đời.
Đặng sinh tiếp đãi dạ thưa,
Hiển vinh một cách có thừa chẳng sai.
Mùa Xuân lỗi số đắng cay,
Mồ hôi nước mắt chảy ngay ròng ròng.
Tuổi Mẹo tài trí có thừa,
Không học cũng biết ít người giỏi hơn.
Anh em cha mẹ hai dòng,
Không thì chồng vợ lòng dòng đôi ba.
Tiền vận có của có nhà,
Nhưng mà tuổi nhỏ khó an phải tàn.
Hậu vận mới đặng vinh quang,
Lập nên nhà cửa vững vàng hậu lai.
Phụ giải tổng quát : Tuổi Kỷ Mẹo người tài trí thông minh học ít biết nhiều, anh em khác dòng nếu không thì cũng lỡ dỡ duyên phận. Số làm có tiền nhưng khó giữ được. Nếu người nào sanh nhằm ban đêm là thuận số. Tuổi nhỏ khó nuôi hậu vận trở về sau mới được vinh hiển. Số này nên lập gia đình từ năm 24 đến 26 thì thuận vợ chồng bền duyên cầm sắt hoặc trễ càng tốt. Số ít con, thọ đến 79 tuổi. 
1940,2000,2060 Canh Thìn - cung Chấn - Dương Kim - Bạch Lạp Kim : Vàng trong đèn cầy, Vàng có sáp trắng, Chân kim loại dùng cắm đèn cầy- xương con rồng, tướng tinh con quạ - khắc Phúc Đăng Hỏa - con nhà Bạch đế, trường mạng. Xung khắc với  tuổi: Giáp Tuất, Mậu Tuất, Giáp Thìn.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Canh Thìn là số rất cao,
Số có kẻ đón người đưa rộn ràng.
Thuận sanh tiếp đãi dạ thưa,
Hiển vinh một cách có thừa chẳng sai.
 Mùa Xuân lỗi số đắng cay,
Mồ hôi nước mắt chảy ngay ròng ròng.
Anh em xung khắc chẳng xong,
Nói ra gây dữ tự nhiên chẳng hòa.
Lớn lên lập nghiệp xứ xa,
Cô bác có của thì ta không nhờ.
Can Canh Can Mậu bơ vơ,
Tại sanh lỗi số trật giờ khổ thân.
Thuận sanh sung sướng mười phần,
Lòng ở ngay thẳng thánh thần độ cho.
Phụ giải tổng quát: Người tuổi canh Thìn có số hễ giàu thì giàu hơn người, còn ai nghèo thì nghèo xác nghèo xơ chớ không lưng chừng. Nếu thuận sanh thì làm quan, nhứt là người nào sanh vào ban đêm thì được phú quý. Nhưng số này nói chung là khắc vợ khắc con, không ở gần nhau. Nhơn duyên cũng trắc trở buổi đầu, khó bề chung thuỷ. Tuổi từ 40 trở về sau mới được tụ tài.
Nữ mạng Canh Thìn có bà Chúa Tiên độ mạng.
Canh Thìn cung Chấn mạng Kim,
Vàng trong sáp trắng đi tìm khó ra.
Mùa Thu sanh đặng mới là,
Số sanh tháng sáu tháng ba được mùa.
Đông Xuân cũng chẳng ăn thua,
Tỵ Ngọ Hỏa khắc như cua gảy càng.
Tuổi nàng lập nghiệp xứ xa,
Cô bác có của thì ta chẳng nhờ.
Chữ Canh chữ Mậu số cơ (cơ bần),
Ấy là lỗi số nên nàng khổ thân.
Có người sung sướng an nhàn,
Vì là thuận số sanh nhằm ban đêm.
Ba mươi có của có tiền,
Vậy mà chẳng giữ được bền rã tan.
Tuổi gần bốn chục mới sang,
Giàu sanh đến lúc mới là hanh thông.
Phụ giải tổng quát: Tuổi Canh Thìn nếu thuận sanh vào ban đêm thì số người được sang quý, sanh vào mùa Thu và mùa Đông thì mới trọn tốt. Còn nếu sanh nhằm mùa Xuân, mùa Hạ thì lại là lỗi số phải chịu vất vả gian nan. Số này tuổi 30 cầm của chưa được, khoảng từ 38 trở đi thì giàu có lớn, số thọ và cao số sau này vinh hiển tột đỉnh.
1941,2001,2061 Tân Tỵ - cung Tốn - Âm Kim - Bạch Lạp Kim: Vàng chân đèn - xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng - khắc Phúc Đăng Hỏa - con nhà Bạch đế, trường mạng. Xung khắc với tuổi: Ất Hợi, Kỷ Hợi, Ất Tỵ.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Số này cách trở quê hương,
Lập nên cơ nghiệp phải hai ba lần.
Thành nhân cũng tự lập thân,
Hai bàn tay trắng tạo nên gia đình.
Thuận sanh giàu có đã đành,
Nghịch sanh như thể cua con gãy càng.
Đặng sanh sung sướng là chàng,
Lòng ở ngay thẳng thánh thần độ cho.
Ở cho biết phải biết điều,
Lòng thành kính Phật ít nhiều có ăn.
Số có chức phận môn đình,
Không thầy cũng thợ ít khi bần hàn.
Khi nên Trời cũng chìu lòng,
Thái vinh sự nghiệp thanh nhàn hồi sau.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi tân Tỵ nhờ được của trời cho vì cha mẹ ăn ở có tâm đức nên số không bần cùng. Nhờ trời phật che chở cho nên gia đình không đến nỗi túng thiếu. Người nào sanh nhằm ban đêm là quý tướng, có chức phận, giàu có. Còn sanh nhằm ban ngày thì ở mức trung bình. Số phần tha phương lập nghiệp. Dựng thành gia, phải đôi ba lần. Về sau, từ 40 tuổi trở đi mới chắc chắn tụ tài. Vận số truân chuyên lúc nhỏ, về già an nhàn vinh hoa phú quý. Số được nhờ vợ, nhờ con.
 Nữ mạng Tân Tỵ có bà Chúa Tiên độ mạng.
Tân Tỵ cung Tốn mạng Kim,
Vàng ở trong sáp khó tìm lắm thay.
Mùa Thu thuận số là may,
Thổ vượng tứ quý ít ai dám bì.
Lâm nạn có kẻ giải nguy,
Giàu nghèo cũng sướng sau thì an thân.
Nếu sanh mùa Hạ khổ bần,
Đông Xuân cũng lỗi chịu phần gian nan.
Đặng sanh trúng tuổi là nàng,
Hiền lương quân tử là nàng tiểu thơ.
Tuổi sanh lỗi số sai giờ,
Vét mương phát cỏ đắp bờ nám da.
Duyên tình lỡ dỡ đôi ba,
Tiền vận có của cũng là lôi thôi.
Hậu vận đặng khá an nơi,
Phật Trời độ mạng thảnh thơi thanh nhàn.
Phụ giải tổng quát: Tuổi Tân Tỵ nên sanh lúc ban đêm mà vào mùa Thu là thuận làm ăn phát đạt người có số mạng lớn cho nên gặp tai nạn thì có quới nhơn che đỡ, có người giải nguy. Còn nếu sanh ban ngày mà nhằm mùa Hạ thì khổ sở vô cùng. Tình duyên trắc trở nhiều lần. Sống cuộc đời tự lập không nhờ anh em họ hàng gì cả. Tiền vận ba chìm bảy nổi hậu vận mới được an tâm. 
1942,2002,2062 Nhâm Ngọ - cung Ly - Dương Mộc - Dương Liễu Mộc
: Gỗ cây Dương Liễu - xương con ngựa, tướng tinh con rắn - khắc Lộ Bàng Thổ - con nhà Thanh đế, trường mạng. Xung khắc với tuổi: Giáp Tý, Canh Tý, Bính Tuất, Bính Thìn.
Nam mạng có ông Tử Vi độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Mạng Mộc cây liễu số người phong lưu.
Mùa Thu lỗi số bơ vơ,
Mùa Hạ cũng lỗi trật giờ khổ thân.
Số này thuở nhỏ gian nan,
Tưởng đâu chết hụt chết oan đã rồi.
Cây khô mà đặng mọc chồi,
Ấy là Nhâm Ngọ rõ ràng chẳng sai.
Một tay chỉnh đốn gia môn,
Điền viên lưu để tử tôn lâu bền.
Kể từ vận giữa sắp lên,
Làm ăn nên cửa nên nhà mới yên.
Số này lanh lợi khôn ngoan,
Ít kẻ ngu dốt cơ hàn lênh đênh.
Phụ giải tổng quát: Người có số tuổi này tính tình thẳng thắn, dáng người phong lưu, dù giàu hay nghèo cũng sung sướng an nhàn chớ không đến nỗi khốn khổ bần cùng. Số có thể bị chết hụt chết oan nhưng nhờ phước đức ông bà để lại mà được trời phật che chở cho. Người sanh nhằm thu và đông nhằm ban ngày thì được phú quý sau này có vợ giàu có, còn sanh nhằm ban đêm mà mùa xuân và hè thì lỗi số nên phải cực nhọc nhiều bể dâu. Số thân tự lập thân, chẳng nhờ anh em họ hàng. Người có số làm thầy. Nên kiên kỵ thịt chó, mèo, ngựa, rùa.
Nữ mạng Nhâm Ngọ có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Nhâm Ngọ mạng Mộc cung Ly,
Là cây Dương Liễu số này làm nên.
Nếu là sanh thuận Đông Xuân,
Gái thì hữu phước gia môn yên hòa.
Mùa Thu bị khắc bơ vơ,
Mùa Hạ cũng lỗi trật giờ khổ thân.
Anh em xung khắc chẳng gần,
Đi xa thương nhớ lại gần chẳng an.
Tuổi sanh thuở nhỏ gian nan,
Tưởng đâu chết hụt chết oan đã rồi.
Tuổi nàng lanh lợi khôn ngoan,
Ít kẻ ngu dốt cơ hàn linh đinh.
Tuổi nhỏ làm có đủ xài,
Nhiều lần đặng khá khiến rày rã tan.
Lớn tuổi có của mới an,
Lập nên sự nghiệp an nhàn ấm no.
Phụ giải tổng quát: Nhâm Ngọ số này phần đông nếu sanh vào mùa Xuân hay mùa Đông thì con người cao sang phú quý có kẻ hầu người hạ, có chồng giàu sang có địa vị quan trọng trong xã hội, nhưng số phải sanh ban ngày thì mới trọn tốt. Còn sanh ban đêm thì vất vả khổ cực duyên nợ đa đoan. Tuổi từ 44 trở đi thì giàu sang phú quý.
1943,2003,2063 Quý Mùi - cung Càn - Âm Mộc - Dương Liễu Mộc : Gỗ cây Dương Liễu - xương con dê, tướng tinh con cọp - khắc Lộ Bàng Thổ - con nhà Thanh đế, trường mạng. Xung khắc với tuổi: Ất Sửu, Tân Sửu, Đinh Hợi, Đinh Tỵ.
Nam mạng có ông Tử Vi độ mạng.
Quý Mùi cung Chấn trực Kiên,
Là cây dương liễu hiên ngang giữa trời.
Sanh đặng tháng Giêng tháng Hai,
Mùa Đông cũng tốt tự nhiên thanh nhàn.
Lỗi sanh Thu Hạ bẽ bàng,
Nên người khổ não khiến chàng cực thân.
Anh em xung khắc chẳng gần,
Người ngoài khác họ lại thương mến mình.
Tuổi trẻ vất vả linh đinh,
Giàu sang phú quý để dành vận sau.
Số người sau có đất điền,
Nhà cửa mua sắm tự mình làm ra.
Tuổi nhỏ chớ khá bôn ba,
Trở về vận cuối mới là thảnh thơi.
Phụ giải tổng quát: số người tuổi quý mùi là người cao số cho nên phải chịu gian truân về tình duyên thì bổn mạng mới tốt bằng không phải hai lần gãy đổ mới thành gia thất. Số này phải thuận sanh vào mùa đông nhằm ban đêm thì trọn tốt còn sanh vào ban ngày thì phải chịu khổ cực, bà con họ hàng như người dưng nước lã không nhờ cậy được. Số này phải tha phương lập nghiệp mới nên cửa nên nhà.
Nữ mạng Quý Mùi có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Cung Cấn mạng Mộc số nàng như sau.
Sanh đặng tháng Hai tháng Giêng,
Mùa Đông cũng tốt tự nhiên thanh nhàn.
Hạ Thu sanh gái là nàng,
Lỗi sanh vất vả số nàng âu lo.
Sanh ra sung khắc mẹ cha,
Anh em chẳng thuận sống nhờ người dưng.
Ly hương tổ quán số này,
Xứ xa lập nghiệp cửa nhà làm nên.
Trung niên có của chẳng bền,
Có rồi mất đó như diều đứt dây.
Số tuổi sau có đất nhà,
Ruộng vườn mua sắm tự mình làm ra.
Tuổi nhỏ chớ khá bôn ba,
Tuổi già có của mới yên gia đàng.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi quý mùi phần đông đàn bà con gái hạp, cho nên có câu nam nhâm nữ quý. Đa số tuổi này cuộc đời được sung sướng, chỉ trừ người nào sanh ra lỗi số thì mới phải gian nan. Sanh nhằm mùa hạ và thu thì không được tốt tuy vậy cũng không đến nỗi cơ cực, số có tay làm ra tiền, buôn bán làm ăn việc gì thường gặp may nhờ có quới nhơn giúp đỡ, ăn nói có duyên được mọi người mến phục. Số này sau tạo nên được nghiệp lớn có tài sản đất đai. Chớ nên bôn ba, việc gì đến rồi sẽ đến. Số có nhiều may mắn. 
1944,2004,2064 Giáp Thân - cung Khôn - Dương Thủy - Tuyền Trung Thủy
: Nước giữa dòng, nước trong giếng - xương con khỉ, tướng tinh con heo - khắc Thiên Thượng Hỏa - con nhà Hắc đế, từ tánh, phú quí. Xung khắc với tuổi: Mậu Dần, Bính Dần, Canh Ngọ, Canh Tý.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Giáp Thân mạng Thủy số này,
Nước ở trong giếng họ đồn chẳng sai.
Thu Đông sanh thuận là trai,
Giàu nghèo cũng sướng sanh thai đặng mùa.
Xuân Hạ là lỗi số sanh,
Bần cùng vất vả như cua gãy càng.
Số này trắc trở nhiều bề,
Cung thê có khắc chẳng hề sai ngoa.
Tuổi nhỏ khắc mẹ khắc cha,
Anh em chẳng thuận chẳng hòa cùng nhau.
Nếu mà ăn ở thẳng ngay,
Phật Trời phù hộ có ngày đặng an.
Tuổi nhỏ phải chịu gian nan,
Tưởng đâu chết hụt chết oan đã rồi.
Số người trung vận chẳng an,
Hậu vận tiền của giàu sang hơn người.
Phụ giải tổng quát: tuổi giáp thân số người phải là con người sung sướng dù có nghèo khó nhưng thể xác không cực khổ, số lúc nhỏ có bị tiểu tật, nếu không cũng bị chết hụt nhiều lần, nhưng nhờ cha mẹ có âm đức cho nên đều qua khỏi. Anh em chẳng hòa thuận. Lúc nhỏ giữ tiền chưa đặng giàu, có rồi cũng tan biến đi, tuổi ngoài bốn mươi mới tụ tài được. Nhân duyên buổi đầu không thành về sau mới bên duyên giai ngẫu.
Nữ mạng Giáp Thân có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Giáp thân mạng Thủy số này,
Nước ở trong giếng họ đồn chẳng sai.
Nếu nàng sanh đặng Thu Đông,
Giàu nghèo cũng sướng bởi sanh thuận mùa.
Xuân Hạ sanh ra cực phần,
Như cây rụng lá như cua gãy càng.
Lỗi sanh vất vả bần hàn,
Không ai nương tựa ngó ngàng đến ta.
Số cô trắc trở tư bề,
Vợ chồng sung khắc vậy mà đông con.
Lỗi sanh ăn ở thẳng ngay,
Phật Trời chẳng độ khó lòng làm nên.
Số này tiền của có thừa,
Nếu mà đức tốt cuộc đời giàu sang. 
Phụ giải tổng quát: Tuổi Giáp Thân nếu quý cô nào sanh vào mùa Thu và mùa Đông và nhằm ban đêm ấy là thuận số cuộc đời hoàn toàn sung sướng có chồng giàu sang có địa vị quan trọng trong xã hội. Nếu cô nào sanh nhằm ban ngày và nhất là mùa Xuân và mùa Hạ thì sấu số phải tu tâm tích đức thì trời phật độ cho mới khá. Người đàn bà tuổi Giáp Thân thường hay khổ tâm cực trí vì chồng vì con. Cuộc đời lúc nhỏ vất vả, trung vận có của nhưng phải có đức độ thì mới mong cầm của được.
1945,2005,2065 Ất Dậu - cung Chấn - Âm Thủy - Tuyền Trung Thủy : Nước trong giếng - xương con gà, tướng tinh con cua - khắc Thiên Thượng Hỏa - con nhà Hắc đế, từ tánh, phú quí. Xung khắc với tuổi: Kỷ Mẹo, Đinh Mẹo, Tân Mùi, Tân Sửu.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Số này tuổi nhỏ khó nuôi,
Lớn lên mạnh khỏe tài ba hơn người.
Thu Đông sanh đặng thời yên,
Có phần sung sướng như cua đủ càng.
Xuân Hạ lỗi số cực thân,
Làm ăn có của vậy mà phải lo.
Năm xưa vận hãy dỡ dang,
Tới hồi vận giữa lại càng vinh hoa.
Bởi nhờ người quý giúp ta,
Sau này lập nghiệp vinh hoa thanh nhàn.
Số người tính đức hiền lương,
Nhưng mà anh em chẳng thuận chẳng hòa.
Có tay tạo lập cửa nhà,
Phước theo vận cuối tới già hiển vinh.
 Phụ giải tổng quát: cuộc sống của tuổi Ất Dậu có nhiều buồn khổ riêng tư vào thời tiền vận và trung vận, về hậu vận mới được an nhàn và sung sướng được. Tuổi Ất Dậu cuộc đời không được nhiều may mắn, cuộc sống có nhiều đau thương lúc tuổi nhỏ, lớn thì gặp đôi chút may mắn về sự nghiệp có thể thành công đôi chút về tài lộc. Số hưởng thọ trung bình từ khoảng 57 đến 62 tuổi là mức tối đa. Nhưng làm phước đức, ăn ở hiền lành được gia tăng niên kỷ trên 5 năm, gian ác thì giảm kỷ. Tình duyên như dòng suối chảy có lúc mạnh mẽ, có lúc lại êm đềm, không định được những gì xảy ra của ngày mai. Sinh vào những tháng 8 và 12 Âm lịch cuộc đời  phải thay đổi ba lần tình duyên và hạnh phúc. Sinh vào những tháng 1, 2, 3, 4, 5, 9 và 10 Âm lịch tình duyên và hạnh phúc phải thay đổi ít nhất hai lần trong cuộc đời. Sinh vào những tháng 6, 7 và 11 Âm lịch sẽ hưởng được hạnh phúc một vợ.
Nữ mạng Ất Dậu có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Ất Dậu cung Cấn số nàng,
Mạng Thủy nước giếng chảy hoài liên miên.
Thu Đông sanh thuận thời yên,
Gái thì sung sướng như tiên giáng trần.
Xuân Hạ lỗi số cực thân,
Có chồng chẳng đặng trọn niềm gối chăn.
Trung niên cũng chẳng có phần,
Lo lắng bương bãi tảo tần lo thân.
Lập nên nhà cửa nhiều lần,
Vậy mà cũng rả vì phần chưa an.
Hậu vận mới được an nhàn,
Làm dư có của tụ tài số cô.
Số phải thuận niệm ăn chay,
Thì Trời Phật độ họa may sang giàu.
Tấm thân an mạnh thảnh thơi,
Gia tài sự nghiệp có thời mới nên.
Phụ giải tổng quát: Số gái tuổi Ất Dậu phần đông phải chịu cảnh bẽ bàng duyên phận, có nhiều cô phải nuôi con cho chồng (thứ thiếp). Số đàn bà này (vượng phu ích tử) lo cho người nhiều hơn là lo cho bản thân mình. Nhưng lại là người có tài trí sáng suốt học ít biết nhiều thích sống cuộc đời phiêu bạc rày đây mai đó. Sống nhờ người dưng nước lã chớ chẳng có họ hàng. Vận sau nếu có tu nhân tích đức thì họa chăng mới được giàu sang.
1946,2006,2066 Bính Tuất - cung Tốn - Dương Thổ - Ốc Thượng Thổ
: Đất trên nóc nhà - xương con chó, tướng tinh con trâu - khắc Thiên Thượng Hỏa - con nhà Huỳnh đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Mậu Thìn, Nhâm Thìn, Nhâm Ngọ, Nhâm Tý.
Nam mạng có Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Mạng Thổ là đất nóc nhà ở an.
Số người lao lực lao tâm,
Làm ăn vất vả mới mong sang giàu.
Số nhờ kẻ quý giúp nên,
Thang mây bước tới hanh thông có ngày.
Xét qua tâm tánh ở đời,
Thấy ai nghèo khó thua mình giúp cho.
Vậy mà người ấy chẳng lo,
Ăn rồi quẹt mỏ trả cho oán thù.
Lòng dạ rất tốt cho nên,
Thương người phải chịu không thù giận ai.
Con người ăn ở thẳng ngay,
Rủi gặp tai nạn ơn trên độ liền.
Phụ giải tổng quát: số tuổi này con người hiền lương nhưng vất vả lao lực về tâm trí, làm có của nhưng không dám ăn xài, thấy bạn bè nghèo khó thì hay giúp đỡ nhưng không có phần chơi với bạn bè tốt, thường bị lấy oán trả ơn. Số người truân chuyên từ lúc nhỏ tuổi khá giả hơn, số này nhờ âm đức phật trời cho nên sống cuộc đời may nhiều rủi ít. 
Nữ mạng Bính Tuất có bà Chúa Ngọc độ mạng.
Bính Tuất mạng Thổ số này,
Ít tìm thấy ở nóc nhà mà ra.
Thuận sanh mùa Hạ thì sang,
Gái thì sung sướng thanh nhàn lo chi.
Mùa Xuân lỗi số khổ bần,
Thu Đông cũng lỗi lắm phần gian nan.
Lỗi sanh cực nhọc thở than,
Thuận sanh phú quý vinh sang hơn người.
Số có bụng tốt thẳng ngay,
Rủi gặp tai nạn nhờ thần độ cho.
Đàn bà Giáp Bính can Canh,
Người nào cũng quý cũng sang không bền.
Số nàng lắm kẻ mến thương,
Thang mây bước tới hanh thông có ngày.
Hạn xưa còn khó nhọc thay,
Đến chừng bốn bốn vận này mới nên.
Phụ giải tổng quát: Số người tuổi Bính Tuất là người cao sang phần đông là vậy, dù nghèo khó cũng không đến nồi bần tiện, số gái có chồng giàu sang, có địa vị, mọi người mến thương. Nếu sanh vào mùa hạ và nhằm ban ngày thì lỗi số. Số phải chịu lận đận lúc thiếu thời. Số tuổi lập nghiệp giàu có phải là 44 tuổi trở đi thì giàu sang tột đỉnh.
1947,2007,2067 Đinh Hợi - cung Cấn - Âm Thổ - Ốc Thượng Thổ : Đất ở nóc nhà; Đất ổ tò vò - xương con heo, tướng tinh con dơi - khắc Thiên Thượng Hỏa - con nhà Huỳnh đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Kỷ Tỵ, Quý Tỵ, Quý Mùi, Quý Sửu.
Nam mạng có Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng.
Đinh Hợi cung Cấn số này,
Đất ở dưới thấp bò lên nóc nhà.
Thuận sanh mùa Hạ thì sang,
Có phần sung sướng người sang nể vì.
Thổ vượng tứ quý lo chi,
Thu Đông Xuân mộc khắc lòng chẳng an.
Làm trai Đinh Hợi gan lì,
Nhưng mà ngay thẳng ít ai bạo tàn.
Số người chết hụt chết oan,
Nhưng nhờ trời độ qua cơn tai nàn.
Vợ chồng lỡ dỡ đò ngang,
Duyên sau mới hiệp mới an cửa nhà.
Ra ngoài sang quý số này,
Vận sau càng lại thêm phần giàu sang. 
Phụ giải tổng quát: Tuổi đinh hợi nếu sanh nhằm ban đêm thì về sau được phú quý có vợ giàu sang. Số người quyền quý mọi người chung quanh kính nể vì có bản tánh hiền lương ngay thẳng. Còn nếu sanh nhằm ban ngày thì bệnh tật gian lao. Số có thay đổi tình duyên, và lập nghiệp phương xa thì mới khá. Có phước nhờ trời độ mạng không thì phải có tật nguyền hoặc bị tai nạn.
Nữ mạng Đinh Hợi có bà Chúa Ngọc độ mạng.
Đinh Hợi cung Cấn số nàng,
Đất ở dưới thấp mà leo nóc nhà.
Số sanh mùa Hạ thuận mùa,
Gái thời tốt số chồng thương nể vì.
Thổ vượng tứ quý lo chi,
Tháng Chín, tháng Chạp lo gì tháng Ba.
Mùa Xuân Mộc khắc khô khan,
Thu Đông lỗi số sanh ra cực hoài.
Đinh Hợi số gái tài hay,
Hiền lành ngay thẳng ít ai bạo tàn.
Số người tánh nết đoan trang,
Họ hàng cốt nhục ai mà chẳng thương.
Số nàng sang quý tự nhiên,
Vận sau sẽ thấy có duyên phú hào.
Tuổi sanh cho đến niên cao,
Tự mình tự lập biết bao tủi hờn.
Phụ giải tổng quát: số đàn bà tuổi Đinh Hợi mặc dù tính đoan trang, song về tình duyên thì phải chịu nhiều lận đận¸ số người phú quý giàu sang cũng tự mình dựng nên cơ nghiệp chớ chẳng ai giúp đỡ. Số này thuận sanh phải là ban đêm thì được phú quý, còn sanh nhằm ban ngày thì phải chịu gian lao khổ cực thay đổi tình duyên. Số dược quới nhơn phù trợ. Số thọ đến 73 tuổi, sau nhờ con gái hơn con trai. 
1948,2008 Mậu Tý - cung Càn - Dương Hỏa - Tích Lịch Hỏa 霹靋
: Lửa sấm sét - xương con chuột, tướng tinh con chó sói - khắc Thiên Thượng Thủy - con nhà Xích đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Bính Ngọ, Giáp Ngọ.
Nam mạng có bà Quan Âm độ mạng.
Vốn người cốt cách cang cường,
Ấy là Mậu Tý con người đảm đang.
Thuận sanh thì đặng làm quan,
Cha mẹ vui vẻ lập đàng ăn chay.
Số này phước lớn chẳng vừa,
Nhờ ơn Trời Phật độ trì là may.
Duyên nợ cũng phải đời đời,
Sau này gia đạo mới là bình yên.
Vận xưa lận đận lo phiền,
Đến khi vận giữa tài nguyên tới gần.
Vận sau sẽ thấy tấm thân thanh nhàn.
Phụ giải tổng quát: con trai số tuổi mậu tý vốn người tính nết can cường, con người tháo vác đảm đương trong ngoài. Nếu thuận sanh ban ngày thì sau có số làm quan, còn ai sanh ban đêm thường hay bệnh tật. Người trung trực, sống cuộc đời tự lập nên gia đình chẳng nhờ cậy ai. Vận trước không khá, vận sau mới tụ tài. Tuổi từ 40 trở đi giàu sang phú quý.
Nữ mạng Mậu Tý có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Mậu Tý mạng Hỏa cung Càn,
Lửa trời chớp nhoáng có làn sáng trưng.
Nếu Cô sanh đặng Hạ Xuân,
Ấy là thuận số nên mừng cho thân.
Thu Đông bị khắc hao mòn,
Mẹ cha chạy thuốc sanh con lỗi mùa.
Số phải tu niệm ăn chay,
Ở ăn thiếu đức vào ngay ngục hình.
Buồn thay cho chuyện duyên tình,
Đầu trên dang dỡ bất bình nhiều phen.
Mậu Tý sung sướng hơn người,
Nếu mà bởi số người thời linh đinh.
Số cứ lận đận lo phiền,
Chờ khi vận giữa tài nguyên tới lần.
Bụng người cũng có tánh linh,
Nghi đâu trúng đó thật tình chẳng sai.
Cho hay Mậu Tý có tài,
Trao rèn âm đức có ngày hiển vinh.  
Phụ giải tổng quát: Số cô nào sanh được ban ngày thì có chồng giàu sang phú quý, có địa vị quan trọng trong xã hội. Phần đông cùng một tuổi Mậu Tý nhưng nếu sanh nhằm ban đêm là lỗi số phải chịu vất vả gian nan. Tánh người trung thực ít nói hiền hậu chẳng chịu nịnh bợ kẻ có thế lực. Tiền vận không khá, làm có cũng tiêu tan, trung vận trở đi mới trụ tài. Số thọ đến 76 tuổi, nếu ăn ở ác đức thì sống đến 31 tuổi là cùng.
1949,2009 Kỷ Sửu - cung Đoài - Âm Hỏa - Tích Lịch Hỏa - xương con trâu, tướng tinh con heo - khắc Thiên Thượng Thủy - con nhà Xích đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Đinh Mùi, Ất Mùi.
Nam mạng có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Kỷ Sửu số mạng như là,
Lửa trời chớp nhoáng có ngày cũng tan.
Số người mạng Hỏa tương sanh,
Làm ăn thuận lợi công danh dễ dàng.
Thu Đông sung khắc chẳng an,
Phòng người phản phúc mưu toan hại mình.
Chớ có tranh tụng hiểm nguy,
Ở đời nhịn nhục nhẹ thì cho ta.
Anh em nghịch ý chẳng hòa,
Ở gần gây gổ đi xa nhớ hoài.
Số tuổi sau có đất điền,
Ruộng vườn mua sắm của tiền làm ra.
Đầu tiên làm chẳng đặng an,
Hậu vận có của làm ăn mới bền.
Phụ giải tổng quát: số mạng của tuổi Kỷ Sửu này con người tánh được hiền hậu thông minh hơn người. Thành bại cuộc đời nhiều nỗi gian lao ở tiền vận. Nhưng số phải (tài vượng lão lai) hậu vận khá tốt. Nếu sanh nhằm ban ngày mà được nhằm mùa hạ và thu thì là có số sang quý sau có cơ nghiệp vợ con có hạnh phúc. Số lại nhờ vợ chớ sau chẳng nhờ con.
Nữ mạng Kỷ Sửu có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Kỷ Sửu số mạng như vầy,
Lửa trời sấm chớp sáng đầy trời mưa.
Nếu sanh mùa Hạ thì sang,
Gái mà Kỷ Sửu số nàng như trai.
Lòng dạ cứng cỏi nam trang,
Thấy mạnh hiếp yếu ra tay binh liền.
Số này chẳng chịu ở yên,
Có tay buôn bán lại chuyên nhiều nghề.
Bạc tiền như giấc chiêm bao,
Có rồi lại hết sớm vào tối ra.
Số cô phải chịu phong ba,
Ba mươi sáu tuổi mới là yên thân.
Số cô tuổi nhỏ bôn ba,
Nhưng mà cô số chẳng qua ông trời.
Làm giàu phải tự tay ta,
Chẳng cần cha mẹ cùng là phu quân.
Kỷ Sửu lập nghiệp nên nhà,
Công danh sẳn có bởi nhờ căn tu.
Phụ giải tổng quát: đàn bà Kỷ Sửu tánh tình trung trực không chịu sống cuộc đời nhờ vả ai, cũng chẳng nịnh bợ kẻ có thế lực, lại ghét ai nịnh bợ mình. Thấy việc trái ý, ỷ mạnh hiếp yếu là hay can thiệp. Cô lại là người có giác quan thứ sáu thường hay nghi đâu trúng đó, nhiều khi có tai nạn cũng được thoát hiểm, làm ăn thường có quý nhân giiúp đỡ. Số này có cơ nghiệp lớn cũng nhờ ơn trên hộ độ nhưng người nào lỗi số thì phải chịu trắc trở lương duyên. Nên tu nhân tích đức.
1950,2010 Canh Dần - cung Cấn - Dương Mộc - Tùng Bách Mộc
: Gỗ cây Tùng Bách - Xuất sơn chi hổ: cọp ra khỏi núi - xương con cọp, tướng tinh con heo - khắc Lộ Bàng Thổ - con nhà Thanh đế, trường mạng. Xung khắc với tuổi: Nhâm Thân, Mậu Thân, Giáp Tý, Giáp Ngọ.
Nam mạng có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số tuổi Canh Dần,
Người giàu mệt trí kẻ nghèo khổ thân.
Thuận sanh thì số lại Đông,
Canh Dần là số vợ chồng đôi ba.
Đặng sanh sung sướng vô cùng,
Có người sai khiến có bồi nấu ăn.
Nhưng mà cũng số lạ kỳ,
Có khi hưng thạnh có khi điêu tàn.
Ra ngoài doanh nghiệp có duyên,
Quý nhân phù trợ phước trời ban cho.
Tánh tình ăn ở thẳng ngay,
Ai mà hiếp yếu ra tay binh liền.
Gặp ai thách đố chẳng kiên,
Giận dữ mất trí như điên sợ gì.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi canh Dần con người có tánh nết không vừa, cuộc đời tự ý mà làm không ai bày vẽ. Tánh bốc đồng nóng nảy cho nên trong cuộc đời thường bị thất bại. Tuổi này lúc nhỏ thường hay bệnh tật khó nuôi. Nếu ai sanh nhằm vào mùa thu và đông nhằm ban ngày thì tốt. Số lập nghiệp phải ở phương xa mới khá, có tiền của nhưng không bền. Tuổi từ 44 trở đi mới an phận, giàu sang.
Nữ mạng Canh Dần có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Canh Dần cung Cấn số này,
Mạng Mộc Tòng Bá ấy là quý thay.
Đông Xuân thuận số lo chi,
Tuổi gặp sung sướng ít khi khổ nghèo.
Hạ Thu là lỗi số sanh,
Kẻ giàu mệt trí người nghèo khổ thân.
Thuận sanh sang trọng vô cùng,
Có người sai khiến có chồng vinh thân.
Lỗi sanh như thể nhện giăng,
Miệng thì nói chỉ tay phăng cẳng đùa.
Số này cũng lắm ly kỳ,
Có khi hưng thạng có khi điêu tàn.
Ra ngoài kẻ đón người đưa,
Quới nhân giúp đỡ phước dư có thừa.
Phụ giải: Số tuổi canh Dần nếu sanh thuận vào mùa thu và đông nhằm ban ngày thì đặng vinh hoa phú quý, có chồng giàu sang, có địa vị quan trọng trong xã hội, còn cô nào sanh nhằm mùa xuân và hạ mà nhằm ban đêm thì số phải chịu gian truân cực nhọc vất vả, số anh em đông nhưng ai làm nấy ăn chẳng ai giúp đỡ ai, tự tay lập nghiệp chẳng nhờ chồng con. Số có tiền của nhưng chưa giữ được. Tuổi ngoài 40 mới tụ tài.
1951,2011 Tân Mẹo - cung Ly - Âm Mộc - Tùng Bách Mộc - xương con thỏ, tướng tinh con rái - khắc Lộ Bàng Thổ - con nhà Thanh đế, trường mạng. Xung khắc với tuổi: Quý Dậu, Kỷ Dậu, Ất Sửu, Ất Mùi.
Nam mạng có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Số gian nan, lắm dãi dầu,
Bởi sanh lỗi số khẩn cầu ơn trên.
Hạ Thu lo lắng khôn lường,
Hưu tù xung khắc ví chưng lỗi mùa.
Lỗi số mà đặng làm vua,
Bị giặc vây không chịu thua đầu hàng.
Nhưng nhờ số tuổi hiền lành,
Nhờ Trời Phật độ ngày nay mới còn.
Nhân nghĩa phước đức giữ tròn,
Tham tài ở ác chẳng còn chẳng sai.
Vô duyên với kẻ thân nhân,
Anh em như thể người dưng láng giềng.
Số này tiền vận khác xa,
Đến khi vận cuối nghiệp nhà mới nên.
Phụ giải tổng quát: Số này phần đông lúc nhỏ khó nuôi, số buồn nhiều vui ít, dù có giàu sang đến đâu cũng có nhiều tâm sự lo âu chớ không được rảnh trí như các tuổi khác. Số phải thay nhà đổi bạn. Có bà con cũng như tuyết lạnh giá tan, lãnh đạm chẳng nhờ cậy được. Thân tự lập mà nên danh nghiệp. Số này tu thì mới thọ, còn nếu không có âm đức thì chết khoảng 31 hay 33, ai qua được vận đó thì về sau giàu có, được nhứt phú quý, tam vinh hiển, tứ đạt cao. Càng già, càng phát đạt giàu sang.
Nữ mạng Tân Mẹo có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Tân Mẹo mạng Mộc cung Ly,
Cây Tòng cây Bá ai bì mạng ta.
Đông Xuân sanh thuận hai mùa,
Giàu sang cũng có quới nhơn cũng nhiều.
Nhưng mà Thu Hạ chẳng an,
Cũng vì xung khắc sanh ra lỗi mùa.
Đặng sanh như ở nhà lầu,
Nghịch sanh như thể cây cầu gảy ngang.
Gái mà tuổi Mẹo rất hiền,
Thấy ai ngọt dịu có tiền cũng đưa.
Vợ chồng lở dỡ duyên xưa,
Nhiều chỗ hỏi cưới chẳng vừa ý ta.
Anh em xung khắc chẳng hòa,
Ở gần gây gỗ đi xa nhớ rày.
Phụ giải tổng quát: Tuổi Tân Mẹo nếu cô nào thuận sanh hai mùa Xuân và Đông thì giàu sang phú quý, mà phải là ban ngày thì mới trọn tốt. Còn cô nào sanh nhằm ban đêm mà nhằm mùa Hạ thì số phải cực khổ có thay chồng thì ít lắm là hai lần sau thì mới thành. Số này từ năm 31 đến 33 gặp nhiều gian lao khổ sở cần phải tu tâm tích đức mới mong thoát qua tai nạn.
1952,2012 Nhâm Thìn - cung Khảm - Dương Thủy - Trường Lưu Thủy
: Giòng nước lớn; nước chảy dài - xương con rồng, tướng tinh con chó sói - khắc Thiên Thượng Hỏa - con nhà Hắc đế, trường mạng. Xung khắc với tuổi: Bính Tuất, Giáp Tuât, Bính Dần.
Nam mạng có ông Tử Vi độ mạng.
Nhâm Thìn số mạng như là,
Trường lưu mạng Thủy chảy hoải luôn luôn.
Lỗi sanh Xuân Hạ phải buồn,
Giàu sang cũng mệt khổ thân cực hoài.
Thu Đông sanh đặng thời may,
Như cá gặp nước như rồng gặp mây.
Đàn ông thuận số Can Nhâm,
Số thì quyền tước không thì cũng ông.
Đặng sanh là số tự trời,
Nhờ Trời Phật độ mới toàn mạng thay.
Số phải đợi vận làm giàu,
Hạn quá bốn chín lên cao lần lần.
Phước dư Trời báo thiện nhân,
Thọ khương phú hậu riêng xuân một nhà.
Phụ giải tổng quát: Số này là số giàu có nhưng thể xác không được sung sướng. Chỉ trừ người nào sanh thuận mùa đông và thu thì cuộc đời gặp may nhiều rủi ít. Khi thuận mùa sanh thì đời lên như diều gặp gió, có câu "nam Nhâm, nữ Quý". Đàn ông can nhâm thì phần đông được tốt số, hơn nữa nếu sanh vào ban ngày thì dễ nuôi, hậu vận lại được vinh hiển, tánh tình của tuổi nhâm Thìn người cương trực ngay thẳng mà hiền lương. Số lúc nhỏ vất vả, lớn lên có vợ giàu sang. Tuổi từ 49 thì giàu có ít ai sánh kịp. Nhơn duyên lại có phần trắc trở, hai lần thay đổi, sau mới yên nhà.
Nữ mạng Nhâm Thìn có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Nhâm Thìn cung Khảm số này,
Mạng Thủy nước chảy chẳng hề ngừng tuông.
Lỗi sanh Xuân Hạ phải buồn,
Giàu có mệt trí thức luôn đêm ngày.
Thu Đông sanh đặng thời may,
Nữ nhân là gái chẳng chìu lụy ai.
Tới đâu thân kẻ bề trên,
Anh em xung khắc chẳng nên ở gần.
Vợ chồng cũng phải một lần,
Đôi dòng tha thứ tại phần số ta.
Ly hương tổ quán ông bà,
Xứ xa lập nghiệp cửa nhà đặng an.
Phụ giải tổnh quát: tuổi Nhâm Thìn số người phải cực về thể xác dù giàu có cũng vậy, chỉ trừ người nào sanh thuận vào mùa thu và mùa đông thì mới sung sướng, có chồng giàu có quí trọng, nhưng phải sanh vào ban ngày thì mới trọn tốt, tánh người khẳng khái cương trực, chẳng chịu bưng bợ kẻ có thế lực. Tuổi này từ 40 tuổi trở đi thì mới chắc tụ tài. Số tay trắng làm nên sự nghiệp (bạch thủ thành gia), anh em chẳng thuận hòa. Chỉ nhờ người dưng mà tạo nên sự nghiệp. Số thọ đến 79 tuổi.
1953,2013 Quý Tỵ - cung Khôn - Âm Thủy - Trường Lưu Thủy: Nước chảy dài - xương con rắn, tướng tinh con chó - khắc Thiên Thượng Hỏa - con nhà Hắc đế, trường mạng. Xung khắc với tuổi: Bính Tuất, Giáp Tuât, Bính Dần.
Nam mạng có ông Tử Vi độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Quý Tỵ mạng Thủy nước chảy tuông ra vàm.
Thu Đông thuận số thời sang,
Giàu nghèo cũng sướng tấm thân thanh nhàn.
Xuân Hạ lỗi số cực thân,
Hai mùa cũng lỗi tảo tần gian nan.
Số này thân tự lập thân,
Lộc trời có bởi ông cha để dành.
Số đặng vinh hiển gia đình,
Bôn ba nào có ích gì bôn chen.
Phong trần ngồi những đợi thời,
Năm ba mươi tuổi có cơ làm giàu.
Một mai vận đặng hanh thông,
Phong lưu sung sướng trong vòng trần ai.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi quý Tỵ mặc dầu cực khổ lúc nhỏ nhưng số giàu có sớm. Năm 30 tuổi trở đi thì có cơ hội làm giàu. Số được hưởng của cha mẹ để lại, số này nhờ phúc đức của tiền nhân mà giàu có phát đạt sớm. Nhưng tuổi dưới 20 thì phải lưu lạc nhiều nơi. Số người được quới nhơn giúp đỡ. Số trường thọ và gia môn yên ổn, sau có vợ cũng là con nhà có gia giáo và nhờ bên vợ nhiều hơn cha mẹ ruột.
Nữ mạng Quý Tỵ có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Cung Không mạng Thủy nước đầy chảy ra.
Nếu nàng sanh thuận mùa Đông,
Giàu nghèo cũng sướng tấm thân thanh nhàn.
Xuân Hạ sanh ra khổ bần,
Chịu phần khổ sở lắm lần gian nan.
Số này xém chết một lần,
Nhưng nhờ ơn đức thánh thần chỡ che.
Lỗi số vận mạng đổi đời,
Ly hương tổ quán ở thời mới an.
Anh em có kẻ giàu sang,
Ta nghèo phải chịu khó toan cậy nhờ.
Ngày mai mọi sự thành công,
Thanh nhàn giàu có hưởng phần ấm no.
Phụ giải tổng quát: Phần đông tuổi này là người cao số khi gặp tai nạn, trong đời có chết hụt một lần, nhờ âm đức của mẹ cha cho nên thoát nạn. Cô nào thuận sanh vào mùa Thu thì được hưởng giàu sang phú quý sống có hạnh phúc, chồng là người có địa vị trong xã hội. Còn lỗi sanh nhằm vào mùa Hạ và mùa Xuân số phải chịu duyên nợ đa đoan, khổ cực trăm đường. Nhưng nếu sanh vào hai mùa này mà được ban ngày thì không đến nỗi xấu. Số lưu lạc nhiều nơi, nếm đủ phong trần sau mới thành đạt nhờ có chí lớn mới thành công. Số thọ đến 81 tuổi.
1954,2014 Giáp Ngọ - cung Ly - Dương Kim - Sa Trung Kim
: Vàng trong cát - xương con ngựa, tướng tinh con chim trĩ - khắc Thạch Lựu Mộc - con nhà Bạch đế, an mạng, phú quí. Xung khắc với tuổi: Mậu Tý, Nhâm Tý, Canh Dần, Nhâm Dần.
Nam mạng có bà Chúa Ngọc độ mạng.
Giáp Ngọ cung Cấn số trai,
Vàng ở trong cát ráng tìm giàu ngay.
Số tuổi no đủ mọi đường,
Phước kiêm phú quý thọ khương một đời.
Ôn hòa trung hiếu tánh người,
Gia đình giáo dục tự người hiền lương.
Bạc tiền không có thì thôi,
Có thì ai hỏi cũng trao tay liền.
Ăn rồi phản phúc tự nhiên,
Ơn đâu không thấy oán liền theo tay.
Có tánh nóng nảy chẳng hay,
Gặp ai thách đố ra oai đánh liền.
Mạnh yếu người cũng chẳng kiên,
Ai cản chẳng được như điên biết gì.
Phụ giải tổng quát: Người tuổi giáp Ngọ có số giàu sang, tánh người hiền hậu nhưng nóng nảy. Có lòng tốt đối với mọi người, nhưng số không chơi được với bạn tốt. Nếu ai sanh nhằm mùa thu và đông thì được giàu sang phú quý, còn sanh nhằm mùa xuân hay hè thì bị lỗi số nên lúc nhỏ phải gian nan. Số này thường hay gặp nhiều may mắn trong đời, người có lòng hiếu thảo với cha mẹ. Anh em thì xung khắc. Tuổi trở về già mới an cư lạc nghiệp tài lộc, danh rạng rỡ.
Nữ mạng Giáp Ngọ có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Giáp Ngọ Cung Ly mạng Kim,
Vàng trong bãi cát nếu tìm giàu ngay.
Nếu sanh thuận Thìn Tuất Sửu,
Thân Dậu năm tháng ít ai dám bì.
Hạ Xuân lỗi số gian nan,
Tỵ Ngọ hai tháng chẳng sang chút nào.
Lỗi sanh cực nhọc biết bao,
Tiền bạc chẳng có thân rày đó đây.
Nhưng người tính nóng hay gây,
Ấy là Giáp Ngọ số nàng chẳng sai.
Tánh người chẳng chịu hiếp ai,
Gặp mạng đuổi yếu ra tay binh liền.
Nhưng mà phải lỡ đò duyên,
Nhiều khi đau bịnh đứng ngồi chẳng nên.
Đàn bà Giáp Ngọ chẳng hiền,
Gặp chồng mạng lớn phải nhường nhịn ngay.
Phụ giải tổng quát: tuổi này nếu sanh thuận vào mùa Thu và Đông thì được giàu sang phú quý, còn nếu lỗi số sanh nhằm mùa Xuân và mùa Hạ cho nên cùng một tuổi Giáp Ngọ mà có kẻ sang người hèn là vậy. Số đàn bà dù có cực nhưng trong đời thường gặp những dịp may mắn. Tánh người bất phục những kẻ có thế lực, tiền bạc cho nên cũng vì vậy phải thất bại trong cuộc đời nhất là chồng. Tuổi Giáp Ngọ cũng chẳng nuông chiều ai dù là chồng cũng vậy, cho nên có khi phải chịu lỡ dỡ duyên tình. Số hậu vận mới có sự nghiệp nhưng trường thọ. Nếu cô nào thiếu âm đức thì yểu số sống đến 33 tuổi là cùng mạng. 
1955,2015 Ất Mùi - cung Khảm - Âm Kim - Sa Trung Kim : Vàng trong cát - xương con dê, tướng tinh con gà - khắc Thạch Lựu Mộc - con nhà Bạch đế, an mạng, phú quí. Xung khắc với tuổi: Kỷ Sửu, Quý Sửu, Tân Mẹo, Tân Dậu.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Vàng trong cát trắng khó mà tìm ra.
Đặng sanh sung sướng quý thay,
Mùa Thu cũng tốt số trai thanh nhàn.
Thuận sanh phú quý chẳng sai.
Nghèo giàu cũng sướng guốc giày nhởn nhơ.
Số người no đủ y lương,
Bôn ba lúc trẻ an khương về già.
Một tay gầy dựng cửa nhà,
Lao tâm phí lực tự mình làm ra.
Chờ cho vận giữa giao qua,
Tài nguyên phát đạt việc nhà thịnh hưng.
Vợ chồng con cái sum vầy,
Lập nên gia thất vui vầy ấm no.
Phụ giải tổng quát: số tuổi này phần đông đều ở mức trung bình không giàu có lớn nhưng cũng không đến nỗi bần cùng cơ cực chỉ trừ người nào sanh vào mùa thu và đông thì thuận số nên trong đời thường gặp nhiều may mắn. Còn sanh vào ban đêm mà vào mùa xuân và hạ thì bị lỗi số lúc nhỏ khó nuôi. Những người sanh ở mạng này thì tính nết thật thà ít gặp tai họa. Có công danh, được quới nhơn giúp đỡ. Số này tự lập nên gia nghiệp.
Nữ mạng Ất Mùi có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Ất Mùi cung Khảm mạng Kim,
Vàng trong cát trắng dễ gì tìm ra.
Thuận sanh Thìn Tuất Sửu Mùi,
Mùa Thu cũng tốt thanh nhàn.
Xuân Hạ thì lỗi số nàng,
Phải đành cam chịu trăm phần lao đao.
Con người có tánh tài lanh,
Cửa nhà chẳng có hỏi vay giúp người.
Ất Mùi số gái đáng thương,
Ít kẻ hung dữ nhiều người hiền lương.
Ai nói hung ác thì nhường,
Nhiều người lối xóm rất hay thương tình.
Hoa niên lập đặng gia đình,
Mấy lần nên nghiệp thình lình vở tan.
Hậu vận có của mới an,
Lập nên gia đạo ngày càng vinh quang.
Phụ giải tổng quát: Số gái Ất Mùi sanh được mùa thu thì tốt hơn hết, hay là mùa đông cũng được người có số tốt. Làm ăn việc gì cũng có quới nhân giúp đỡ, cho nên tuổi này làm giàu từ thuở hoa niên nhưng số chưa cầm của được giàu có rồi cũng bị tan vỡ. Về sau thì mới an cư lạc nghiệp, số cô nào sanh vào mùa Xuân và mùa Hạ thì gọi là lỗi số phải chịu gian lao khổ cực. Nhưng tuổi ất mùi có tánh thật thà hiền hậu trong đời ít gặp tai nạn. Số thọ đến 75 tuổi.
1956,2016 Bính Thân - cung Khôn - Dương Hỏa - Sơn hạ Hỏa
: Lửa dưới chân núi - xương con khỉ, tướng tinh con quạ - khắc Tích Lịch Hỏa - con nhà Xích đế, cô bần. Xung khắc với  tuổi: Giáp Dần, Nhâm Thân, Nhâm Tuất, Nhâm Thìn.
Nam mạng có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Bính Thân mạng Hỏa cung Khôn rõ ràng.
Tuổi sanh Xuân Hạ gặp thời,
Giàu nghèo cũng đặng an nơi thanh nhàn.
Thu Đông lỗi số chẳng an,
Có của cũng cực lưng mang quần đùi.
Hạn xưa chưa được hanh thông,
Như thuyền trôi dạt không phương bến bờ.
Số Trời định những bao giờ,
Tài ba vận mạng chờ ngày phát sanh.
Một đời tài sắc phong danh,
Đến khi vận giữa lần lần nối theo.
Ra ngoài kẻ quý người yêu,
Đắc tài đắc lộc còn nhiều hạn sau.
Phụ giải tổng quát: tuổi bính thân là người có số cao hơn người, dẫu rằng giàu cũng như nghèo đều có cuộc sông an nhàn thảnh thơi. Nếu người nào sanh thuận mùa xuân và thu sau này có vợ giàu sang lại được nhờ bên vợ, cuộc đời phú quí vinh hoa. Trong đời tuổi bính thân thì ít có bệnh tật hay gặp tai ương nhờ có quí nhơn phò trợ nên gặp nạn rồi cũng qua. Tuổi từ 40 trở đi giàu có lớn, gia đạo an hòa. Số có căn tu nên được hưởng thọ.
Nữ mạng Bính Thân có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Bính Thân mạng Hỏa cung Khôn,
Lửa ở dưới núi cháy lan đỏ trời.
Tuổi sanh Xuân Hạ gặp thời,
Giàu nghèo cũng đặng an nơi thanh nhàn.
Thu Đông lỗi số chẳng an,
Có của chẳng hưởng số nàng cực thân.
Số cô cực khổ quá tay,
Thuận sanh thong thả giàu sang mấy hồi.
Có điều lỡ dỡ duyên đầu,
Chồng sau mới hạp thuận hòa lứa đôi.
Số trời định xuống an bày,
Tài ba cho lắm chẳng qua số phần.
Cuộc đời tài sắc phong danh,
Đến khi vận mới hoàng làm nên.
Số người có của giúp thương,
Đắc tài hữu lộc phải ngoài ba mươi.
