Showing posts with label Tin Tức - Kiến Thức - Hobbies. Show all posts
Showing posts with label Tin Tức - Kiến Thức - Hobbies. Show all posts

Friday, October 13, 2017

Những Khám Phá của Y học và Phát Minh làm Thay Đổi Thế Giới

 1.
Edward Jenner 1749 - 1823 sanh, làm việc và mất tại Berkeley vùng nông thôn miền Tây nam của Anh, thọ 73 tuổi. Bác sĩ Jenner là người đầu tiên tìm ra vaccine năm 1796 và vaccine đó ngừa được bịnh đậu mùa.
Vaccine được điều chế từ đậu mùa vô hại của bò, nhưng nó đem lại cho người sự miễn nhiễm của bịnh đậu mùa do siêu vi khuẩn Variola gây ra.
Jenner được coi là cha đẻ của miễn dịch học. Khám phá của ông được cho là đã cứu được nhiều sinh mạng hơn bất kỳ ai khác. Hiện thời, bịnh đậu mùa coi như đã bị diệt tận.
Năm 2002, tên của ông được đặt vào danh sách 100 người Anh vĩ đại nhứt do đài BBC tổ chức và do dân chúng bình chọn.
*vaccine từ chử La-tinh vaccinus dịch nghĩa "có nguồn gốc từ bò".
Ngày nay có ít nhứt 24 loại chủng ngừa quan trọng để bảo vệ con người như đậu mùa, phong đòn gánh, bại liệt trẻ em poliomyelitis, quai bị, sởi, cúm influenza, ho gà pertussis, viêm màn não enzephalitis, viêm phổi pneumokokken, cúm dạ dày do rotavirus gây ra, bịnh chó dại, dịch hạch, bạch hầu, hepatitis A/B, ung thư cổ tử cung, meningokokken A,C, sốt rét.
2.
Sir James Young Simpson, sanh 1811- mất 1870, thọ 58 tuổi. Bác sĩ sản khoa, người Scotland miền Bắc của vương quốc Anh. Ông là nhân vật quan trọng trong lịch sử y học, đã khám phá ra tính chất gây mê của Chloroform.
Bắt đầu năm 1847 Chloroform được sử dụng để gây mê, làm giảm đau cho phụ nữ khi sanh và trong những cuộc giải phẩu.
 3.
Vị cứu tinh của những bà mẹ, Ignác Philipp Semmelweis sanh 1818 tại Hungary - mất 1865 tại Áo, thọ 47 tuổi. Ông là bác sĩ giải phẩu và bác sĩ sản khoa, người khám phá ra mối quan hệ giữa việc sử dụng chất khử trùng và sự cải thiện tỷ lệ sống sót của phụ nữ khi sanh cũng như khử trùng đồ mổ và chổ mổ thì tỷ lệ bịnh nhân bị nhiễm trùng sẽ xuống thấp.
Trong suốt cuộc đời, những phát hiện của ông không được đồng nghiệp công nhận, cho đó là "giả thuyết nghịch lý, điên rồ", họ cho rằng vệ sinh khi sanh và khử trùng đồ mổ là chuyện làm phí thời gian. Nhiễm độc là do khí độc, không khí mang vi trùng tới.
Tháng 7 năm 1865, ông bị ba bác sĩ đồng nghiệp không có sự chẩn đoán bịnh lý nào, cùng ký giấy chuyển bắt buộc ông phải lưu trú tại nhà thương điên ở Doebling gần Vienna. Một số nguồn tin cho rằng, ông đã bị như vậy là vì âm mưu của đồng nghiệp hại bởi vì ông đã nhiều lần cố gắng thuyết phục họ về sự đúng đắn của những phát hiện của ông bằng văn bản, nhưng ông luôn bị họ từ chối, họ làm theo phương pháp cũ (không sát trùng). Ông định sẽ viết thư ngỏ công khai để tố cáo quan chức cao cấp trong ngành y khoa, sản khoa không áp dụng kiến thức về vệ sinh. Hai tuần sau khi nhập viện, ông mất ở bịnh viện tâm thần mà nguyên nhân không giải thích được.
Năm 1963 người ta cho quật mộ để khám nguyên nhân, nhưng sau đó kết quả tường trình vẫn là những điều mâu thuẫn, không có kết quả chính xác. Người ta nghi ngờ, ở bịnh viện tâm thần ông đã bị bác sĩ điều trị một cách tùy tiện, sau đó họ giết người để bịt đầu mối.
Semmelweis để lại một quyển sách duy nhứt, xuất bản vào năm 1861 "Nguyên nhân, khái niệm và cách phòng ngừa bịnh sốt hậu sản".
Nhưng khám phá của Semmelweis đã được vài bác sĩ thời đó ứng dụng, như Nam tước Joseph Lister (1827-1912) bác sĩ giải phẩu người Anh. Ông đã sử dụng Phenol để khử trùng vật dụng mổ.
* Phenol do nhà Hoá học Friedlieb Ferdinand Runge sanh tại Hamburg miền bắc Đức(1795-1867) khám phá ra vào năm 1834.
Trong những đất nước mà tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ, người ta có thuật ngữ đặt theo tên của bác sĩ người Hungary: "Semmelweis-reflex". Thuật ngữ mô tả "sự từ chối ngay lập tức về một thông tin hoặc khám phá trong khoa học mà không cần suy nghỉ hoặc xem xét sự kiện". Trong nhiều trường hợp, những khám phá về khoa học sẽ dẫn đến sự trừng phạt chứ không có một sự công nhận thích đáng cho người khám phá ra nó.
4.
Alfred Bernhard Nobel sanh 1833 tại Stockholm Thụy điển - mất 1896 tại Ý vì bịnh đau tim, thọ 63 tuổi. Ông là nhà hóa học, kỹ sư, nhà phát minh, nhà kinh doanh và nhà từ thiện, là người phát minh ra chất nổ (hổn hợp của nitroglycerin, đất sét).
Một nguyên tố hoá học phóng xạ sản xuất nhân tạo mà nhiều người và nhiều nhóm người từ nhiều nước tranh dành cho là họ đã tìm ra đầu tiên. Năm 1994 nguyên tố được hiệp hội "liên minh quốc tế về hóa học nguyên chất và ứng dụng" cuối cùng quyết định cho mang tên của ông 102-No-Nobelium.
Vì không có con, nên ông để lại di chúc rằng 94% tài sản (6% còn lại tiếp tục đầu tư) lúc đó là 3,85 triệu US$ bao gồm 355 bằng sáng chế, tất cả 90 hãng xưởng, nhà máy, phòng thí nghiệm trên 20 Quốc gia và gia tài của ông sẽ cho vào quỹ, tiền lời của quỹ đó hàng năm đem chia đều nhau trao cho những người có những phát minh mới mẽ làm đều tốt nhứt cho nhân loại về nghành Vật lý, Hoá học, Sinh lý học/Y khoa, Văn học, bảo vệ Hoà bình. Năm 1901 giải Nobel được bắt đầu trao và từ năm 1969 có thêm giải Nobel về Kinh tế học do Ngân hàng quốc gia Thụy điển tặng, trị giá giống như tiền trao của giải chính thức.
Giải thưởng Nobel (trừ giải Nobel Hoà bình) đuợc phát vào ngày giổ của ông là ngày 10 tháng 12 hàng năm tại thủ đô và do vua của Thụy điển trao.
5.
Maria Salomea Sklodowska lấy chồng là Pierre Curie, sau đó đổi tên thành Marie Curie, sanh tại Ba-lan 1867 - mất 1934, thọ 66 tuổi. Nơi bà sanh ra và lớn lên lúc bấy giờ không cho phụ nữ học đại học, nên năm 1891 bà sang thủ đô Pháp nhập học trường đại học nổi tiếng Sorbonne và ra trường với bằng cấp vật lý và toán.
Bà là nhà vật lý học, toán học, hóa học tìm ra nguyên tố, chất phóng xạ có số nguyên tử 84-Po-Polonium và 88-Ra-Radium (trên bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học). Lượng bức xạ của chất này sử dụng để chụp x-quang.
Marie Curie là người phụ nữ đầu tiên đoạt giải Nobel và là người phụ nữ duy nhứt đoạt Nobel cho hai lãnh vực, năm 1903 về Vật lý và 1911 giải Nobel về Hóa học.
Cho đến nay, chỉ có 2 người đoạt hai lần giải Nobel, người thứ 2 là ông Linus Carl Pauling người Mỹ 1954 Nobel Hóa học và 1963 Nobel Hoà bình.
6.
Karl Landsteiner sinh ngày 14 tháng 6 năm 1868 tại Vienna Áo, vào quốc tịch Mỹ năm 1929. Mất ngày 26 tháng 6 năm 1943 vì đau tim trong lúc làm việc tại phòng thí nghiêm "Rockefeller-Institut" tại New York city (thủ đô của tiểu bang N.Y.) thọ 75 tuổi. Ông là một nhà nghiên cứu bịnh học và nhà huyết thanh học, người đã phát hiện ra hệ thống AB0 của các nhóm máu vào năm 1900. Ông đoạt giải Nobel về Y học năm 1930.
Landsteiner phát hiện ra, nếu hoà hợp máu của hai người lại với nhau thì hỗn hợp máu có phản ứng khác nhau, đôi khi chúng đóng cục, đôi khi hỗn hợp của hai người khác lại không. 
Trong quá trình nghiên cứu tiếp theo đó với các dụng cụ tân tiến như kính hiển vi cải tiến, ông cho ra lý thuyết là có nhiều loại máu khác nhau, ông gọi đó là "nhóm máu" và chú thích trên bài tường trình trên bản báo cáo ở hiệp hội bác sĩ Áo năm 1901 giả định rằng có ba nhóm máu tất cả A,B, C (C sau đó đựợc đổi thành 0).
Quan sát của Landsteiner rất đơn giản, hoà hợp máu của những người có cùng nhóm máu thì hồng cầu trong hổn hợp vẫn còn nguyên vẹn. Nếu máu của những người thuộc nhóm máu khác nhau được trộn lẵn, thì hồng cầu sẽ bị phá hủy. Tức là kháng thể sẽ giết chết bất kỳ thứ gì không tương ứng với cấu trúc hồng cầu của chính chúng và các kháng thể của một nhóm máu tuân thủ các kháng nguyên của nhóm máu khác cho ra kết quả là máu sẽ đóng cục.
Ngày "hiến máu thế giới" được tổ chức vào ngày sinh nhựt của ông bắt đầu từ năm 2004.
Năm 1910, hai đồng nghiệp của Landsteiner là Alfred von Decastello-Rechtwehr và Adriano Sturli đã phát hiện ra nhóm máu AB. Người có nhóm máu AB (người nhận phổ quát) chấp nhận hồng cầu của tất cả các nhóm máu khác. Nhóm máu 0 (tài trợ phổ quát) có thể cho tất cả người có các nhóm máu khác.
7.
Kazimierz Zeglen, sanh 1869 tại Ba-lan - mất 1910 là kỹ sư di cư sang Mỹ năm 1890. Ông là người đầu tiên phát minh áo gi-lê chống đạn. Năm 1893 sau cuộc ám sát Sir Carter Henry Harrision, nhà chính trị gia Mỹ đảng Dân chủ, là thị trưởng thành phố Chicago, Bang Illinois, Zeglen bắt đầu sản xuất "áo giáp chống đạn".
Hiện tại, với kỷ thuật và vật chất hiện đại, áo giáp đã không ngừng phát triển để bảo vệ cảnh sát, cảnh sát liên bang và binh sĩ có nhiệm vụ nguy hiểm.
Năm 1970, Richard Davis thành lập "công ty sản xuất áo giáp chống đạn" có tên là "Cơ hội thứ hai".
8.
Stephanie Louise Kwolek (31.03.1923 - 18.06.2014) nữ hoá học gia người Mỹ gốc Ba-lan.
Năm 1946, sau khi ra trường đại học nghành Hóa bà muốn tiếp tục học nghành Y để đạt giấc mơ từ nhỏ là sẽ trở thành bác sĩ để giúp con người. Nhưng vì thiếu tiền đóng học phí bà phải nhận việc tại công ty sản xuất các vật liệu có liên quan đến hóa học DuPont, họ cần tìm một loại sợi tổng hợp để cải thiện lốp bánh xe hơi.
Năm 1964 bà tìm ra chất lỏng pha lê có thể dệt thành sợi tổng hợp và đặt tên Kevlar. Kevlar cứng hơn thép gấp 5 lần nhưng lại nhẹ hơn thép rất nhiều.
Hiện nay có hơn 200 vật dụng làm từ Kevlar như xe chạy trên hành tinh, phi thuyền không gian, dù để nhảy từ phi cơ, vật liệu cất nhà, thành phần của máy bay, dây thắng xe hơi và nổi danh nhứt là áo chống đạn, áo này có tính chất khó cháy và có thể đở đạn thành công với khoảng cách gần 3 mét.. Hiện tại áo giáp này được sử dụng bởi cảnh sát, áo cân nặng 1,3 kg và trị giá 1350 US$.
Tuy phát minh ra Kevlar nhưng bà không giàu từ nó vì bà đã trao bản quyền cho DuPont.
Vinh dự nhứt của bà là một trong 4 người phụ nữ được ghi tên vào danh sách của "National Inventors Hall of Fame" (Hội trường nổi tiếng của những nhà phát minh quốc gia) năm 1994 và "National Women's Hall of Fame" (Hội trường nổi tiếng quốc gia của những người phụ nữ) vào năm 2003.
Câu để lại cho hậu thế của bà: "Tôi nghĩ rằng bạn nên truyền cảm hứng cho giới trẻ để họ tin vào chính họ và không nên sợ khi suy nghỉ vượt khuôn khổ"
9.
Sir Alexander Fleming, sanh 1881 - mất 1955, thọ 73 tuổi. Ông là bác sĩ, nhà sinh vật học, thực vật học, dược sĩ người Scotland, đã khám phá ra thuốc trụ sinh Penicillin năm 1923.
Năm 1941, Penicillin được sử dụng lần đầu trên người để điều trị vết thương bị vi trùng xâm nhập. Trong đệ nhị thế chiến, Penicillin đã cứu rất nhiều chiến sĩ phía đồng minh. Trong ba-lô của họ có liều thuốc Penicillin. Nhà chế biến thuốc đã đăng tờ quảng cáo "Cảm ơn Penicillin, anh chiến sĩ sẽ trở về".
Năm 1944, Fleming được hoàng gia Anh phong tước.
Năm 1945 ông đoạt giải Nobel về Y học.
Năm 1999 tên ông được tạp chí Time đặt vào hàng 100 người quan trọng nhứt trong thế kỷ 20.
Năm 2002 đài truyền hình BBC tổ chức cuộc bình chọn, và ông được dân đặt vào 100 người vĩ đại nhứt của vương quốc Anh.
Hoạt chất của Penicillin tấn công tường tế bào của vi trùng, làm cho tường bị căng thẳng và nổ, vi trùng bị huỷ diệt.
10.
Carl Djerassi sanh 1923 tại Vienna Áo - mất 2015 tại San Francisco California vì bịnh ung thư gan và xương, thọ 91 tuổi. Cha mẹ của ông đều có gốc Do thái, cả hai đều là bác sĩ, cha của ông gốc Do thái Bungary, mẹ Do thái Áo.
Gia đình ông di cư sang Mỹ năm 1939 để tránh bị phát xít giết. Ông là nhà hóa học và nhà văn, cũng là người phát minh ra thuốc ngừa thai.
Từ năm 1960 thuốc được thịnh hành, ban đầu ở Mỹ, sau đó Châu Âu và lan ra khắp thế giới.
 11.
Manuel Elkin Patarroyo Murillo sanh năm 1946 tại một thị trấn nhỏ Ataco nằm ở trung tâm của Columbia, Nam Mỹ. Ông là một giáo sư đại học về bịnh lý học và bác sĩ chuyên về miễn dịch học.
Vào những năm của thập niên 80 thế kỷ 20, ông khám phá một loại thuốc chích ngừa nhân tạo chống ký sinh trùng gây bịnh sốt rét, bịnh mà hàng năm đem cái chết cho khoảng 1,5 triệu người phần đông là người sống vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Patarroyo nghiên cứu trong y học tại đại học Quốc gia của Columbia, sau đó ông được học bổng để học tại đại học Yale của Mỹ. Năm 1984 ông sang Đại học Rockefeller và ra trường với bằng bác sĩ Ph.D. Sau khi tốt nghiệp, ông trở về nước thành lập viện miễn dịch học Quốc gia.
Năm 1987 ông phát triển thuốc chích ngừa chống sốt rét có tên là SPf66. Thuốc ngừa này được WHO thử nghiệm tại nhiều nước ở Phi Châu, Nam Mỹ và Thái-lan.
Mặc dù có rất nhiều Công ty dược phẩm muốn mua bản quyền khám phá này của ông với giá nào cũng mua, nhưng ông đều từ chối không bán vì cho rằng bản quyền đó sẽ bị công ty dược phẩm cất vào tủ không bao giờ thấy nó nữa. Bởi vì nếu có thuốc ngừa sốt rét thì còn ai bịnh nữa để họ bán thuốc, để người bịnh phải lệ thuộc thuốc của họ dài hạng, họ chẳng màng đến chuyện con nít, người lớn nghèo không có tiền mua thuốc mắc, thuốc tốt uống thì phải chịu tử vong.
Năm 1995 ông đã trao tặng bản quyền của mình cho WHO-tổ chức y tế thế giới và nhấn mạnh rằng thuốc ngừa đó phải sản xuất tại Columbia để giữ giá thấp.
Nhưng WHO-World Health Organisation đã không sử dụng vaccine ở mức độ rộng rãi khắp thế giới, vì họ cho rằng tỷ lệ ngừa thành công còn quá thấp.
Patarroyo cho rằng những lời chỉ trích tiêu cực của WHO về thuốc ngừa như là một thành kiến chống lại các nhà khoa học của thế giới thứ ba. Tuy nhiên ông đã tiếp tục cải thiện thuốc ngừa của mình và hiện nay vẫn còn chích ngừa cho người dân và trẻ em sống tại vùng rừng núi hiễm trở, vùng thiểu dân sống cô lập của Columbia, nơi mà sốt rét khi trước hoành hành làm hại đến sức khoẻ người dân trầm trọng.
Tuy nhiên không phải cả thế giới đều coi thường những nhà khoa học của những đất nước nghèo.
Năm 1994 ông được trao tặng giải giá trị 50 ngàn Euro do quỹ "Robert-Koch" của Đức và giải trị giá 50 ngàn Euro quỹ tư tổ chức của Tây-ban-nha "Principe de Asturias". Năm 1998 ông nhận được 15 ngàn $ giải của TWAS-Học viện khoa học thế giới, giải hàng năm dành cho những người có thành tích xuất sắc trong lãnh vực nghiên cứu khoa học.
*Heinrich Hermann Robert Koch 1843-1910 là Bác sĩ và nhà vi sinh vật học nổi danh của Đức.
Giải hàng năm của quỹ "Robert-Koch"có giá trị 100 ngàn Euro, nhưng năm 1994 giải chia đôi vì có hai người được tặng. Từ năm 2017, giá trị của giải thưởng được tăng lên 120 ngàn Euro.
*Principe de Asturias dịch Prince of Asturias và cũng chính là Thái tử của Tây-ban-nha. 
 12.
Sir Alec John Jeffreys sanh năm 1950 tại Luton phía bắc Luân đôn. Ông là nhà sinh vật học và di truyền học, là người đầu tiên đã chứng minh và ứng dụng DNA để giúp cảnh sát tìm thủ phạm của những vụ án.
Vào năm 1983 và 1986 ở lảnh địa Leicester có hai cô gái bị hãm hiếp và giết chết. Một thanh niên bị nghi ngờ là hung thủ, bị bắt và bị cảnh sát hỏi cung trong nhiều ngày liên tiếp. Cuối cùng thanh niên đó đã nhận tội, nhưng chỉ nhận đã giết một cô và khi được hỏi đã giết như thế nào thì người này khai lung tung không giống với hiện trường và xác khám nghiệm. Cảnh sát không biết phải làm sao tìm bằng chứng để buộc tội thanh niên này đã giết hai người nên họ đã nhờ sự giúp đỡ của Jeffreys, lúc đó ông đang làm việc tại đại học của Leicester.
Năm 1985 Jeffreys đã khám phá di truyền của dấu tay và công bố phát hiện này trên tạp chí khoa học. Ông cho rằng các đặt tính di truyền DNA có thể chiết xuất từ các mô và chất lỏng của người như máu, nước miếng, tinh dịch. 
DNA deoxynbonucleic acid là phân tử a-xít mang thông tin di truyền. Một phân tử dài, rất phức tạp nhưng chỉ bao gồm 4 chữ cốt a, c, g, t (adenine, cytosine, guanine, thymine). Sự sắp xếp chuỗi của các chữ cốt này sẽ là định nghĩa của hộp tin di truyền trong hạt nhân của một tế bào trong cơ thể con người.
Trên quần áo của hai nạn nhân, cảnh sát đã tìm thấy dấu vết của tinh trùng của phạm nhân ngay từ năm 1986. Phương pháp của Jeffreys chứng minh được hai điều:
1/ Một thủ phạm duy nhứt đã giết hai cô gái.
2/ Nghi phạm không phải là thủ phạm.
Năm 1987, tại Leicestershire người ta đã tổ chức săn lùng thủ phạm qua cuộc thử nghiệm DNA của tất cả đàn ông sinh sống trong vùng. Cuối cùng, thủ phạm Colin Pitchwork đã bị bắt và hắn thú nhận ngay. Trước đó hắn đã cố lừa gạt cảnh sát bằng cách nhờ bạn cầm thẻ căn cước của hắn đi làm thử nghiệm DNA-screening.
Thử nghiệm DNA đã cứu được nhiều người vô tội khỏi ngục tù cũng như bắt được nhiều tội phạm. Ở Mỹ, hàng trăm tù nhân vô tội đã được thả nhờ phương pháp thử DNA này, như Keith Allen Harward được thả sau 33 năm tù vì hội hãm hiếp giết người. Thí dụ khác Freddie Peacock bị buộc tội hãm hiếp năm 1977 phải chịu án 20 năm tù, cách đây vài năm danh dự của ông được trả lại khi thử DNA thì chứng minh được ông vô tội.
Năm 1994, Jeffreys được nữ hoàng Anh phong tước.
 13.
Bịnh tiểu đường được khám phá bởi bác sĩ Hy lạp Aretaios Kappadodien khoảng 100 năm sau công nguyên.
Trước đây, người bịnh tiểu đường chỉ có một cách duy nhứt để điều trị bịnh bằng chế độ ăn kiêng. Một ngày họ chỉ được ăn vào khoảng 500 calô và không được ăn chất có bột. Hậu quả của phương pháp này khiến cho người bịnh tiểu đường bị suy dinh dưỡng trầm trọng và đòi hỏi họ phải có sức mạnh của ý chí, vì vậy rất ít bịnh nhân có thể duy trì chế dộ ăn ít như vậy trong một thời gian dài.
Bác sĩ sinh lý học và giải phẩu học người Gia nã đại Frederick Grant Banting (1891-1941) nghiên cứu về bịnh tiểu đường và phát hiện chất hóc môn từ tuyến tụy có thể điều hoà khối lượng đường trong cơ thể và ông tìm cách để tách ly nó để tiêm cho người bịnh. Ông cần một cận sự và một phòng thí nghiệm.
John James Richard McLeod lúc đó là giám đốc trường đại học y khoa tại Toronto (Gia nã đại) đã giới thiệu Charles Herbert Best (1899-1978) sinh viên y khoa chuyên ngành sinh học làm cận sự và giành riêng cho họ một phòng thí nghiệm của trường.
Năm 1921 Banting và Best đã cô lập được chất hóc môn insulin của một con chó và chích cho con chó khác bị tiểu đường và diều trị thành công. Sau đó họ trích insulin từ bò con nhưng chưa chích cho người được vì trong đó có chất protein độc. Nhờ có bác sĩ sinh học James Bertram Collip nghiên cứu ra phương pháp để cô lập chất độc thành công. Vào năm 1923 thuốc chích công nghệ bắt đầu sản xuất để giúp người bịnh tiểu đường.
Insulin chất kích thích tố của Tuỵ cần thiết cho việc chuyển hoá tinh bột.
Năm 1923 Banting lúc đó 32 tuổi (người đoạt giải Nobel trẻ nhứt trong nghành y) và Macleod được giải thưởng Nobel về y học. Banting phản đối vì ông cho rằng Best và Collip cũng đóng góp và có công trong việc khám phá này, nhưng phản đối ấy không thành công. Tuy nhiên Banting đã chia nữa số tiền thưởng cho Best và hai người tiếp tục nghiên cứu về chủ đề bịnh tiểu đường sau thành công đột phá của họ. Năm 1932 họ thành lập viện nghiên cứu tại đại học của Toronto.
Ngay cả Macleod cũng đã không giữ trọn số tiền thưởng mà chia nữa cho Collip.
Banting là con trai út trong số 5 người con của một gia đình nông dân. Năm 1941 Banting mất vì bị rớt máy bay.
Best khi về già cũng bị bịnh tiểu đường.
Vào đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, insulin được chế từ vi trùng đã được biến đổi gen.
Insulin cứu khoảng 8,5% dân số toàn cầu, số người bị bịnh tiểu đường do WHO phỏng đoán.
14.
Bằng sáng chế túi khí cho hành khách trên máy bay đã có từ 17.02.1920 do hai người Mỹ Arthur Hughes Parrott và Harold Round phát minh US1.331.359.
Ai là người sáng chế túi khí / túi hơi / airbag cho xe hơi?
Tháng 10 năm 1951 kỷ sư và nhà phát minh người tây Đức Walter Linderer đăng ký bằng sáng chế "Thiết bị để bảo vệ người trong xe hơi, chống chấn thương trong trường hợp gặp tai nạn giao thông", nhưng mãi 2 năm sau tháng 11.1953 sáng chế này mới được công nhận với số DE896312. Ở bên Mỹ ông John Hetrick cũng có sáng chế tương tự đăng ký bằng sáng chế vào năm 1952 và được công nhận vào tháng 8.1953 với số US2649311A. Cả hai sáng chế này không thực tế nên không được áp dụng do thiếu cảm biến kích hoạt, túi khí bung quá chậm, chất làm túi khí không đủ độ dẽo độ bền, khi bung ra thì lấp gần đầy bên trong xe hơi nên gần như không còn không khí cho người trong xe thở.
Cho tới thập niên 60 của thế kỷ 20 Allen Kent Breed "Breed Technologies" phát triển phương pháp công nghệ hiện đại cho airbag tương tự ngày hôm nay.
Hiện tại đã có airbag cho người chạy xe đạp có tên Hövding (nhấn vào đó để xem video) do hai nữ sinh viên thiết kế công nghiệp Anna Haupt và Terese Alstin Thụy điển sáng chế năm 2005. Giá năm 2018 là 320US$.