Phụ giải tổng quát: Số cô các tuổi Bính Thân phần đông đều được sung sướng dù là thuận sanh hay lỗi số cũng chẳng đến nỗi nào vất vả, có điều việc chồng con thì khó mà ở đời một chồng một vợ, phải thay đổi thì đời chồng sau mới làm nên danh nghiêp. Tuổi này ít khi gặp tai nạn hay bệnh tật. Số cầm của và tụ tài phải ngoài ba mươi thì mới chắc số lại ít con, chịu làm phúc đức nhờ trời phật che chở cho nên nhiều khi gặp nạn rồi cũng được thoát qua. Số thọ đến 67 nếu ở ác thì thọ không đến 43 tuổi.
1957,2017 Đinh Dậu - cung Chấn - Âm Hỏa - Sơn Hạ Hỏa : Lửa dưới núi - xương con gà, tướng tinh con khỉ - khắc Tích Lịch Hỏa - con nhà Xích đế, cô bần. Xung khắc với  tuổi: Ất Mẹo, Quý Mẹo, Quý Tỵ, Quý Hợi.
Nam mạng có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đinh Dậu cung Tốn tuổi ta,
Lửa ở dưới núi cháy hoài ngày đêm.
Mùa Xuân mùa Hạ sanh ra,
Đặng sanh sung sướng làm nên chức quyền.
Thu Đông lỗi số tự nhiên,
Hỏa bị Thủy khắc đảo điên cực hoài.
Số này trung vận bôn ba,
Khá rồi tan rã khiến tay chưa cầm.
Hậu vận mới đặng an tâm,
Dư ăn dư để của cầm khỏi rơi.
Số này vận mạng đổi dời,
Xa quê xa xứ ở thời mới an.
Bụng người cũng có tánh linh,
Nghi đâu có đó thiệt tình chẳng sai.
Số tuổi lòng dạ thẳng ngay,
Của rơi không lượm gặp người chỉ cho.
Phụ giải tổng quát: Tuổi này là số tuổi hiền lương tâm đạo, biết trọng lẽ phải, nên thường có quới nhơn độ trì. Người lại có giác quan thứ sáu, thường hay nghi đâu có đó. Số này sanh nhằm xuân và hạ thì giàu có. Tuổi này tuy vậy mà phải chịu lao đao. Lúc nhỏ người giỏi có tài hơn người, có lòng quảng đại, lại có thiên tư giỏi. 
Nữ mạng Đinh Dậu có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đinh Dậu cung Cấn số này,
Lửa ở dưới núi cháy hoài ngày đêm.
Xuân Hạ sanh đặng hạp thời,
Hỏa bị Thủy khắc đảo điên cực lòng.
Thu Đông cũng lỗi số nàng,
Làm ăn vất vả tiền tài chẳng an.
Số tuổi tai nạn hải hùng,
Tưởng đâu bỏ xác nhiều nơi đã rồi.
Nhưng nhờ ơn đức Phật Trời,
Độ cho qua khỏi mấy lần nạn tai.
Số này trung vận lao đao,
Khá rồi tan rã số ta chưa cầm.
Hậu vận mới được an thân,
Dư ăn dư mặc của tiền đầy kho.
Nhưng mà vận mạng đổi đời,
Lập nên gia nghiệp phải xa quê nhà.
Phụ giải tổng quát: số tuổi này tiền vận thì khá nhưng cầm của chưa được cho nên có thể nói là giàu đầu hôm khó sớm mai, nếu sanh vào mùa Thu và mùa Đông thì lại là lỗi số cho nên phải vất vả gian truân. Trung vận vinh hiển con cháu đông đủ, gia môn an hòa.
1958,2018 Mậu Tuất - cung Tốn - Dương Mộc - Bình Địa Mộc
: Cây ở đồng bằng; Cây mọc đất bằng - xương con chó, tướng tinh con vượn - khắc Sa Trung Kim - con nhà Thanh đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Canh Thìn, Bính Thìn.
Nam mạng có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Mạng Mộc bình địa là cây đất bằng.
Hạ Thu lỗi số khó khăn,
Hai mùa vất vả lăng xăng cực hoài.
Đông Xuân thời đặng gặp may,
Thanh nhàn sung sướng ít ai dám bì.
Có lúc tai nạn hiểm nguy,
May nhờ Phật độ không thì bỏ thân.
Tiền vận lắm lúc lôi thôi,
Nhà cửa nhiều lớp có rồi cũng tan.
Nhưng mà số mạng giàu sang,
Vinh hoa phú quý an nhàn tấm thân.
Số đặng vui vẻ thảnh thơi,
Người nhờ âm đức của Trời ban cho.
Phụ giải tổng quát: Tuổi mậu tuất là người quý tướng. Nếu sanh nhằm mùa đông và mùa xuân thì lại càng phúc đức dấy đầy, vợ đẹp con ngoan. Gia đình hưởng thụ từ trẻ cho nên đến già. Số này nhờ có âm đức của tiền nhân để lại nên hưởng được phước lộc của trời cho (thiên lộc tấn). Số được trên thuận dưới hòa. Gia đình sống có hạnh phúc.
Nữ mạng  Mậu Tuất có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Mạng Mộc bình địa là cây đất bằng.
Gái sanh nghịch số Hạ Thu,
Thanh nhàn sung sướng ít ai dám bì.
Có lúc tai nạn hiểm nguy,
Vậy mà Phật độ được qua tai nàn.
Buổi đầu tai nạn lôi thôi,
Nhà cửa nhiều lớp có rồi cũng tiêu.
Vợ chồng khắc khẩu cải hoài,
Vậy mà con cháu đầy đàng phải lo.
Nữ nhân ít kẻ hiền lương,
Gặp chồng mạng nhỏ thì cầm quyền ngay.
Số gái tánh cũng như trai,
Giận ai muốn xé nuốt tươi mới vừa.
Có tánh khẳng khái đảm đương,
Thấy mạnh hiếp yếu thì thương nhảy vào.
Phụ giải tổng quát: Số gái sanh nhằm can Mậu, thì có phần khổ hơn các Can khác. Người nào sanh thuận vào mùa Đông và xuân thì được phú quý. Còn ngoài ra thì dù có tiền của giàu có cũng phải cực thân nhưng phải sanh nhằm ban ngày thì trọn tốt, số người được hưởng của trời cho (Thiên, Lộc, Tấn) trọn đời vinh hoa phú quý. Số này phải chịu xa quê nhà mới lập nghiệp được, có chồng phải là quen nhau trước và cưới nhau thì ăn ở mới hòa hợp.
1959,2019 Kỷ Hợi - cung Cấn - Âm Mộc - Bình Địa Mộc : Cây mọc đất bằng - xương con heo, tướng tinh con gấu - khắc Sa Trung Kim - con nhà Thanh đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Tân Tỵ, Đinh Tỵ.
Nam mạng có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Mạng Mộc bình địa cây trên đất bằng.
Đông Xuân cũng thuận ai bằng,
Hai mùa thuận số có ăn thanh nhàn.
Số này có nạn vào thân,
Gian truân lắm độ phong trần lắm khi.
Tha hương lập nghiệp xứ xa,
Trở về vận cuối làm ra có tiền.
Vợ chồng trắc trở nhiều phen,
Nếu không thì cũng lòng dòng đôi ba.
Kỷ Hợi có số hiền lương,
Thấy ai ngọt dịu thì thương giúp liền.
Số tuổi tu niệm ăn chay,
Lòng ở nhân đức có ngày làm nên.
Phụ giải tổng quát: số tuổi này nếu không có âm đức e sẽ mang họa vào thân. Cho nên khuyên ai gặp tuổi kỷ hợi phải ráng mà giữ mình. Nếu sanh vào ban ngày thì mùa hạ được sung sướng ấy là thuận sanh. Số tự tay lập nên cơ nghiệp chớ chẳng phải nhờ anh em họ hàng. Nhưng phải đi xa lập nghiệp thì mới khá. Vận trước có phần lận đận gian nan, lưu lạc nơi xa, về sau mới an cư lạc nghiệp. Nên giữ gìn đạo đức, tình xưa nghĩa cũ, nếu không sẽ bị con cháu bạc tình bạc nghĩa, về già sống cuộc đời cô đơn bất hạnh.
Nữ mạng Kỷ Hợi có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Kỷ Hợi cung Cấn số này,
Mạng Mộc bình địa cây trên đất bằng.
Đông Xuân sanh đặng thời sang,
Hai mùa thuận số có căn thanh nhàn.
Hạ Thu sanh gái là nàng,
Ấy là lỗi số thiếp đành cực thân.
Thuận sanh gái sướng hơn trai,
Giàu cũng thong thả guốc giày nhổn nhang.
Gái thì có tánh hiền lương,
Thấy ai nghèo khó thì thương giúp liền.
Số phải niệm Phật ăn chay,
Lòng ở nhân đức có ngày làm nên.
Số người ăn trước ngồi trên,
Chức cao tước trọng kẻ trên giúp mình.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi Kỷ Hợi này là người đàn bà cao số, làm việc gì cũng có quới nhơn giúp đỡ. Nếu sanh thuận vào ban ngày mà mùa Đông và mùa Xuân thì hạp mùa, người có chân tử, nhưng về chồng vợ thì có phần trắc trở, tánh người hiền lương, ăn ở có đức độ, cho nên không đến nỗi nào. Vận trước lận đận gian lao chưa được tụ tài. Vận sau mới khá, 40 tuổi trở đi thì được giàu sang phú quý ít ai sánh bằng. 
1960,2020 Canh Tý - cung Càn - Dương Thổ - Bích Thượng Thổ
: Đất trên vách - xương con chuột, tướng tinh con dê - khắc Thiên Thượng Thủy - con nhà Huỳnh đế, quan lộc, bần cùng. Xung khắc với tuổi: Nhâm Ngọ, Bính Ngọ, Giáp Thân, Giáp Dần.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Canh Tý mạng Thổ cung Càn,
Đất ở đầu vách khó mà tìm ra.
Nhỏ thờ vất vả phiêu lưu,
Lớn lên lập nghiệp lắm ưu lắm phiền.
Số tuổi khẳng khái đảm đương,
Thấy mạnh hiếp yếu thì thường nhảy vào.
Bạc tiền như thể chiêm bao,
Giàu có như thể sớm vào tối ra.
Tạo lập lắm cửa lắm nhà,
Mua cất rồi bán thế là trắng tay.
Thấy người yếu thế cô đơn,
Có tiền cũng giúp chẳng cần đền ơn.
Số tuổi có chức có quyền,
Có tay quán xuyến có quyền khiển binh.
Vợ chồng xung khắc hay rầy,
Vậy mà con cháu đầy nhà phải lo.
Phụ giải tổng quát: tuổi canh tý là người đàn ông không chịu khuất phục kẻ có thế lực. Tính tình khẳng khái, ăn nói đứng đắng. Nếu sanh vào mùa đông thì cuộc đời sung sướng, quyền cao chức trọng. Số này tuổi và mạng có khắc cho nên lận đận lúc nhỏ, trở về sau thì được giàu sang. Số tay trắng tạo nên sự nghiệp sau nhờ con cái. Số trai hiếu thảo với cha mẹ.
Nữ mạng Canh Tý có bà Chúa Tiên độ mạng.
Canh Tý mạng Thổ cung Càn,
Đất ở đầu vách vậy mà cứng ghê.
Canh Tý sanh thuận tháng này,
Thìn Tuất Sữu Mùi số này tài cao.
Gái sanh Xuân mộc khắc chồng,
Cho hay lỗi số không đồng mùa sanh.
Số cô y lộc đủ dùng,
Không dư chẳng thiếu có chừng mà thôi.
Gái mà Canh Tý quyền hành,
Gặp chồng mạng nhỏ phải đành nhịn ngay.
Tánh người vui vẻ dễ thương,
Thấy mạnh hiếp yếu thì thường nhảy vào.
Tiền vận làm có của kho,
Bởi không biết giữ trời cho không còn.
Bạc tiền như thể chiêm bao,
Buổi đầu làm khá sớm vào tối ra.
Cho hay số ở thiên đình,
Tu nhơn tích đức giữ gìn mai sau.
Phụ giải tổng quát: Canh Tý là người có số giàu sang, nhưng không giữ được tiền của lâu. Có thể nói là giàu đầu hôm khi sớm mai, cô nào sanh nhằm mùa đông thì phú quý. Có nghề nghiệp như là cô giáo hay chủ nhà thuốc tây có chồng cũng là người có địa vị trong xã hội. Nhưng có chồng phải là người xa xứ về già được yên cửa yên nhà nhờ đứa con lớn làm nên sự nghiệp. Nếu cô nào có âm đức thì chỉ có một đời chồng mà thôi. 
1961,2021 Tân Sửu - cung Đoài - Âm Thổ - Bích Thượng Thổ - xương con trâu, tướng tinh con đười ươi - khắc Thiên Thượng Thủy - con nhà Huỳnh đế, quan lộc, bần cùng. Xung khắc với tuổi: Quý Mùi, Đinh Mùi, Ất Dậu, Ất Mẹo.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Tân Sửu mạng Thổ tuổi này,
Số cùng với mạng lắm lần khắc khe.
Vận thời dời đổi ngửa nghiêng,
Nhiều phen lận đận lắm lần gian nan.
Nếu sanh mùa Hạ thời may,
Thanh nhàn thong thả ít ai dám bì.
Số này chết hụt nhiều khi,
Nhờ ơn Trời Phật không thì mạng vong.
Anh em cha mẹ hai dòng,
Nếu không chồng vợ lòng dòng đôi ba.
Nếu không thay vợ đổi nhà,
Cuộc đời luống chịu vui chiều buồn mai.
Cho hay số phận Thiên Tài,
Tu nhân tích đức phước nhờ mai sau.
Phụ giải tổng quát: Người có số tuổi này bổn thân bất thường trời sanh quả là người khôn ngoan. Số có nhiều người thương mến, nhưng số và mạng có khắc cho nên tuổi nhỏ có chết hụt nhiều lần, nhưng nhờ hồng phúc của trời phật cho nên tai nạn được qua khỏi. Thuận sanh vào mùa đông lúc ban đêm thì quý và sanh ban ngày thì cực khổ. Số phải phiêu bạc gian hồ lập nghiệp ở phương xa thì mới nên nghiệp. Số phải lấy vợ ít lắm hai lần sau mới bền duyên tơ tóc.
Nữ mạng Tân Sửu có bà Chúa Tiên độ mạng.
Tân Sửu mạng Thổ cung Đoài,
Đất ở đầu vách ít ai cuốc đào.
Tháng Giêng lỗi số biết bao,
Thu Đông cũng cực số sao hẫm phần.
Số này khắc mẹ khắc cha,
Gần nhau xích mích xa nhau lại buồn.
Tánh người nói dữ nói hung,
Khẩu xà tâm Phật nói rồi bỏ qua.
Gái thì lập nghiệp phương xa,
Tình đầu luống chịu vui chiều buồn mai.
Cho hay trời đã an bày,
Tu nhơn tích đức để rày mai sau
Trời phật tin tưởng phụng thờ
Cho nên hậu vận mới nhờ tấm thân.
Phụ giải tổng quát: Tân Sửu nếu có cô nào sanh thuận mùa Hạ thì được giàu sang phú quý làm ăn việc gì trong đời cũng được thông suốt có địa vị trong xã hội, dù là đàn bà nhưng thích làm việc xã hội, lên xe xuống ngựa, có kẻ hầu người hạ. Còn cô nào sanh ban ngày thì ví như trâu kéo cày, cực khổ gian nan, số phải phiêu bạc đi nơi xa xứ lạ quê người thì làm ăn mới khá. Người có tánh hay giúp đỡ người nghèo khó. Lấy tình cảm làm thú vui. Nên tu thân tích đức để ngày sau được thanh nhàn.
1962,2022 Nhâm Dần - cung Cấn - Dương Kim - Kim Bạc Kim
: Vàng pha bạch kim - Quá lâm chi hổ: cọp đi qua rừng - xương con cọp, tướng tinh con ngựa - khắc Lư Trung Hỏa - con nhà Bạch đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Canh Thân, Bính Thân, Bính Dần.
Nam mạng có ông Tử Vi độ mạng.
Tuổi Dần cung Cấn mạng Kim,
Tướng người bịnh tật khó tìm chẳng an.
Tuổi nhỏ như thể chỉ mành,
Ốm đau bịnh tật đã đành khó nuôi.
Tánh tình ăn nói bải buôi,
Khôn ngoan mềm mõng hay vui hay cười.
Nam nhân cao số hơn người,
Số tu tích đức Phật Trời độ cho.
Số cao có số hơn người,
Đôi dòng ba thứ vợ ngoài vợ trong.
Nhưng mà chết hụt phải phòng,
Tướng mạng lớn lắm mới hòng sống lâu.
Huynh đệ cũng chẳng thuận hòa,
Tuổi nhỏ tự lập tuổi già nhờ con.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi này trai thì có tánh nóng nảy mau giận hờn. Miệng nói dữ như cọp rống la mà lòng thành hiền đức không hại ai "khẩu xà tâm phật". Nếu ai sanh thuận ban đêm nhằm mùa thu và đông thì số mạng được tương sanh sau này công danh hiển đạt với người. Lúc nhỏ phải chịu lao đao. Nếu sanh vào ban ngày thì có hơi khắc, cho nên người nào lỗi số phải chịu cuộc sống đủ ăn đủ mặc khó mà giàu sang, nhưng số thọ đến 70 tuổi.
Nữ mạng Nhâm Dần có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Nhâm Dần cung Cấn mạng Kim,
Là vàng tây trắng dễ gì tìm ra.
Nếu người sanh thuận mùa Thu,
Là người tốt số được phần giàu sang.
Đông Xuân ở mức trung bình,
Nếu là mùa Hạ là mùa lỗi sanh.
Số này tuổi nhỏ khó nuôi,
Ốm đau bịnh tật triền miên nhiều ngày.
Lớn lên y lộc đủ dùng,
Không dư chẳng thiếu ung dung thanh nhàn.
Nữ nhân sau số hơn người,
Gặp chồng hiền đức phải, thời nhịn ngay.
Làm ơn cho bạn chẳng nài,
Bạc tiền trợ giúp có ngày hại ta.
Anh em cũng chẳng thuận hòa,
Tuổi nhỏ tự lập tuổi già hiển vinh.
Phụ giải: Con gái tuổi nhâm Dần, phần đông có ở đời một đời chồng, phải cách trở duyên nợ rồi sau đó mới tái hợp. Tánh người nóng nảy như tánh đàn ông, nhưng cũng hay nói những điều dữ mà lòng hiền hậu, không ích kỷ, chẳng hại ai (khẩu xà, tâm phật). Tánh hay đa nghi, nhưng nếu đã chịu lập gia đình thì khó ai ngăn cản được. Nếu người nào sanh nhằm mùa thu và đông thì được giàu sang phú quý. Số tuổi và mạng có khắc nên lúc nhỏ thường hay bệnh hoạn, gian nan. Nhưng số này trường thọ, hậu vận mới an cư.
1963,2023 Quý Mẹo - cung Ly - Âm Kim - Kim Bạc Kim - xương con thỏ, tướng tinh con hươu - khắc Lư Trung Hỏa - con nhà Bạch đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Tân Dậu, Đinh Dậu, Đinh Mẹo.
Nam mạng có ông Tử Vi độ mạng.
Nhìn xem số mạng tuổi này,
Như vàng tây trắng có ngày giàu sang.
Tiền vận vất vả khó con,
Trung vận mạnh khỏe làm ăn hơn người.
Trai thì lại có lắm nghề,
Bụng người ngay thẳng không hề tham lam.
Mùa Thu sanh đặng thuận mùa,
Mùa Hạ hỏa khắc phải dời đổi thay.
Bụng người cũng có tánh linh,
Nghi đâu trúng đó thiệt tình chẳng sai.
Nếu thuận thì phước lại tăng,
Tuổi già sung sướng lộc tài thiếu chi.
Tuổi nhỏ phải chịu gian nan,
Tuổi già vinh hiển giàu sang hơn người.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi quý Mẹo này tuy rằng lúc nhỏ khổ cực gian nan, nhưng về sau càng lớn tuổi càng sung sướng vì có tâm đạo nên tuổi về chiều mới được hưởng thụ nhàn hạ, có con cái sau được nhờ. Nếu người nào sanh ban đêm thì quý tướng, sau này có địa vị quan trọng trong xã hội, số trường thọ. Người có chí lớn, có tài lại có duyên. Số đào hoa và cao số. Được thanh nhàn dù giàu có cũng như nghèo, không cực về thể xác.
Nữ mạng Quý Mẹo có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Quý Mẹo mạng Kim cung Ly,
Là vàng tây trắng đặng thì giàu sang.
Nếu sanh thuận số mùa Thu,
Như là nước chảy bon bon chẳng ngừng.
Mùa Hạ nóng bức chẳng hay,
Như cây mọc ở đầu làng gió bay.
Gái mà sanh đặng số này,
Hiền lành giàu kẻ sang giàu lắm thay.
Ăn nói ngọt dịu mỏng mềm,
Ít ai ghen ghét kẻ trên thương mình.
Bụng người cũng có tánh linh,
Nghi ai thì có thiện tình chẳng sai.
Số này cũng lắm nghề hay,
Tánh tình ngay thẳng chẳng ưa làm phiền.
Phụ giải tổng quát: Tuổi quý Mẹo phần đông sang trọng. Sách có câu : Nam Nhâm, Nữ Quý là đúng vậy, hơn nữa nếu năm này cô nào sanh thuận ban đêm mà thuộc về mùa thu thì cuộc đời sung sướng ít ai sánh bằng, còn trái lại sanh nhằm mùa hạ thì cuộc đời cùng một tuổi mà phải chịu gian truân thay chồng ít lắm là hai lần sau mới bền duyên cầm sắc. Nếu tu nhơn tích đức thì phước lại tăng, người có tài có duyên nói có người nghe tánh tình ngay thẳng. 
1964,2024 Giáp Thìn - cung Tốn - Dương Hỏa - Phúc Đăng Hỏa
: Lửa ngọn đèn; lửa đèn nhỏ - xương con rồng, tướng tinh con rắn - khắc Thoa Xuyến Kim - con nhà Xích đế, tân khổ. Xung khắc với tuổi: Nhâm Tuất, Canh Tuất, Canh Thìn.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Giáp Thìn số mạng may thay,
Tuổi cùng với mạng hợp hòa thuận sanh.
Thu Đông sanh ra khổ hèn,
Xuân Hạ sanh đặng như đèn sáng trưng.
Trai thì vui vẻ đào hoa,
Tánh thì hiền hậu không hay gian tà.
Thuận sanh sung sướng biết bao,
Lỗi sanh cực nhọc gian lao lắm lần.
Ví như cờ bạc đánh thua,
Về nhà lo lắng như cua gảy càng.
Số này trước ngắn sau dài,
Vợ chồng thay đổi ba lần mới yên.
Số phải tu niệm ăn chay,
Sống lâu hưởng phúc lộc Trời ban cho.
Phụ giải tổng quát: Giáp Thìn là số người may mắn, cao số, làm ăn có quới nhơn giúp đỡ. Số này không giàu thì cũng sang, số lại được trường thọ và có số đào hoa cho nên phải nhiều lần thay đổi vợ chồng mới yên gia thất ít lắm cũng ba lần. Phần đông thì tài lộc đủ dùng, trở về già mới được vinh hiển. Nếu có tâm tu niệm thì phước lộc được tăng thêm. Sau này nhờ được con cái.
Nữ mạng Giáp Thìn có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Đoán xem số mạng Giáp Thìn,
Mạng Hỏa lò lửa ở quanh ngọn đèn.
Thu Đông sanh đặng khổ hèn,
Xuân Hạ sanh thuận như đèn sáng trưng.
Thuận sanh con gái là nàng,
Gặp chồng mạng nhỏ chịu đầu hàng ngay.
Giáp Thìn mạng Hỏa như vầy,
Tuổi cùng với mạng hợp hòa tương sanh.
Có duyên vui vẻ hiền lành,
Tánh người điềm tĩnh không hay gian tà.
Số người duyên nợ bền lâu,
Vợ chồng con cái yên hòa gia môn.
Số có tu niệm thì hay,
Sống lâu hưởng phước triền miên tuổi già.
Phụ giải tổng quát: số tuổi Giáp Thìn nếu sanh thuận vào mùa thu và mùa đông thì được phú quý có chồng giàu sang. Tuổỉ và mạng được tương hạp, đàn bà con gái tuổi giáp thìn không giàu thì cũng có tướng sang. Sống trường thọ, con người có số đào hoa, cho nên được nhiều ong bướn ve vãn. Số có tài lộc từ trung vận đã làm nên sự nghiệp lớn, trở về hậu vận tiền bạc dư dả con cháu đông đủ con người phúc hậu được ơn trên che chở. Có tai nạn thấy chết trước mặt rồi cũng qua. Số vợ chồng hòa thuận sống đầy đủ hạnh phúc.
1965,2025 Ất Tỵ - cung Đoài - Âm Hỏa - Phúc Đăng Hỏa: Lửa đèn nhỏ - xương con rắn, tướng tinh con trùn - khắc Thoa Xuyến Kim - con nhà Xích đế, tân khổ. Xung khắc với tuổi: Quý Hợi, Tân Hợi, Tân Tỵ.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
 Ất Tỵ mạng Hỏa số này,
Cung Đoài lửa cháy sáng ngời tọa đăng.
Thu Đông lỗi số khó khăn,
Hai mùa khắc nghịch có ăn lo hoài.
Xuân Hạ mà đặng sanh thai,
Kẻ hầu người hạ có bồi bếp sai.
Số này tuổi nhỏ gian nan,
Trở về lớn tuổi có phần an thân.
Số người cách trở lương duyên,
Bằng không thì cũng vợ trong vợ ngoài.
Số mạng phước lớn nhờ Trời,
Khỏi bị chết hụt cũng thời cầm giam.
Phải nên phước đức tu tâm,
Phật Trời hộ độ mới an gia đình.
Phụ giải tổng quát: Số người tuổi ất Tỵ lúc nhỏ khó nuôi, nếu thuận số cũng bị lo lắng hoài. Chỉ trừ người nào sanh ban đêm thì mới có số trường thọ và quan lộc. Số người lúc nhỏ bị chết hụt hay lớn cũng bị tù đày nếu kém phước đức. Số từ hậu vận 44 tuổi trở đi mới tụ tài được. Số phải hai dòng con hoặc vợ đôi, chồng ba chớ không thể một vợ một chồng mà nên nghiệp được. Số người sanh ban ngày thì có tiểu tật, nhưng lại có giác quan thứ sáu, thường hay nghi đâu có đó, tâm linh báo trước những điều lành dữ. Số thọ đến 64 tuổi hoặc 87 tuổi, lúc chết con cháu đông đủ mặt.
Nữ mạng Ất Tỵ có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Ất Tỵ mạng Hỏa cung Đoài,
Ấy là lửa chác ở đèn tọa đăng.
Thu Đông lỗi số khó khăn,
Xuân Hạ sanh đặng làm ăn phát tài.
Hiền lành ăn ở thẳng ngay,
Chớ nên gian xảo mà mang tội tù.
Thân tộc giàu có không ham,
Nghèo thì phải chịu ai làm nấy ăn.
Anh em cũng chẳng đặng gần,
Khó khăn nghịch ý nói năng chẳng hòa.
Đầu tiên nhiều lớp cửa nhà,
Nhưng mà chẳng giữ sau mà mới nên.
Số này trắc trở lương duyên,
Vợ chồng lỡ dỡ chẳng yên một đời.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi Ất Tỵ nếu cô nào sanh vào ban đêm thì hạp và thuận mùa. Sanh mùa Hạ và mùa Xuân thì lại càng phát đạt hơn. Nhưng số lúc nhỏ thường hay đau yếu. Tuổi nhỏ phải chịu phiêu bạc nơi xa xứ. Lớn lên lập gia đình cũng tự chọn lấy chớ cha mẹ không ép buộc. Tuổi này phần đông phải chịu cảnh nuôi con cho chồng (làm vợ thứ) hoặc lấy người chết vợ hay lở dở chớ khó một vợ một chồng, số trở về già cực, trung vận giàu sang, tiền vận vất vả. Số cao, thọ đến 81 tuổi. 
1966,2026 Bính Ngọ - cung Càn - Dương Thủy - Thiên Hà Thủy
: Nước trên trời - xương con ngựa, tướng tinh con thuồng luồng - khắc Thiên Thượng Hỏa - con nhà Hắc đế, tân khổ. Xung khắc với tuổi: Mậu Tý, Canh Tý.
Nam mạng có bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Số cùng với mạng lắm lần gian nan.
Có lúc nguy hiểm chẳng an,
Tưởng đâu chết hụt chết oan đã rồi.
Duyên tình lỡ dỡ lôi thôi,
Trước thì sum họp sau rồi lại tan.
Anh em gia đạo bất hòa,
Đi xa thương nhớ về nhà chẳng yên.
Tiền vận vất vả lao đao,
Trở về hậu vận mới nhàn tấm thân.
Tuổi này cũng có tánh linh,
Nghi đâu trúng đó thiệt tình chẳng sai.
Số này tướng mạng lớn thay,
Quyền hành chấp chưởng lo thay cho người.
Phụ giải tổng quát: số này có cuộc sống thật là gian lao, bởi số và mạng có khắc. Cho nên nhiều lúc gian khổ nguy hiểm chỉ trừ người nào sanh vào ban đêm thì mới tốt. Lại là người cao số nên tiền vận phải chịu gian nan, hậu vận mới được sung sướng. Ai mà sanh nhằm tuổi này thì nhất định có thay vợ đổi chồng chớ không phải một vợ một chồng như các tuổi khác được. Tánh người thanh liêm chính trực, nên giữ đạo đức ăn ở hiền lành.
Nữ mạng Bính Ngọ có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Bính Ngọ mạng Thủy cung Càn,
Mạng Thủy là nước ở sông Giang Hà.
Thu Đông sanh đặng tuổi nàng,
Đặng mùa vương tướng số ta thanh nhàn.
Xuân Hạ sanh thiếp lỗi mùa,
Lỗi sanh cực nhcọ nên nàng gian nan.
Cho nên thân gái dặm tràng,
Duyên tình lỡ dỡ đôi đàng chia ly.
Anh em xung khắc bất hòa,
Đi xa thương nhớ về nhà chẳng yên.
Tuổi này lại có tính linh,
Nghi đâu trúng đó thiệt tình chẳng sai.
Gặp kẻ ăn nói bất bình,
Giận người lỗ mãn thiệt tình khó dung.
Tiền vận số phải lao đao,
Hậu vận vinh hiển giàu sang có thừa.
Phụ giải tổng quát: Tuổi Bính Ngọ nếu sanh nhằm mùa đông và mùa thu nếu là ban đêm thì được trọn tốt, còn cô nào sanh nhằm mùa hè và mùa xuân thì phải chịu lỗi số gian nan. Phần đông nếu sanh thuận thì giàu sang, phú quý. Đa số đều ăn ở giữ gìn đạo đức. Số không thuận hòa anh em. Số này ít khi ăn ở với nhau một đời chồng, phải có thay đổi lương duyên ít nhất hai lần mới thành gia thất.
1967,2027 Đinh Mùi - cung Đoài - Âm Thủy - Thiên Hà Thủy - xương con dê, tướng tinh con rồng - khắc Thiên Thượng Hỏa - con nhà Hắc đế, tân khổ. Xung khắc với tuổi: Kỷ Sửu, Tân Sửu.
Nam mạng có Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng.
Đinh Mùi tuổi nhỏ khó nuôi,
Thiên Hà nước chảy rỏ hoài như mưa.
Thu Đông sanh đặng mới vừa,
Lớn lên mạnh khỏe tài ba hơn người.
Xuân Hạ lỗi số chẳng vừa,
Gian nan lắm độ hiểm nguy lắm lần.
Số mạng tưởng đã qui tiên,
Nhiều lúc nguy hiểm đảo điên gặp hoài.
Số người phải chịu truân chuyên,
Tuổi trẻ cực nhọc tuổi già hiển vinh.
Tiền bạc như thể chiêm bao,
Nhiều lúc làm khá tốn hao chẳng còn.
Lắm khi trách trộm buồn thầm,
Người sao cùng tuổi họ cầm bạc muôn.
Phụ giải tổng quát: Số đinh mùi là người có tài, nhưng chưa thắng thời, làm ăn có của rồi cũng bị tiêu tan. Số tuổi chết hụt nhiều lần nhưng nhờ có quới nhơn phò trợ cho nên gặp tai nạn suýt chết rồi cũng toàn thân nhờ âm đức của cha mẹ để lại. Tuổi này thuận sanh vào mùa thu và đông nhằm ban đêm thì được phú túc sau này có vợ giàu sang. Còn nếu sanh vào mùa hạ nhằm ban ngày thì lỗi số, phải chịu vất vả gian truân nhưng từ trung niên thì phát đạt, yên cửa yên nhà
Nữ mạng Đinh Mùi có bà Chúa Ngọc độ mạng.
Đinh Mùi mạng Thủy số này,
Thiên Hà nước chảy nhỏ hoài như mưa.
Thu Đông sanh đặng thuận mùa,
Xuân Hạ lỗi số gái mà chẳng nên.
Không phần làm bạn với ai,
Ăn rồi quẹt mỏ rõ loài phản ta.
Số này thân gái âu lo,
Chồng con lo lắng một tay dựng nhà.
Tiền bạc như thể chiêm bao,
Buổi đầu giàu có sau rồi cũng tan.
Nhiều khi trách phận buồn than,
Cũng thời một tuổi họ cầm bạc muôn.
Có tay thương mại bán buôn,
Vậy mà chẳng được tình thương đậm đà.
Vợ chồng cách trở đôi ba,
Nếu mà có phước mới hòa thường nhau.
Phụ giải tổng quát: Đàn bà tuổi Đinh Mùi phần đông là giỏi dắn, có tay thương mãi buôn bán giàu có nhưng chẳng còn, số giàu khi đầu hôm sớm mai. Nếu sanh thuận vào mùa Thu và mùa Đông nhằm ban đêm thì trọn tốt gia môn yên ổn chồng con hạnh phúc. Còn sanh ban ngày thì lúc nhỏ khổ cực khó nuôi, gặp tai nạn có tiểu tật. Số tiền vận lao đao ba chìm bảy nổi nhiều phen giàu có rồi cũng sụp đổ. Từ trung niên 40 trở đi mới tụ tài. Tuổi này cao số thọ đến 85 tuổi.
1968,2028 Mậu Thân - cung Cấn - Dương Thổ - Thành Đầu Thổ - xương con khỉ, tướng tinh con lạc đà - khắc Thiên Thượng Thủy - con nhà Huỳnh đế, quan lộc. Xung khắc với tuổi: Canh Dần, Giáp Dần.
: Đất đầu thành, đất thuộc khu lớn, đất nền nhà (Đại Dịch Thổ; Đại Trạch Thổ).
Nam mạng có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Số cùng với mạng lắm lần gian truân.
Thìn Tuất Sửu Mùi sanh thai,
Tỵ Ngọ sáu tháng đặng mai thanh nhàn.
Số người cốt nhục không hòa,
Tự tay lập nghiệp mà nên cửa nhà.
Tuổi nhỏ chết hụt đôi lần,
Không thì bịnh tật khổ thân sau này.
Đầu tiên có của chẳng an,
Nhà cửa nhiều lớp rả tan đổi dời.
Tuổi nhỏ cực trí lao tâm,
Trở về lớn tuổi mới mong thanh nhàn.
Số người lại có biệt tài,
Làm ăn nên cửa bằng bàn tay không.
Phụ giải tổng quát: tuổi mậu thân con người có tài trí giỏi trước tuổi, khôn hơn người nhưng vì cao số nên phải chịu gian truân lúc nhỏ. Về cha mẹ anh em thì chẳng thuận hòa. Người dựng cơ nghiệp bằng hai bàn tay trắng. Nếu thuận sanh ban đêm vào mùa thu và đông thì sang quí. Tánh nết hiền lương, vui vẻ khôn ngoan. Số phải lập nghiệp phương xa thì mới khá. Nhưng phải thay đổi vợ. Nếu lập gia đình trễ muộn màng thì mới tốt.
Nữ mạng Mậu Thân có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Mậu Thân cung Cấn số nàng,
Mạng Thổ đất lớn nhiều người tài cao.
Thuận sanh Thìn Tuất Sửu Mùi,
Tỵ Ngọ sáu tháng đặng may thanh nhàn.
Thu Đông sanh gái là nàng,
Mùa Xuân cũng lỗi sanh nàng cực thân.
Số cô chết hụt đôi lần,
Chớ ở gian xảo vậy mà chẳng qua.
Răn lo tích đức tu thân,
Về sau mới được an nhàn tấm thân.
Số phải thay đổi nợ duyên,
Chồng sau mới được phỉ quyền yến anh.
Tuổi nhỏ chẳng đặng yên lành,
Trở về hậu vận mới hòng yên thân.
Nếu lòng tin tưởng Phật Trời,
Ngày sau con cháu một đời vinh quang.
Phụ giải tổng quát: Tuổi Mậu thân nếu sanh thuận ban đêm vào mùa thu và mùa đông thì được an nhàn phú quý. Tánh người vui vẻ thường gặp những điều may mắn. Số chẳng nhờ anh em họ hàng, tự tay làm nên sự nghiệp. Số phải xa xứ. Số gái có duyên nợ đa đoan. Tuổi nhỏ phải cực về vấn đề sinh kế, trở về già mới được thanh nhàn. Số này phần đông vất vả, dù có tiền cũng cực thân, con cái chẳng được nhờ. Số thọ đến 69 tuổi.
1969,2029 Kỷ Dậu - cung Ly - Âm Thổ - Thành Đầu Thổ (Đại Trạch Thổ : Đất nhà lớn) - xương con gà, tướng tinh con thỏ - khắc Thiên Thượng Thủy - con nhà Huỳnh đế, quan lộc. Xung khắc với tuổi: Tân Mẹo, Ất Mẹo.
Nam mạng có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Kỷ Dậu mạng Thổ cung Khôn,
Đại trạch đất lớn ở thì say mê.
Thìn Tuất Sửu Mùi chẳng chê,
Tỵ Ngọ sáu tháng đặng bề an thân.
Thu Đông hữu tú phân vân,
Hai mùa làm đặng công thần cũng lo.
Số này lúc nhỏ lao đao,
Hậu vận sung sướng phong lưu thanh nhàn.
Tánh người ngay thẳng chẳng gian,
Lại thêm có số thuận hành thọ thân.
Tha phương lập nghiệp mới nên,
Cửa nhà yên ổn gia môn thuận hòa.
Số này hưởng lộc tuổi già,
Cũng như áo gấm lại càng thêm hoa.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi kỷ dậu, tuy giàu có nhưng phần tâm trí lúc nào cũng cực, lo lắng nhiều mà thụ hưởng chẳng được bao nhiêu. Nếu người nào sanh vào ban ngày thì cũng tốt. Tuổi này lúc nhỏ bôn ba, vẫy vùng mới đủ ăn, nhưng cũng chẳng được yên. Số cực nhiều sướng ít. Tuổi từ bốn mươi trở đi thì mới được thanh nhàn hậu vận được hiển đạt. Người thiệt thà, không dối trá lại có căn tu nên trường thọ.
Nữ mạng Kỷ Dậu có Phật Bà Quan Âm độ mạng.
Kỷ Dậu mạng Thổ cung Ly,
Đất ở nhà lớn dễ gì tìm ra.
Hạp thì Thìn Tuất Sửu Mùi,
Tỵ Ngọ sáu tháng hạp mùa thuận sanh.
Thu Đông chẳng hạp chẳng an,
Tuy làm giàu có cũng là cực thân.
Đầu tiên là có của kho,
Vậy mà chẳng đặng vững bền tiêu hao.
Nhà của nhiều lớp rã tan,
Sắm rồn bán đó chẳng bền về sau.
Nhưng mà nhờ đức Phật Trời,
Làm ăn có của ở thời vận sau.
Lỗi sanh vô phước xấu phần,
Chơi bạn không tốt nhiều lần hại ta.
Vợ chồng chẳng được thuận hòa,
Vậy mà con cái đầy đàng phải lo.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi Kỷ Dậu sanh thuận mùa Thu và mùa Đông mà vào ban ngày thì được tốt. Số làm ra tiền của nhưng tuổi nhỏ giữ không được của, số giàu đầu hôm khó sớm mai, tuổi từ 40 trở đi thì mới tụ tài. Vợ chồng khắc khẩu hay cãi vã nhau nhưng con cái đông đủ. Tính người chơn chất thật thà, số có chồng phải là người xa xứ khác làng, phải lập nghiệp phương xa thì mới khá. Người có tánh hiền hậu hay thương bạn bè, nhưng thường bị bạn phản phúc. Số này phần đông sống về tình cảm nhiều hơn.
1970,2030 Canh Tuất - cung Khảm - Dương Kim - Thoa Xuyến Kim
: Vàng trang sức; xuyến bằng vàng - xương con chó, tướng tinh con cáo - khắc Đại Lâm Mộc - con nhà Bạch đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Giáp Thìn, Mậu Thìn, Giáp Tuất.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Canh Tuất cung Ly số này,
Mạng phần khó dưỡng lúc còn tuổi thơ.
Thuận sanh thì đặng mùa Thu,
Mùa Hạ Hỏa khắc như cua gãy càng.
Đông Xuân cũng lỗi số sanh,
Người thì vất vả gặp điều chẳng may.
Sớm ra có bịnh chẳng an,
Trong mình yếu đuối hoặc là tật chi.
Nhân duyên trắc trở buổi đầu,
Không thì chồng vợ lòng dòng đôi ba.
Tiền vận cực khổ lao đao,
Trở về hậu vận mới an gia đình.
Tu nhân tích đức thì may,
Trời ban phước lộc tiền tài thiếu chi.
Phụ giải tổng quát: Số tuổi canh tuất trong cuộc đời thường gặp nhiều gian khổ, lúc nhỏ có bệnh tật ốm đau hoặc có tật nguyền. Trở về sau từ trung vận mới làm ăn khá. Có bôn ba chẳng ích gì, nếu người nào có tâm đạo ăn ở hiền lành thì về sau gia nghiệp vui vẻ, tài lộc đầy đủ, còn nhơn duyên thì đời vợ sau mới thành. 
Nữ mạng Canh Tuất có bà Chúa Tiên độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Mạng Kim xoa xuyến là vàng đeo tay.
Mùa Thu sanh đặng gặp may,
Như cây gặp nước như cua đủ càng.
Mùa Hạ Hỏa khắc chẳng an,
Đông Xuân cũng lỗi khiến nàng cực thân.
Gái mà tuổi Tuất chẳng hiền,
Gặp chồng mạng nhỏ phải đành nhịn ngay.
Canh Tuất số gái chẳng yên,
Chữ Canh chữ Mậu đảo điên nhiều chồng.
Số nàng lập nghiệp phương xa,
Làm ăn có của có nhà chẳng yên.
Lỗi sanh tiền bạc khó cầm,
Khi ăn chẳng hết lúc cần chẳng ra.
Số người hậu vận lao đao,
Không bằng vận giữa như tiên giáng trần.
Phụ giải tổng quát: số gái tuổi mang chử Canh (Can) thì phần đông có nhiều chồng. Cũng như gái mà can Mậu cũng khó ở yên một chồng. Nhưng tuổi và mạng hạp cho nên cao số. Số này trung vận tốt hơn hậu vận, cô nào sanh vào mùa Thu và mùa Đông là thuận sau này sung sướng có chồng giàu sang, có địa vị kẻ hầu người hạ, ăn trên ngồi trước. Nhơn duyên thì đa đoan phải ba lần thay đổi mới nên gia đình. Số thọ đến 67 truổi phải ráng lo tích đức thì phước lại tăng.
1971,2031 Tân Hợi - cung Khôn - Âm Kim - Thoa Xuyến Kim - xương con heo, tướng tinh con cọp - khắc Đại Lâm Mộc - con nhà Bạch đế, phú quí. Xung khắc với tuổi: Ất Tỵ, Kỷ Tỵ, Ất Hợi.
Nam mạng có ông Quan Đế độ mạng.
Số này cung mạng tương sanh,
Chẳng sang cũng quý số người thuận sanh.
Mùa Thu là hạp với chàng,
Đều đặng sung sướng thanh nhàn lo chi.
Mùa Hạ bị khắc hàn vi,
Đông Xuân cũng lỗi sau này cực thân.
Số này cách trở quê hương,
Tha phương cầu thực mới nên cửa nhà.
Trung vận vất vả gian nan,
Kể từ hậu vận thạnh hưng một bề.
Tiền vận rắc rối lôi thôi,
Ngay gian cũng bị kéo lôi ngục tù.
Số may gặp được phước hồng,
Không thì cũng ở ngục tù từ lâu.
Phụ giải tổng quát: số tuổi tân hợi người gặp hoạn nạn nhiều hơn là thanh nhàn, anh em nghịch ý chẳng thuận nhưng khá là nhờ số mạng tương sanh. Tuổi có bị sa nơi giam cầm nhưng nhờ âm đức của ông cha cho nên được quý nhơn che chở được thoát. Số cực nhọc từ lúc nhỏ, xa quê lập nghiệp thì mới khá. Nên  giữ gìn đạo đức để được an hưởng thanh nhàn về sau.
Nữ mạng Tân Hợi có bà Chúa Tiên độ mạng.
Đoán xem số mạng tuổi này,
Mạng Kim thoa xuyến là vàng đeo tay.
Mùa Thu là thuận số nàng,
Đều đặng sung sướng an nhàn tấm thân.
Mùa Hạ thì bị lỗi thời,
Đông Xuân cũng cực làm giàu chẳng nên.
Anh em xung khắc chẳng gần,
Ở xa thương nhớ lại gần khắc xung.
Giận ai nói dữ nói hung,
Mà lòng chẳng hận giận ai bao giờ.
Số này là gái thật thà,
Vì trời phú tánh nên nàng dễ thương.
Số nàng cách trở nợ duyên,
Trước thì có của nhiều lần rã tan.
Trung niên vất vả gian nan,
Kể từ hậu vận an hưởng thanh nhàn.
Phụ giải tổng quát: Số gái tuổi Tân Hợi phần đông thì dù giàu sang hay nghèo hèn cũng sướng thân, ít có ai cơ cực bần hàn. Nếu sanh nhằm mùa Thu mà ban đêm thì là thuận số sau có của, hoạnh tài, có chồng giàu sang lại được cầm quyền, quán xuyến gia đình. Số và mạng tương đối tốt, cho nên cao số. Người tuổi này nết na đoan chính hiền lương. Tuy vậy lúc còn nhỏ cũng phải chịu vất vả, lập nên cơ nghiệp sớm. Tuổi từ 32 đã tụ tài.
1972,2032 Nhâm Tý - cung Chấn - Dương Mộc - Tang Đố Mộc
: Gỗ cây Dâu - xương con chuột, tướng tinh con heo - khắc Ốc Thượng Thổ - con nhà Thanh đế, Quan lộc, tân khổ. Xung khắc với  tuổi: Giáp Ngọ, Canh Ngọ, Bính Tuất, Bính Thìn.
Nam mạng có ông Tử Vi độ mạng.
Nhâm Tý số mạng như vầy,
Phong sương cũng lắm tha phương cũng nhiều.
Số này cách trở quê hương,
Đi ra xứ khác sanh phương nên nhà.
Số phải khắc khẩu mẹ cha,
Ở gần cắng đắng đi xa thì buồn.
Số này cách trở lương duyên,
Thay nhà đổi bạn truân chuyên lắm bề.
Chẳng nhờ cốt nhục họ hàng,
Tự mình lập nghiệp cửa nhà mới nên.
Tiền vận chẳng đặng thảnh thơi,
Trở về vận cuối an nhàn tấm thân.
Nhâm Tý nhờ có quới nhân,
Tu nhân tích đức phước Trời ban cho.
Phụ giải tổng quát: tuổi Nhâm Tý người có tài, học ít biết nhiều nhưng số phải phong trần nay đây mai đó sống phải xa xứ xa nhà lập nghiệp nơi xứ khác mới yên bề gia thất, tự chọn nhơn duyên thì mới hạp, cha mẹ không định đoạt số người khắc mẹ thương cha. Vợ chồng khó ở một đời, có thay đổi thì sau mới thành gia. Số người có căn tu tiền vận không khá sau từ 44 trở đi mới tụ tài.
Nữ mạng Nhâm Tý có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Nhâm Tý cung Chấn số này,
Tang đố mạng Mộc cây tầm trồng dâu.
Sanh ra lỗi số mùa Thu,
Mùa Hạ cũng chẳng có mưu chước gì.
Bởi sanh lỗi số cực thân,
 Sáng lo chạy gạo bước chân không ngừng.
Đông Xuân thì đặng thuận mùa,
Làm ăn có của chẳng thua bạn bè.
Nhưng mà duyên lỡ buổi đầu,
Nhiều chổ đi nói khẩn cầu không nghe.
Bởi số Nhâm Tý cứng đầu,
Ai mà nói khích chẳng cầu chẳng ưa.
Chịu người ngọt dịu đầu môi,
Bởi vậy phải khổ lôi thôi nhiều lần.
Nhưng người trí sáng thông minh,
Ai tính mưu kế thì nàng biết ngay.
Số cô nhờ có quới nhân,
Tu nhân tích đức Thánh Thần đỡ cho.
Phụ giải tổng quát: Tuổi Nhâm Tý, nếu cô nào sanh thuận mùa đông và xuân thì giàu sang phú quý, nhưng phải là ban ngày, còn cô nào sanh ban đêm là nghịch, lỗi số nên phải chịu nhiều gian lao khổ cực.Tuổi này phần đông cứng cỏi chẳng chịu khuất phục ai,vì vậy có cãi vả với anh chị em,cha mẹ, khắc khẩu với chồng. Ít ra cũng hai lần thay đổi tình duyên về sau mới giai lão.
1973,2033 Quý Sửu - cung Tốn - Âm Mộc - Tang Đố Mộc: Cây Dâu - xương con trâu, tướng tinh con cua biển - khắc Ốc Thượng Thổ - con nhà Thanh đế, Quan lộc, tân khổ. Xung khắc với  tuổi: Ất Mùi, Tân Mùi, Đinh Hợi, Đinh Tỵ.
 Nam mạng có ông Tử Vi độ mạng.
Số này lúc nhỏ gian nan,
Lao tâm khổ trí vui chiều buồn mai.
Thân phận phải chịu lao đao,
Tình duyên trể nãi bằng không đổi dời.
Số người thân tự lập thân,
Tha phương cầu thực gia môn an hòa.
Họ hàng như thể người xa,
Cũng như giá lạnh đêm đông điêu tàn.
Lúc nhỏ chẳng đặng an thân,
Hậu vận phú lúc an môn gia hòa.
Mùa Xuân mới đặng thảnh thơi,
Thanh nhàn sung sướng đố ai sánh bằng.
Phụ giải tổng quát: Tuổi quý Sửu này cung Tốn mạng Mộc cho nên sanh vào mùa thu phải chịu vất vả linh đinh, vận mạng có đổi dời dù rằng có ăn nhưng phải lo hoài. Chỉ thuận ai sanh vào mùa đông thì về sau phú túc. Sanh ban ngày là thuận, ban đêm là nghịch số. Số bôn ba mà cũng chẳng thành. Bà con cốt nhục chẳng ai giúp đỡ, chỉ một mình "thân tự lập thân" ở phương xa. Trở về hậu vận sẽ được yên ổn, gia môn mới an hoà. Tình duyên có trắc trở nhưng số đông con.
Nữ mạng Quý Sửu có bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng.
Quý Sửu số cô như là,
Tang đó mạng Mộc cuộc đời ít lo.
Mùa Thu sanh lỗi khó khăn,
Cuộc đời gian khổ phải lo tháng ngày.
Mùa Xuân sẽ mới vui tươi,
Thanh nhàn sung sướng cuộc đời lên hương.
Số cô thuở nhỏ gian nan,
Tưởng đâu đã chết ngày nay đâu còn.
Nhưng mà nhờ đức ông cha,
Ngày nay an hưởng cuộc đời ấm no.
Số này tự lập một mình,
Tha phương cầu thực gia môn an hòa.
Họ hàng thân thích chẳng trông,
Cũng như giá lạnh đêm đông điêu tàn.
Lúc nhỏ chẳng đặng an nhàn,
Trở về hậu vận gia đình vui tươi.
Phụ giải tổng quát: Số này phần đông giàu hay nghèo cũng ít khi lo lắng trừ khi cô nào sanh nhằm ban đêm thì không tốt mà thôi. Tánh người lòng dạ ngay thẳng, ít chịu nịnh bợ kẻ có thế lực, chịu đựng mọi nỗi khó khăn, thân tự lập thân. Số có quới nhân giúp đỡ dù gặp tai nạn rồi cũng nhờ ơn trên che chở cũng được thoát nạn. Số người có căn tu nên làm việc nghĩa sống lâu.
Tương sinh : Thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ.
Tương khắc : Thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắc thổ.
Tỷ hòa : âm thổ + dương thổ ; âm thủy + dương thủy...
Tương tranh : dương thổ + dương thổ ; âm kim + âm kim...
Mạng Kim: hợp màu trắng, màu vàng; Màu sắc tương sinh: Thổ sinh Kim: hợp màu nâu
Mạng Thủy: hợp màu đen, xanh da trời; Kim sinh Thủy: hợp màu trắng, xanh nước biển đậm, vàng
Mạng Mộc: hợp màu xanh lá cây; Thủy sinh Mộc: hợp màu đen, xanh da trời
Mạng Hỏa: hợp màu tím, hồng, đỏ; Mộc sinh Hỏa: hợp màu xanh lá cây
Mạng Thổ: hợp màu nâu; Hỏa sinh Thổ: hợp đỏ, tím, hồng.

Âm Sinh - Khắc
Dương Sinh - Khắc
Ngũ Hành Sinh - Khắc
Đôi khi gặp Tương Sinh không hẳn là tốt, gặp Tương Khắc chưa hẳn là xấu:
thí dụ: Người tuổi Mậu Dần, ngũ hành thuộc Thổ, thì
- hành Kim được lợi: Vượng do Thổ Sinh Kim.
- Thổ với Thổ: lưỡng thổ thành sơn, Thổ được bồi đắp thêm thành núi.
- Hỏa sinh Thổ: Hỏa đốt Mộc nên cả hai Hỏa và Mộc đều bị tổn hại để Thổ được sinh, tức Thổ được sinh nhập.
- Thổ khắc Thủy: Thổ bị hao tổn, còn Mộc được hóa sinh, nên Thổ bị khắc nhập.
Qua thí dụ trên, sự tương sinh hay tương khắc chỉ có một chiều: Thổ sinh được Kim chứ Kim không sinh được Thổ; Thổ khắc Thủy chứ Thủy không khắc Thổ ...
- Lấy một ví dụ: tại sao cho là Thiên Thượng Hỏa khắc Thiên Hà Thủy? Là bởi vì trước tiên là Hỏa khắc Thủy, nước có thể dập tắt đám cháy, lửa hay nắng gắt có thể làm cạn khô nước. Cả 2 đều là Thiên tức trên trời, thiên thượng hỏa nghĩa đơn giản là nắng, thiên hà thủy nghĩa đơn giản là mưa. Có nắng thì không có mưa và ngược lại, khắc nhau là như vậy.
- Hành được sinh (sinh nhập) có lợi: Kim được Thổ sinh thì Kim được lợi, còn Thổ thì hao tổn (sinh xuất).
- Hành bị khắc (khắc nhập) thất lợi, còn hành khắc cũng hao tổn, như Thổ là hành khắc (khắc xuất), còn Thủy là hành bị khắc (khắc nhập).
Theo lý thuyết, được sinh nhập, khắc xuất là tốt. Còn bị sinh xuất, khắc nhập là xấu. Nhưng còn tính chất hóa hợp xung của Thiên Can, Địa Chi nên không vì những điều trên mà phải lo lắng.
Tương sinh có nghĩa là nuôi dưỡng, thúc đẩy, trợ giúp; còn tương khắc có nghĩa ràng buộc, khắc chế. Nhưng xét theo Vượng Tướng Hưu Tù Tử sẽ có ứng dụng khác nhau:
Gặp Tương Sinh chưa hẳn là tốt:
- Kim dựa vào Thổ sinh (Thổ sinh Kim), nhưng Thổ vượng thì Kim bị vùi lấp, mất tích.
- Thổ dựa vào Hỏa để sinh (Hỏa sinh Thổ), nhưng Hỏa vượng thì Thổ trở thành khoáng sản than đá, Kim loại.
- Hỏa dựa vào Mộc sinh (Mộc sinh Hỏa), nhưng Mộc vượng thì Hỏa đang thuộc hưu, tù, tử, không thể bốc lên đốt cháy được cây to.
- Mộc dựa vào Thủy để sinh (Thủy sinh Mộc), nhưng Thủy vượng thì Mộc trốc gốc, trôi giạt.
- Thủy dựa vào Kim sinh (Kim sinh Thủy), nhưng Kim vượng thì Thủy đục nước, có nhiều tạp chất đầy nguy hại.
Gặp Tương Khắc chưa phải là hung:
- Kim khắc Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim phải mẻ.
- Mộc khắc Thổ, nhưng Thổ khô thì Mộc chết.
- Thổ khắc Thủy nhưng Thủy dây cao thì Thổ bị trôi, bị sụp lở.
- Thủy khắc Hỏa nhưng Hỏa vượng thì Thủy khô cạn.
- Hỏa khắc Kim, nhưng Kim nhiều thì Hỏa phải tắt.
Vì vậy hành nào là Vượng, Tướng, dù bị khắc nhập hay sinh xuất đều vượt qua, còn những hành được sinh nhập hay khắc xuất đang ở thế Hưu, Tù, Tử, chuyển hung ra cát, chuyển cát thành hung.
Chúng ta thấy sự sinh khắc của ngũ hành đều có những yếu tố xác định, như Mộc là cây cối tăng trưởng được là nhờ có Thủy, nhưng cây không sống được ở sông mà phải sống trên đất, như vậy phải có Thổ. Khi Mộc vượng thì Thủy lẫn Thổ đều gặp hao tổn. Trong ngũ hành đều có sự tương trợ hay khống chế nhau, như Thổ bị khắc với Mộc cần có Kim khống chế lại Mộc, v.v.
Trong hôn định chẳng hạn, lỡ gạo đã thành cơm, Mộc lấy Thổ, để khắc chế hai mệnh Mộc và Thổ, cần sinh đứa con tuổi Kim, gia đình tức khắc hòa thuận, hạnh phúc.