Coi Thêm
Trứng có trước hay Gà có trước?
Tẩy Chay Hàng Hóa Đồ Đạc của Tàu khựa
Cuộc Thi Ca Nhạc Truyền Hình Châu Âu 2012
Thành Phố có Mức sống mắc nhứt Thế giới
Vi Trùng MRSA
 Máy Giúp Người Liệt Chưn Đi Được
Thức Ăn Ngăn Ngừa Ung Thư 
YU55 và WN5
Phân biệt các loại Bão Storms: Cyclone - Hurricane - Typhoon - Tornado
Cholesterol là gì? HDL và LDL là gì?
Kosher, luật lệ ăn uống cho người theo đạo Do Thái chính thống
Bịnh Tiểu Đường
Chết Vì Sắc Đẹp
Vì sao Đồng Hồ Kim chỉ 10 giờ 10 phút?
Nhẫn Đính Hôn và Nhẫn Cưới
Người đẹp toàn cầu thế kỷ 21
Giống nhau và khác nhau giữa Trà Đen và Trà Xanh
Truyền Thuyết Ma Cà Rồng và Bá Tước Dracula
Dementia - Bịnh mất trí nhớ
Hiện tượng Rong Kinh - Rong huyết - Băng lậu
Ngũ Hành Mạng và màu Sắc
Khác Biệt giữa Ngọc và Thạch
NDM-1 Vi Trùng Nguy Hiểm Nhứt Thế Gian
Con Đỉa
Tất cả thông tin về Pha lê và Thủy tinh
Những Món Ăn Kinh Khủng Nhứt Thế Giới
Mắt nhìn được sau 50 năm mù lòa
Chuột Cống tìm Mìn
Những Sáng Kiến Kỳ Lạ
Tẩy Uế Nước bằng Ánh Sáng Mặt Trời
Mắm Nêm một Đặc Sản của dân tộc Việt
Sáng Kiến giúp Người Nghèo
Vài Cây Cổ Thụ Nổi Tiếng trong Lịch Sử
Khi Mất Ngủ nên Làm Gì?
Làm Sao để có Làn Da Mặt Đẹp
24 Khuôn Vàng Thước Ngọc
Cúm Heo - Thuốc Ngừa và Thuốc Trị Vi Khuẩn H1N1
Nhôm + Bột Ngọt và Bịnh Lãng Trí
Tết Trung Thu đốt đèn đi chơi ...
Bảo Vệ Mắt Bằng Mắt Kiếng Mát
Ý nghĩa của Kim Bạch Kim - Vàng - Vàng Trắng và Bạch Kim

Tuesday, September 11, 2012

5 Loại Vi trùng và Vi Khuẩn nguy hiểm nhứt

Hạng 5 - Vi trùng Bacillus anthracis (họ Bacillaceae)
Gây bịnh than "Anthrax", người bị nhiễm không chữa trị kịp thời 90% dẫn đến tử vong. Anthrax tiếng Hy lạp nghĩa "than" (cục than) vì khi người nhiễm bịnh chết thì lá lách và những chổ nhiễm khuẩn trên cơ thể chuyển đen, máu ứa ra cũng đen.
Vi trùng có dạng hình que hoặc hợp lại thành chuỗi có khúc như cây tre, bào tử có đường kính khoảng 1μm và dài từ 2 đến 4μm, hiện diện khắp nơi trên mặt đất. Bào tử có thể tồn tại hàng chục thậm chí hàng triệu năm (cô lập từ ruột một con ong bị kẹt trong Hổ phách/Amber, bào tử phân mầm trở lại). Bịnh chủ yếu truyền từ các thú vật ăn cỏ, thú móng guốc, móng chẻ như trâu, bò, heo, cừu, dê, ngựa, lừa, hươu, nai, lạc đà. Khi súc vật ăn vi trùng vào, chúng sinh sản ở cuống họng và ruột già của con thú, hoặc con thú hít vi trùng vào phổi hoặc bị nhiễm trùng qua vết thương hoặc vi trùng ẩn trong lông, da của thú chờ đợi cơ hội. Khi người ăn thịt thú nấu nướng chưa chín hẳn, hoặc khi trên người có vết thương và chạm vào súc vật bị nhiễm vi trùng hoặc hít thở vi trùng, chúng đi vào phổi, tế bào bạch cầu bao bọc lấy vi trùng và đẩy chúng đến các hạch bạch huyết, ở đó vi trùng sẽ hoạt động trở lại, phân tán vào máu thải chất độc phá hủy thành của mạch máu và làm hệ thống phòng thủ của cơ thể suy yếu đi. Thành mạch máu sẽ bị bào mỏng, máu sẽ chảy xuyên mạch máu và tràn khắp nơi, các bộ phận nội tạng bị mất máu. Nếu nhiễm trùng qua vết thương, trong vòng ba ngày tại nơi nhiễm trùng sẽ xuất hiện những "ổ" nhiễm trùng với vùng bị lỡ loét có mủ và sau đó vào trong cơ thể gây nhiễm trùng máu.
Nếu phát hiện sớm khoảng không quá một tuần, khi vi trùng còn chưa lan tràn có thể chữa trị bằng thuốc trụ sinh. Nếu phát hiện trể, khi độ nhiễm vi trùng quá cao và chúng đã thải ra quá nhiều độc tố thì thuốc kháng sinh không còn hiệu nghiệm.
Tùy theo bị nhiễm theo dạng nào thí dụ nhiễm qua vết cắt, vết thương, qua da,... bịnh có các triệu chứng như ngứa ngáy nơi chổ da bị nhiễm, sau đó lở loét chổ ấy nhưng không đau, nước mủ vàng chảy ra, hạch gần chổ bị nhiễm sưng lên. 
Nhiễm qua đường hô hấp rất khó chẩn đoán. Người bịnh có triệu chứng tương tự bị cúm, viêm phổi, bắt đầu ho, sốt, cảm giác mệt mỏi toàn thân, sau đó sẽ bị khó thở, ho ra máu. Tỷ lệ tử vong rất cao (80% đến 100%) và rất nhanh. 
Nhiễm qua đường bao tử, đường ruột, người bịnh bị đau bụng dữ dội, nóng cao, tiêu chảy có máu, ói mửa, nhiễm trùng máu, chảy máu nội tạng dẫn đến từ vong. 