Ấu - Tráng - Lão của Ngũ Hành
Ngoài yếu tố Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tử nên tính thêm độ số Ngũ Hành Ấu Tráng Lão. Ấu như mới sinh chưa phát huy được tính chất cát hung cao như Tráng là đã trưởng thành, hay Lão không còn sức công phá như thời thanh niên trai tráng. Trong chu kỳ Lục Thập Hoa Giáp với 60 tên gọi, cứ hai cặp Can Chi có chung một tên Ngũ Hành Nạp Âm và mỗi hành gồm có 6 tên gọi khác nhau để đánh giấu giai đoạn Ấu, Tráng, Lão nói trên.
Như hành Thổ có "Lục Thổ" có thứ tự:
1. Lộ Bàng Thổ
2. Thành Đầu Thổ
3. Ốc Thượng Thổ
4. Bích Thượng Thổ
5. Đại Trạch Thổ
6. Sa Trung Thổ
Hành nào là Ấu, Tráng, Lão của vòng Trường sinh thuộc giai đoạn nào?
- Nếu Ngũ hành đi từ Ấu rồi trở về Ấu theo chu kỳ 60 năm, lúc về già sẽ hồi xuân, mang tính trẻ trung vô tư như thời niên thiếu (Ấu), nếu mệnh hợp có tài lộc, hưởng được thú an nhàn, còn mệnh khắc phải chịu gian nan, sống trong tuổi già phải nhờ con cháu nuôi dưỡng như mới sinh ra đời.
- Nếu Ngũ hành đi từ Tráng, Lão, Ấu sang Tráng, nếu bị khắc sẽ có tiền cát hậu hung; nếu đi từ Lão, Ấu, Tráng rồi về Lão, dù mệnh khắc cũng đều có hậu vận tốt đẹp.