Hạng 4 - Vi khuẩn Orthopox variola (họ Poxviridae)
Bịnh đậu mùa được phân biệt làm hai loại: Variola major (đậu mùa thật) và Variola minor (Alastrim variola đậu mùa trắng), loại major nguy hiểm hơn vì độ tử vong cao.
Vi khuẩn Variola major gây bịnh đậu mùa "Smallpox", bịnh nguy hiểm vì vi khuẩn truyền nhiễm cực kỳ nhanh qua nước miếng, mủ của người bịnh, vật dụng đồ đạc bị dính vi khuẩn. Truyền nhiễm không qua trung gian của thú hoặc côn trùng, mà chỉ truyền nhiễm từ người qua người.
Ở thế kỷ thứ 20 dịch đậu mùa "đen" haemorrhagic smallpox hoành hành gây thiệt mạng 500 triệu người, 90% đến 100% người nhiễm khuẩn bị tử vong. 
Khi vi khuẩn đột nhập được vào cơ thể, trước tiên chúng sẽ tấn công các hạch bạch huyết, lá lách và tủy từ đó chúng sinh sản trong tế bào chất của tế bào, sau đó chúng phá hủy tế bào chủ và lan nhiễm gây ra triệu chứng tương tự cúm: sốt, nhức mình mẩy, sưng và đau ở hệ thống hô hấp. Kế tiếp, vi khuẩn vào đường máu, niêm mạc và tiếp tục sinh sản. Sau đó khắp nơi trên thân thể người bịnh phát ban, nổi mọng mủ, bên trong xuất huyết nội tạng dẫn đến tử vong chỉ trong vài ngày.
Hiện tại vẫn chưa có cách điều trị hiệu quả cho bịnh này.
Nhờ cách ngăn chận vi khuẩn bằng phương pháp chích ngừa nên kể từ năm 1980 trên thế giới được coi là không có dịch đậu mùa xuất hiện nữa. Các nước đã bãi bỏ luật buộc tiêm chủng vì các biến chứng phụ do chích ngừa có thể gây ra, vì vậy những người sanh sau hoàn toàn không được bảo vệ trước vi khuẩn này, những người lớn tuổi đã từng được chích ngừa cũng chỉ được bảo vệ một phần vì 3 năm sau khi chích ngừa thì sự miễn nhiễm đã giảm dần.
Vi khuẩn gây bịnh đậu mùa vẫn còn tồn tại trong thiên nhiên. 
Ở hai nơi còn "chính thức" tồn trử vi khuẩn để thí nghiệm, nhốt chúng dưới nhiệt độ -100°C, một ở Novosibirsk Liên xô và một ở Atlanta Mỹ (Centers for Disease Control and Prevention).

Hạng 3 - Vi trùng Yersinia pestis (họ Enterobacteriaceae)
Bịnh dịch hạch được phân biệt làm ba loại:
- Dịch hạch thể hạch Bubonic plague với triệu chứng các hạch bị sưng, bịnh nhân bị sốt, ớn lạnh và thân thể suy nhược, có thể tiến triển gây ra các triệu chứng dịch hạch thể nhiễm trùng máu và dịch hạch viêm phổi.
- Septicemic plague, dịch hạch thể nhiễm trùng máu với triệu chứng sốt, ớn lạnh, đau bụng, xuất huyết dưới da, huyết áp thấp, và có thể tiến triển thành dịch hạch thể phổi.
- Bịnh dịch hạch viêm phổi Pneumonic plague có triệu chứng đau ngực, khó thở, ho ra đờm có máu, sốt, nhức đầu, thể này nghiêm trọng nhứt, nhưng cả ba loại đều nguy hiểm vì sát xuất tử vong cao và nhanh.
Vi trùng Yersinia pestis gây bịnh dịch hạch "Plague" truyền nhiễm sang người qua bò chét hút máu các con vật bị nhiễm bịnh như loài gặm nhấm: chuột, loài động vật sống hoang dã: sóc, chồn, thỏ. Bịnh sau đó truyền từ người sang người qua việc va chạm trực tiếp hoặc qua đường hô hấp như hít các giọt chất dịch của người bịnh. Khi vi trùng vào được cơ thể của người, chúng tấn công và phá hủy các hạch, thải độc tố và đi vào đường máu làm chảy máu nội tạng. Bịnh dịch hạch nếu phát hiện sớm có thể cứu bằng thuốc trụ sinh. 
Bịnh dịch hạch Bubonic plague "Black Death" năm 1347-1352 đã giết chết 75 triệu, 1/3 dân số của người Châu Âu, sử sách có ghi: "Ở khắp nơi, người sống không có đủ để chôn cất người chết".
Năm 1894, hai nhà nghiên cứu: bác sĩ kèm tiến sĩ về vi trùng học Alexandre Emil Jean Yersin (1863-1943) người Thụy sĩ gốc Pháp và bác sĩ kèm tiến sĩ về vi trùng học người Nhựt Shibasaburō Kitasato (1853-1931) đã gần như cùng một lúc miêu tả vi trùng có trong cơ quan của người đã chết vì bịnh dịch hạch. Yersin là người đã kết nối giữa chuột và binh dịch hạch do đó vi trùng được đặc tên của ông. Vào năm 1898 bác sĩ kèm tiến sĩ sinh vật học người Pháp Paul-Louis Simond (1858-1947) phát hiện nguồn lây bịnh là con bò chét.
Hiện nay, hàng năm vẫn còn có khoảng 2000 người chết vì bịnh dịch hạch. 

Khi đi dạo, bạn nhìn thấy con thú bị chết, bạn đừng nên đến gần chúng hoặc phòng chống bịnh bằng cách uống thuốc kháng sinh ngay sau khi tiếp xúc với người bị nhiễm bịnh.