- Thổ sinh Kim thì Thổ hao, kim lợi, nhưng hành Thổ nào cho hành Kim lợi? Xét qua bảng Lục Thổ, chỉ có hai loại Thổ có thể cho Kim lợi, là Sa Trung Thổ, Đại Trạch Thổ hoặc tối thiểu là Lộ Bàng Thổ, là những hành Thổ có thể tạo ra kim loại, tức Kim được sinh nhập.
- Còn Kim sinh Thủy, Kim hao Thủy lợi là sinh xuất xấu. Nhưng xấu hay tốt với hành Thủy nào? Khi xét bảng Lục Thủy, chỉ có Đại Khê Thủy, Đại Hải Thủy mới làm cho hành Kim gặp hao tổn, còn Giang Hà Thủy, Tuyền Trung Thủy và Trường Lưu Thủy, hành Kim ít bị hao tổn, nếu gặp Thiên Hà Thủy lại không tương sinh hay tương khắc với Kim.
Khi tương khắc cũng tính theo biện pháp trên, đồng thời hành bị khắc (là hành đứng sau) đang trong giai đoạn Ấu, Tráng hay Lão và độ số ở vòng Trường sinh như thế nào, để tính cát hung cho thích hợp.
Lưỡng mộc thành lâm (tương sinh) nghĩa là mộc với mộc thành rừng (tốt). Lưỡng mộc mộc chiết (tương khắc: gảy mất một).
Lưỡng kim thành khí (ts: vật dụng kim khí). Lưỡng kim kim khuyết (tk: bể mất một): hai kim loại hợp lại sẽ quá cứng, có thể làm tổn thương nhau (tương đối xấu).
Lưỡng hỏa thành viên (ts: hợp thành sức nóng). Lưỡng hỏa, hỏa diệt (tk: lửa tắt): lửa quá mãnh liệt, có thể hủy diệt nhau (xấu).
Lưỡng thổ thành sơn (ts: tốt). Bích Thượng Thổ và Đại Trạch Thổ gặp nhau thì tốt.
Lưỡng thổ tương khắc: Thổ liệt, nhảo nát không dùng được.
Lưỡng thủy thành xuyên (hợp thành sông), đại hà. Lưỡng thủy, thủy kiệt (khô cạn hết): sông lớn, tràn ngập, không còn lối đi (xấu).