Hạng 2 - vi khuẩn HIV

Vi khuẩn nguy hiểm hạng 1 - Ebola virus
Chi vi khuẩn Ebola thuộc họ Filoviridae, bao gồm 5 loài và 14 tiểu loại. Ebola là tên một con sông ở nước Zaire nay là cộng hòa dân chủ Congo.
Vi khuẩn gây bịnh sốt xuất huyết Ebola. Vi khuẩn được phát hiện lần đầu vào năm 1976, xuất xứ từ Congo và Sudan sau đó lan ra cộng hòa Gabon, Cốt-Đi-Voa (Ivory Coast), Nam Phi. Mới đây, vào tháng 7 năm 2012 dịch xuất hiện tại Uganda. Dịch truyền từ máu bị nhiễm khuẩn của khỉ và dơi, truyền nhiễm từ người sang người qua nước miếng, mủ, chủ yếu qua máu của người bị nhiễm khuẩn.
Bắt đầu sau hai, ba ngày hoặc có thể đến sau ba tuần, người bị nhiễm vi khuẩn có các triệu chứng sốt, ớn lạnh, đau nhức đầu, không muốn ăn, ngoài ra còn bị ói mửa, tiêu chảy, đau bụng, đau ngực, cuối cùng xuất huyết nội tạng nhứt là trong phổi và bao tử, ói mửa ra máu, ho ra máu, ra máu ở mắt và da. Sau khoảng 5 ngày phát ban, xuất huyết toàn thân. Trong vòng 9 ngày từ khi phát hiện triệu chứng sẽ dẫn đến tử vong với tỷ lệ là 90% đến 100%. Hiện tại không có thuốc phòng ngừa hay thuốc chữa trị sốt xuất huyết Ebola.

***

Dengue fever hay Breakbone fever. Sốt xuất huyết vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, do vi khuẩn Dengue gây ra, vi khuẩn Dengue thuộc họ Flaviviridae, truyền nhiễm duy nhứt chỉ qua muỗi sọc trắng (vằn trắng, chấm trắng) Stegomyia aegypti, Aedes albopictus, đặc điểm của muỗi này là chúng có những chấm trắng ở mình, chân và giữa đầu, chúng hoạt động ban ngày. Thời gian bị nhiễm cho đến phát bịnh khoảng từ 2 ngày đến 1 tuần.
Sốt xuất huyết dạng thông thường, người bịnh bị sốt có thể lên đến 41°C, triệu chứng như bị cúm: nóng lạnh, mỏi cơ bắp, nhức đầu, nhức khớp, nhịp tim đập chậm, phát ban, hạch, lá lách, gan bị sưng. Sau vài hôm (khoảng 2-3 ngày) bớt sốt nhưng sau đó 1 hay 2 ngày thì sốt cao trở lại.
Hemorrhagic form - Sốt xuất huyết ở trẻ em hoặc người lớn bị nhiễm khuẩn lần thứ hai nguy hiểm hơn do chảy máu nội tạng, ói ra máu, tiêu chảy ra máu, mê man, sốc, xác suất tử vong cao.
Hiện nay vẫn chưa có thuốc để diệt vi khuẩn, chỉ có cách điều trị các triệu chứng do chúng gây ra và người bịnh phải tuyệt đối nghỉ ngơi dưỡng sức.
Hy vọng thập niên sắp tới sẽ có thuốc ngừa (Dengue vaccine) chống được con vi khuẩn này.

Để bảo vệ cơ thể trước những con vi trùng và vi khuẩn nguy hiểm "phòng bịnh hơn chữa bịnh":
- Giữ thân thể khoẻ mạnh, tăng cường hệ thống miễn dịch để cơ thể có sức đề kháng chống lại vi trùng vi khuẩn.
- Tránh xa các nguồn nghi ngờ bị nhiễm khuẩn.
- Chích ngừa nếu có thể.
- Tránh lạm dụng trụ sinh và tránh ăn những súc vật bị chích trụ sinh.
- Vệ sinh: rửa tay bằng xà bông sau mỗi lần đi nhà vệ sinh, rửa tay trước khi chuẩn bị thức ăn, rửa tay trước khi ăn. Không gắp thức ăn chung đụng với các người khác.
- Nếu đến những nơi không vệ sinh hoặc nơi có nhiều vi trùng vi khuẩn hoặc những lúc bịnh dịch lan tràn, nên đem theo chai cồn nhỏ để tẩy trùng ngoài da cho mình. 

Kim Long sưu tầm

Sunday, July 8, 2012

Khác Biệt giữa Xương Rồng Cactus và Mọng Nước Succulent

Loài thực vật Mọng nước - Succulent, từ chữ La-tinh suculentus nhiều nước; nhiều nhựa.

Họ Xương rồng - Cactaceae. Cây xương rồng tiếng Anh số ít Cactus; số nhiều Cacti.

Nếu nói rằng: "tất cả Xương rồng là Mọng nước" câu này không sai. Nhưng nếu nói ngược lại: "tất cả Mọng nước là Xương rồng" thì không đúng sự thật.

Họ Xương rồng là thực vật trong loài Mọng nước. Xương rồng xuất xứ nguyên thủy từ vùng khô hạn Châu Mỹ, phát triển dưới nhiều dạng: cây, bụi, phủ sát mặt đất.
Bông lưỡng tính, to từ 0,2 đến 30cm, có tất cả màu từ trắng, vàng, hồng, đỏ, hình dạng cột trụ, dạng phễu, chuông, tròn, phẳng, ....
Xương rồng có khả năng hút nước nhanh, thu gom các nguồn nước từ mưa, nước trong lòng đất, hơi nước trong không khí và có thể dự trữ nước trong lá hoặc trong thân tùy loại, có khả năng làm giảm tối thiểu sự mất nước bằng cách giảm diện tích bề mặt, phủ lớp sáp trên lá và thân cây, có lông, thân mập và tròn, ... vì vậy xương rồng thích nghi để sinh tồn lâu dài ở môi trường khô cằn, ít mưa, đất ít dưỡng chất như sa mạc, thảo nguyên, núi, bờ biển.
Một cây xương rồng sống trung bình khoảng 25 năm, có loài sống đến 300 năm, có thể cao tới 15 mét. Xương rồng loại không gai và có gai, gai cũng như chồi của xương rồng đăm ra từ những vòng nhỏ "núm" quanh thân hoặc lá của chúng.
Nước cũng như trái của xương rồng thường không có độc, tiêu biểu: trái Thanh Long, trái Indian fig (Opuntia ficus-india); trái của cây Smooth prickly pear (Opuntia humifusa).

Mọng nước là định nghĩa chung cho các "họ cây có khả năng lưu trữ nước" bao gồm rất nhiều họ như Agavaceae (họ Thùa); Apocynaceae (Trúc đào); Asclepiadaceae (Thiên lý); Asparagaceae (Bách hợp); Asphodelaceae (Lô hội); Bromeliaceae (họ Thơm); Crassulaceae (Thuốc bỏng, trường sinh, sống đời); Cactaceae (Xương rồng); Dracenaceae (Bồng bồng tiêu biểu cây Lưỡi cọp); Euphorbiaceae (Sữa sói / Thầu dầu tiêu biểu cây Bát tiên); Malvaceae (Cẩm quỳ); Moraceae (Dâu tằm); Nolinaceae (Náng đế); ...
Mọng nước cũng có những đặc tính như xương rồng, có loại dự trữ nước trong lá (Lô Hội), loại trữ nước trong thân (xương rồng), loại trữ nước trong củ (caudex) của một số Sứ.
Mọng nước phần lớn xuất xứ từ Phi Châu. Một vài loại có gai, nhưng không phải mọng nước có gai thì gọi là xương rồng, vì gai của mọng nước không mọc ra từ núm!
Mọng nước chia làm ba loại, loại dự trữ nước trong lá, loại dự trữ nước trong thân và loại dự trữ nước trong củ.
Mọng nước thuộc thực vật có mủ vì vậy có vài loại thậm chí độc hại.
Cách để phân biệt giữa mọng nước và xương rồng là chích vào thân hay lá của chúng, cây có nước trong là xương rồng, cây có nhựa màu sữa trắng đục chảy ra, đó là cây mọng nước họ Thầu dầu/Đại kích/Sữa sói Euphorbiaceae, tất cả cây thuộc họ này đều có nhựa độc: "Ông cảnh" Euphorbia lactea; Bát tiên Euphorbia millii; cây Trạng nguyên Euphorbia pulcherrima...phải hết sức cẩn thận khi tiếp xúc với nhựa vì chúng có thể làm cho viêm, lở loét hoặc gây nhiễm độc, mủ bắn vào mắt gây mù lòa.