Hành Kim muốn lưỡng Kim thành khí, thì khi mệnh thuộc Hải Trung Kim, Sa Trung Kim hoặc Bạch Lạp Kim, tức kim loại chưa tinh chế, nhờ Hỏa mới thành khí nhưng phải là Lư Trung Hỏa hay Phúc Đăng Hỏa mới thích hợp. Những Hỏa khắc kỵ với Kim: Thoa Xuyến Kim, Kiếm Phong Kim, Kim Bạch Kim mà gặp Thiên Thượng Hỏa, Tích Lịch Hỏa sẽ trở thành Kim khuyết, ví như kim loại gặp lửa bị nóng chảy hay sức mẻ.
Có sách lại ghi rằng: Bạch Lạp Kim, Kim Bạch Kim đều kỵ Hỏa, còn Hải Trung Kim và Sa Trung Kim thì Hỏa khó khắc, duy chỉ sợ có Tích Lịch Hỏa. Riêng Kiếm Phong Kim và Thoa Xuyến Kim thì phải nhờ Hỏa tôi luyện mới nên vật có ích.
Sa Trung Kim và Kiếm Phong Kim thì khắc hành Mộc và không sợ Hỏa khắc, trái lại phải nhờ Hỏa mới trở thành khí cụ hữu ích, nhưng nếu rơi vào Can - Chi Thiên khắc, Địa xung thì lại xấu, thí dụ: Nhâm Thân, Quý Dậu là Kiếm Phong Kim gặp Bính Dần, Đinh Mẹo là Lư Trung Hỏa thì Hỏa khắc Kim, Nhâm, Quý hành Thủy khắc Bính, Đinh hành Hỏa tức Thiên khắc. Thân và Dần, Dậu và Mẹo thì xung nhau tức Địa xung. Thiên khắc, Địa xung nên rất xấu.

Hành Mộc muốn lưỡng Mộc thành lâm tức phải có nhiều cây chụm lại mới thành rừng, những cây như Tùng Bách Mộc, Dương Liễu Mộc, Bình Địa Mộc, nhưng phải nhờ Đại Trạch Thổ, Sa Trung Thổ hay Lộ Bàng Thổ thuộc những vùng đất lớn thì Tùng Bách và Dương Liễu Mộc không khắc Thổ, trái lại phải nhờ Thổ. Còn Đại Lâm Mộc khắc với ba hành thổ trên (khắc xuất) nhưng gặp Kim sẽ thành Mộc chiết (khắc nhập). Tất cả các loại Mộc đều sợ Kim khắc. Sa Trung Kim và Kiếm Phong Kim thì khắc mạnh hành Mộc, trừ có Bình Địa Mộc không sợ Kim khắc, nếu không có Kim thì lại khó cầu công danh, phú quí.
Có sách lại ghi rằng: Tùng Bách Mộc, Dương Liễu Mộc, Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc đều kỵ Kim, nhứt là Kiếm Phong Kim, chỉ có Bình Địa Mộc và Đại Lâm Mộc là không sợ Kim vì phải nhờ kim đao mới được thành gia dụng.

Hành Thủy, lưỡng Thủy thành giang phải là Tuyền Trung Thủy hợp với Đại Khê Thủy hay Giang Hải Thủy mới thành sông lớn, biển lớn, Thiên Hà Thủy (mưa) hợp với Đại Hải Thủy thì tốt. Những hành thủy này tạo thành sông bằng chính bản thân không nhờ Kim, Mộc. Thổ chỉ khắc Thủy, làm Thủy kiệt với các hành như Tuyền Trung Thủy, Đại Khê Thủy, Trường Lưu Thủy. Đất bồi làm mất dòng chảy của nước, nhưng không thể ngự được với Giang Hà Thủy, Đại Hải Thủy hay Thiên Hà Thủy.