Lá của mọng nước thông thường có dạng dài hoặc lá bình thường nên ít khi bị lầm lẫn với lá xương rồng. Cây mọng nước không độc tiêu biểu là Lô hội cây Nha đam và cây Thùa (Agaven).
Agaven sống không cần nhiều ánh sáng, có thể sống ngoài trời mùa đông và có loại sau 20 năm mới có bông, chỉ có duy nhứt một bông trong đời nở ra ở giữa, khi bông tàn thì cây cũng chết.
Lô hội có nhiều chồi một lượt và có bông nhiều lần trong đời, đôi khi bông nở vào mùa đông, nhưng không sống được nơi lạnh dưới 15°C.
Agave
Madagascar palm (thân) Mọng nước
"Tỏi Tây", họ Cảnh thiên/
Lá dầy

Dracaena "Rồng (cái)" - tricolor Dragon tree 
Khi mua cây kiểng cần phải biết rỏ cây thuộc loại xương rồng hay mọng nước vì sự chăm sóc của các cây này khác nhau. Xương rồng và Mọng nước có đặc điểm chung là không thích nước tưới có nhiều vôi, vì vậy nên tưới nước mưa, nước lọc hoặc nước nấu chín.

Mọng nước có rất nhiều họ, mỗi họ có cách chăm sóc khác nhau, thí dụ có loại cần độ ấm (trên 15°C) và thích môi trường có độ ẩm cao như các loại sống bám trên thân của các cây khác trong rừng nhiệt đới tillandsia (cây không khí), epiphyte (Phong lan/Lan gió). Hầu hết các loại mọng nước cần được tưới nước ít nhưng thường xuyên vào mùa hè có nhiều nắng, những ngày hè trời ít nắng hoặc nhiệt độ bắt đầu lạnh (cuối hè năm nay đến cuối xuân năm sau) giảm tưới nước đến mức tối thiểu và nên lập "lịch dưỡng cây".

Xương rồng cần nhiều ánh sáng nhưng không để dưới nắng chói chang trực tiếp vào buổi trưa. Đất cần có 50% cát. Tưới nước ấm với lượng vừa phải, giữa hai lần tưới cần để bề mặt của đất khô 1-2 ngày, tuyệt đối không để ứ nước sẽ làm thúi rể. Mỗi tháng bón phân một lần. Không để lạnh dưới 15°C.

Xương rồng "gối ghim kim cầu vồng"/rainbow pincushion




Xương rồng "Óc sói" tên tiếng Anh "Brain plant"
Euphorbia lactea cristata. Họ Euphorbiaceae.

Kim Long sưu tầm 

Coi Thêm

Monday, May 14, 2012

Khác biệt giữa Vi trùng, Vi khuẩn và Nấm - HIV và AIDS

Bacteria - Vi trùng được quan sát lần đầu bởi nhà khoa học và nhà phát minh kiếng hiển vi người Hòa lan Antonie Philips van Leeuwenhoek trong nước miếng qua kiếng hiển vi tự chế. Ông đã mô tả vi trùng và thông báo tại  Royal Society of London vào năm 1676.

Theo phỏng đoán, vi trùng có trên trái đất khoảng 3.5 tỷ năm trước đây. Hiện khoa học nhận dạng được 16000 chủng loại. Cho đến nay không ai biết chắc trên thế gian có bao nhiêu loại vi trùng, nhưng người ta cho rằng có ít nhứt 35500 loại và nhiều nhứt là 107 đến 109. Mỗi loại vi trùng thường có một hình dạng tương đối ổn định, tuy nhiên một số có khả năng thay đổi hình dạng, kích thước để phù hợp với môi trường (pleomorphic). Vi trùng có nhiều loại dưới dạng: hình tròn/hình cầu (những vi trùng trong tên có chữ "coc"), cầu đơn, 2 bán cầu, hình dây, hình roi tũa râu, nhóm, hình que, hình trụ (bacill), xoắn ốc, hình dấu phẩy, theo cặp, chồng lên nhau, có đuôi, gram-positive/negative, hiếu khí/không hiếu khí (cần oxy hay không cần oxy - aerobic/anaerobic);...phần lớn chúng vô hại. Chỉ một số ít loại gây hại/bịnh cho người (sâu răng, viêm nhiễm,...). Khi môi trường thay đổi, khi vi trùng sinh sản quá nhiều trên thức ăn, trong đồ hộp thí dụ: Clostridium botulinum có thể sống hàng giờ dưới nhiệt độ 110°C và không cần oxy, chúng tiết ra chất độc, vi trùng thích nghi cực nhanh đột biến và đề kháng với trụ sinh như Staphylococcus aureus, NDM-1, EHEC (Enterohemorrhagic Escherichia coli - hemolytic uremic syndrome HUS làm hư thận), Borrelia burgdorferi với nhiều nhánh phụ-genospecies vi trùng trong ruột con Ve-Castor bean tick-Ixodes ricinus, Campylobacter, Ecoli, Salmonella gây tiêu chảy, hoặc khi cơ thể con người suy yếu thì vi trùng trở nên nguy hiểm.
Sử dụng một loại trụ sinh, vi trùng sẽ có cách đề kháng với loại trụ sinh đó, nên trong nghành y có câu "use it and lose it" (sử dụng nó thì mất nó).