Hành Hỏa, lưỡng Hỏa thành viên Lư Trung Hỏa hợp Phúc Đăng Hỏa hay Sơn Đầu Hỏa với Sơn Hạ Hỏa, hoặc Tích Lịch Hỏa với Thiên Thượng Hỏa. Về 4 mệnh Hỏa đầu cần có thêm Mộc để đạt được lửa to cháy lớn. Còn hai Hỏa từ trên trời thì không cần đến Mộc vẫn tạo được lưỡng Hỏa thành viên. Hỏa diệt khi Lư Trung, Phúc Đăng, Sơn Đầu, Sơn Hạ Hỏa gặp nước là khắc nhập. Riêng Tích Lịch Hỏa, Thiên Thượng Hỏa chỉ khắc Thiên Hà Thủy mà thôi.

Hành Thổ, lưỡng Thổ thành sơn chỉ có Lộ Bàng Thổ, Sa Trung Thổ hay Đại Trạch Thổ hợp nhau không cần sự tiếp tay của những hành khác. 3 mệnh Thổ còn lại không thể thành núi vì Thổ này rời rạc nhỏ bé, muốn thành núi phải nhờ Hỏa tiếp tay diệt Mộc, tức lửa đốt cây thành đất. 3 mệnh Lộ Bàng, Sa Trung, Đại Trạch Thổ nếu có Hỏa sẽ thêm tốt, công danh sự nghiệp sẽ phất càng cao thêm. Tính đến Thổ liệt, cả 6 loại Thổ đều kỵ Mộc, tức khắc nhập (Mộc khắc Thổ), cây có thể mọc khắp nơi trên mọi loại đất.
Có sách lại ghi: chỉ trừ Lộ Bàng Thổ, Đại Dịch Thổ và Sa Trung Thổ không sợ bị Mộc khắc, nếu có Mộc thì càng tốt, cuộc sống cao sang, thi đậu dễ dàng. Các thứ Thổ còn lại thì sợ Mộc khắc.
Ngoài Mộc, nhiều mệnh Thổ còn đại kỵ khi gặp các hành Thủy sau (dù khắc xuất nhưng từ thứ hung sang đại hung):
- Lộ Bàng Thổ và Đại Trạch Thổ gặp Giang Hà Thủy và Trường Lưu Thủy sẽ làm đất lỡ lún.
- Sa Trung Thổ gặp Đại Khê Thủy hay Tuyền Trung Thủy là đất sói mòn.
- Thành Đầu Thổ, Bích Thượng Thổ, Ốc Thượng Thổ rất sợ Thiên Hà Thủy, làm cho đất nhão nhoẹt đến hủy diệt.
Cô Bần : Cô đơn + Bần hàn. Nghèo lại cô độc lẻ loi một mình.
Phú Quí 富貴: Giàu có + Sang trọng.
Tân có nghĩa là vạn vật đang ở vào lúc thịnh thì bị khắc chế. Tân còn có nghĩa là đau đớn, tân khổ là cay đắng, tân toan là cay chua. Tân khổ 辛苦 tân toan 辛酸 chỉ những nỗi khó khăn và những gian nan vất vả trong cuộc sống.
Yểu Chiết : chết sớm + gãy đổ. Không thọ
Chiết : bẻ gãy
Chiết đoạn 折斷 : chặt gãy
Tang : cây dâu
Giáp có nghĩa là nứt ra, ý nói mọi vật xuyên ra làm nứt vỏ, ví như hột giống gieo xuống đất, mầm xuyên vỏ mà ngoi lên.
Ất vạn vật mới sinh, tình trạng còn cong queo, chưa duỗi thẳng ra được.
Bính rực rỡ, mọi người đều thấy, ý nói muôn vật đã xuất đầu lộ diện.
Đinh trạng thái chắc và cứng.
Mậu nghĩa là tươi tốt, vạn vật ở vào thời điểm phát triển xanh tươi.
Kỷ là ghi chép, ý nói vạn vật có đầy đủ hình thể đáng ghi chép.
Canh có ý nghĩa là kiên cường, vạn vật qua giai đoạn phát triển, đang thu góp vào phía trong như hoa nở rồi kết quả, hoa hướng ra ngoài còn quả hướng vào trong.
Tân có nghĩa là vạn vật đang ở vào lúc thịnh thì bị khắc chế.
Nhâm thời kỳ hai khí âm dương giao hợp.
Quý là thời kỳ của mùa đông, thổ khí ở trạng thái bình hòa, muôn loài có thể trữ lượng được, chữ Quý là đo lường.
Bạch Lộ là một trong 24 khí tiết trong lịch của Tàu. Tùy theo năm, ngày Bạch lộ rơi vào ngày 7 hay 8 tháng 9 dương lịch. Tiết khí đứng ngay trước Bạch lộ là Xử nữ và khí tiết tiếp theo sau là Thu phân.
 
☯ Cung Phi - Bảng Cung Phi Bát Trạch và Cung Phi Bát Tự - Công Thức Tính ☯
Lưỡng Kim - Lưỡng Thổ - Lưỡng Mộc - Lưỡng Hỏa - Lưỡng Thủy

4 comments:

  1. Cảm ơn tác giả rất nhiều.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Không có chi. Cảm ơn bạn ghé thăm.

      Delete
    2. Xin hỏi tác giả, tại sao tính ra được gái Tân mùi (1991) là cung Khảm, trong khi trong bảng Cung phi bát trạch thì lại quy định là cung Càn

      Delete
    3. Cung Khảm của cô là Cung chính hay còn gọi là cung Sinh hay cung Sinh Mệnh.

      Ngoài ra còn có cung phụ, gọi là cung Phi Mệnh, cung Phi Mệnh chia ra Cung phi bát trạch và cung phi bát tự của nữ thì phi bát trạch và bát tự giống nhau, nữ Tân Mùi Phi mệnh cùng là Càn.

      Ở đây tôi có giải thích...
      http://kimlong9999.blogspot.co.uk/2009/01/phong-thy-chn-t-ct-nh-st.html

      Delete

*********************************************************
Cảm ơn bạn đã ghé kimlong9999.blogspot.com
Bạn có yêu cầu hay ý kiến gì không?
Bạn vui lòng để lại đôi lời nhận xét để trang
ngày càng hoàn chỉnh hơn.

NHẬN XÉT SẼ CHƯA ĐƯỢC ĐĂNG NGAY !

Nếu không thích hiển thị TÊN
thì hảy chọn hồ sơ Anonymous "Ẩn danh"
rồi nhấn "Đăng nhận xét".
Nhấn thêm lần nửa nếu có thông tin báo lỗi.
KimLong9999 chúc bạn một ngày thật đẹp và vui vẻ.
*********************************************************
Thank you for your visit and welcome to our blog!
Take a moment and look around.
Let us know what you think about this blog by leaving a comment.
YOUR COMMENT NEEDS TO BE APPROVED
BEFORE IT WILL APPEAR.
THANKS EVERYONE FOR PATIENTS.
Have a nice day.
* KimLong9999 *
*********************************************************
Vielen Dank für den Besuch!
Sie können Ihre Kommentare und Anregungen hier hinterlassen.
DIE KOMMENTARE WERDEN MODERIERT
und WERDEN NICHT SOFORT ANGEZEIGT.
Bitte haben Sie etwas Geduld!
Einen schönen Tag noch...
* Bạch Kim *
*********************************************************
Merci pour votre visite!
Vous pouvez laisser vos commentaires et suggestions ici.
LES COMMENTAIRE DOIT ÊTRE APPROUVÉ AVANT D'ÊTRE AFFICHÉ.
Je vous remercie beaucoup pour votre patience!
Bonne journée.
* KimLong9999 *
*********************************************************

Kim Bạch Kim 鉑 Thơ Đường Luật Chuyện ngắn sáng tác Chuyện vui Đố vui Phong Thủy Tin Tức

Danh Mục kimlong9999.blogspot.com

Lunar Calendar Lịch ngày Ta Phong Thủy 3 Toa Thuốc, Rượu Bổ Dương: Thốc Kê Hoàn, Thần Tiên Tửu, Thung dung Xà Sàng Tửu Trúng Số Độc Đắc Khui Luôn Jackpot Lời Than Theo Gió Nấu Ăn Kiều đoạn cuối Đố vui Video Hài Architecture Tình Sử Huyền Trân Chế Mân Tên Giang Hồ Tóm Tắt Nội Dung Một Số Phim Hay herald sun news Phim List Nhạc Việt newsweek Vị Trí Mụt Ruồi và Tướng Số Thơ Sưu Tầm Truyện Kiều đoạn đầu abc news daily mail news Tin Tức - Kiến Thức Đàn Ông Thua Chó Chuyện Vui Máy Mắt Đoán Điềm Chuyện Ngắn Kim Bạch Kim Đoạn Trường Tương Tư Anh Hùng Việt English Số Đề Korea Music Nguyễn An Kiến Trúc Sư Tài Ba Xây Tử Cấm Thành Trung Quốc Đọc và Suy Ngẫm cnn news Đồng tình luyến ái của các Hoàng đế trong lịch sử tàu Trăng thề vườn Thúy ** Phận Kiều ♥ Đường Luật Kim Bạch Kim ♥ Chung Một Mái Nhà Đoán Số Mệnh Pha Lê & Thủy Tinh Tiếng Việt Nam Bắc Con Gái Ba Miền Bắc Trung Nam Truyền Thuyết Quỳnh Hương Phụ Nữ Việt Nam Đáng Được Khâm Phục Những Món Ăn Kinh Khủng Nhứt Thế Giới Ý Nghĩa của Kim Bạch Kim - khác biệt giữa Vàng - Vàng Trắng - Bạch Kim Quang Trung Nguyễn Huệ Đại Phá Quân Thanh Cúm Heo Thuốc Ngừa và Thuốc Trị Vi Khuẩn H1N1 Tri Kỷ Chơi Cờ Uống Rượu Ý Nghĩa của Biểu tượng chính thức trang http://kimlong9999..blogspot.com Nguyệt Đùa Bạn Heo Vài Món Ăn Đặc Biệt Miền Nam - Trung - Bắc Việt Nam 21.12.2012 Ngày Tận Thế? Kim Cương & Hột Xoàn

Popular Posts

this is a Non-Profit non-commercial website Trang không vụ lợi không buôn bán Không Quảng Cáo