Vi trùng là tế bào sống có đường kính trung bình khoảng 0.6 đến 1 µmeter có loại đạt đến đường kính 700 micrometer như thiomargarita namibiensis, dài trung bình 1 đến 5 µm có loại dài đến 700 micrometer, như Beggiatoa mirabilis. Vi trùng to nhứt tìm thấy ở Phi châu có đường kính khoảng 0,75mm có tên Thiomargarita namibiensis.
Vi trùng là vi sinh vật đơn bào (prokaryote).
Tế bào của vi trùng gồm vỏ tế bào, thành tế bào (nhiệm vụ trao đổi chất), màng tế bào (nơi này dùng để thử gram-positive/negative) bao bọc tế bào chất (cytoplasma), sản xuất chất đạm ribosome, phân tử di truyền DNA, nhiễm sắc thể (plasmid), dự trữ chất, dịch mã thông tin di truyền, nhưng không có hạt nhân. Bên ngoài vỏ tế bào đôi khi có những sợi roi (flagellum) và những sợi lông hình thành từ chất đạm (pili) dùng để di chuyển và thông tin.
Vi trùng cần năng lượng từ môi trường chung quanh để tồn tại, phát triển và sinh sản.
Sự trao đổi chất của vi trùng đơn giản hơn so với động vật.
Vi trùng "nói chuyện", đưa thông tin với nhau bằng "ngôn ngữ hoá học", chúng phóng ra tín hiệu và thu nhận chung quanh nó có nhiều hay ít những vi trùng cùng loại. Nhưng những vi trùng khác cũng có thể phát tin bằng ngôn ngữ chung của tất cả vi trùng. Thí dụ: chổ này đã có chúng tôi chiếm và tiêu thụ lương thực rồi, vi trùng chủng khác đừng hòng chiếm chổ được. 
Vi trùng sinh sản bằng phương pháp phân bào độc lập, không cần tế bào khác.
Mặc dù rất nhỏ nhưng một số vi trùng có đặc điểm lạ như bơi cực kỳ nhanh, định hướng giỏi, tồn tại trong điều kiện môi trường khắc nghiệt như GFAJ-1 sống được trong arsenic, và có vài loại tự phát sáng (Vibrio phosphoreum).
Trong và trên cơ thể một người có khoảng 100 ngàn tỷ vi trùng (100 và 13 số 0) nặng tổng cộng khoảng 2kg, phần lớn chúng có chức năng hữu ích cho con người, ngăn chận, chống lại các vi trùng gây bịnh khác, hỗ trợ hệ thống miễn dịch, giúp tiêu hóa thức ăn.
Vi trùng giúp sản xuất thuốc kháng sinh, insulin, sản xuất lương thực như yaourt (Lactobacillus bulgaricus; Streptococcus thermophilus); phô mai (họ Propionibacteriaceae; Lactobacillales); dấm (họ Acetobacteraceae); Lactic acid bacteria dùng làm rượu, cải chua, kim chi; Enzyme từ vi trùng trong bột giặt để tẩy dơ (Cellulase; Amylase; Protease; Lipase); men làm bánh, làm bia (Saccharomyces cerevisiae); Enzyme của vi trùng có trong miệng Fusobacterium nucleatum có thể tách chất chứa lưu huỳnh trong rượu vang tạo ra mùi thơm khác; Mồ hôi là thức ăn của vi trùng Staphylococcus epidermidis mỗi cá nhân sẽ có một mùi riêng biệt và khoa học cho rằng mùi đóng vai trò quan trọng trong lựa chọn bạn đời; Nitrifying bacteria dùng xử lý nước thải, v.v.
Vi trùng sống nhiều ở ngoài da, ở nách, trong tai, mũi, miệng, cuống họng, bộ phận tiêu hóa và đường ruột, nhứt là ruột già.
Trên một centi mét vuông của da có khoảng một triệu vi trùng.
Trong miệng có tổng cộng khoảng 100 triệu con vi trùng. Chỉ ở nướu có khoảng 1 triệu vi trùng, nhiều vi trùng nhứt trong miệng là lưỡi với khoảng 11 triệu. Trong miệng có vi trùng Porphyromonas gingivalis bị nghi ngờ gây bịnh đau tim, đột quỵ, viêm phổi, phong thấp khớp vì vi trùng kích hoạt một loại enzyme hung dữ phá vỡ chất đạm, làm đóng vôi các khớp.
Khi hệ thống miễn dịch của cơ thể bị suy yếu và thí dụ vi trùng đường ruột vào được bàng quang có thể gây nhiễm trùng bàng quang, viêm bọng đái.
Thí dụ các vi trùng gây bịnh (pathogen bacteria): bị nhiễm trùng vết thương, nhiễm trùng máu (Sepsis - Streotococcus pyogenes), viêm nội tạng, bịnh cùi (do vi trùng Mycobacterium lepromatosis), bịnh giang mai (vi trùng Treponema pallidum), bịnh dịch hạch (vi trùng Yersinia pestis), ung độc - Anthrax (Bacillus anthracis), bịnh phong đòn gánh - uốn ván (Clostridium tetani), ho lao (Mycobacterium tuberculosis), bịnh dịch tả (vi trùng Vibrio cholerae), bịnh bạch hầu (Corynebacterium diphtheriae), viêm màng não (Neisseria meningitidis), sốt Q (Coxiella burnetii); sưng phổi Legionnaires (Legion fever - vi trùng hình que Legionella pneumophila); bịnh Leptospirosis (vi trùng hình xoắn Leptospira); ho gà (Bordetella pertussis).
Bịnh do vi trùng gây ra thường được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Kháng sinh làm tê liệt quá trình trao đổi chất của vi trùng. Vì vậy, những người lạm dụng thuốc trụ sinh hoặc ăn uống những thức ăn có nhiều trụ sinh như tôm tép nuôi tại Thái, heo bò gà vịt nuôi tại Tàu, v.v., trụ sinh đó sẽ vào cơ thể giết hại những vi trùng có ích (mutualistic bacteria) làm cho người đó dễ bị dị ứng với những thức ăn mà lúc trước cần những loại vi trùng hữu ích giúp tiêu hóa, mặc khác làm cho trụ sinh không còn tác dụng diệt các vi trùng nguy hiểm, vi trùng gây bịnh (pathogen bacteria) vì vi trùng thích nghi rất nhanh với môi trường chúng sống.

*Bacteria, tiếng Hy lạp (Greek) bakterion nghĩa "cây que nhỏ".
*Vi = nhỏ.
Vi trùng là tiếng hán việt, vi là nhỏ, trùng là sinh vật đơn bào.
* sốt Q: Q viết tắt "Queensland", sốt do vết cắn của bọ chét. Bịnh được khám phá năm 1939 do nhà nghiên cứu bịnh học, bác sĩ Úc Edward Holbrook Derrick. Bịnh truyền nhiễm từ thú sang người, bịnh trạng như bị cúm, sốt, đau cơ bắp, biếng ăn, ho khan, đau ngực, đôi khi ói mữa, tiêu chảy. Bịnh kéo dài khoảng 14 ngày, có thể gây ra sưng phổi, viêm gan, hoặc nguy hiễm nhứt là vi trùng gây ra viêm nội tâm mạc (màng trong của tim) nếu không kịp thời điều trị sẽ dẫn đến tử vong.
*Antonie Philips van Leeuwenhoek sanh ngày 24 tháng 10 năm 1632 tại Delft, phía Nam của Hòa lan. Cha của ông có nghề làm giỏ, gia đình bên ngoại sản xuất bia. Antonie học tại trường ở thị trấn Warmond, sau đó sống với chú tại Benthuizen. Năm 1648 ông học nghề trong cửa hàng vải. Khoảng năm 1654 ông trở về Delft, nơi đó ông sống đến hết cuộc đời. Vào khoảng năm 1668 ông bắt đầu học cách làm kiếng hiển vi đơn giản và bắt đầu quan sát vi sinh vật. Mặc dù không học đại học, gia đình không giàu, nhưng với kỹ năng trời cho, chuyên cần và sự tò mò vô tận, Leeuwenhoek đã thành công trong một số khám phá quan trọng nhứt trong lịch sử sinh học. Ông là người phát hiện ra vi trùng, ký sinh trùng, tinh trùng, tế bào máu bằng kiếng hiển vi. Nghiên cứu cùa ông đã mở cửa vào thế giới của vi sinh vật, nâng cao nhận thức khoa học cho con người.
*Royal Society of London for Improving Natural Knowledge- Hội của hoàng gia Anh nhằm nâng cao kiến thức khoa học tự nhiên. Hội được thành lập vào năm 1660 tại Luân đôn, được cấp hiến chương "Hoàng gia" từ vua Charles đệ nhị. Hiện nay, hội đóng vai trò cố vấn về mặt khoa học cho chính phủ Anh, hoạt động như viện hàn lâm khoa học của Vương quốc Anh.
* µm = Micro meter = 1/1000mm = 0.001mm.
*nm Nanometer = 1/1 000 000mm

Vi trùng cổ - Archeae bacteria từ tiếng Hy lạp nghĩa vi trùng "xưa cổ; nguyên thủy". Vi trùng cổ là sinh vật đơn bào, còn được gọi là "vòng tròn nhiễm sắc thể" bao bọc bởi một phân tử DNA. Có đặc điểm tương tự như vi trùng: kích thước tế bào, phân chia tế bào, DNA tương đối đơn giản, không có hạt nhân. Vi trùng cổ có thể sinh tồn ở điều kiện bất thường, khắc nghiệt, trong môi trường mà các sự sống khác không tồn tại được. Có loại ưa nhiệt sống ở nhiệt độ khoảng 80°C đến 110°C (hyperthermophile), ưa mặn sống trong môi trường có nồng độ muối rất cao (extreme halophile), loại chuyển không khí thành khí methan (methanopyrus), hoặc có loại có thể sống trong môi trường có độ axít mạnh loại ưa chua (acidophile pH 0; pH -0.6) hoặc môi trường có tính kiềm cao (natron bacteria pH trên 10).
Cho đến nay, không có nhóm vi trùng cổ nào là nguyên nhân gây bịnh cho người được biết đến.
Vi trùng sống lâu nhứt có tên Bacillus permians từ 250 triệu năm, chúng bị bao bọc trong một tinh thể muối to bằng trái dâu tây. Năm 2000, khi các nhà khoa học của Đại học West Chester bang Pennsylvania tách ly cô lập và cho dung dịch dinh dưỡng lên thì vi trùng bắt đầu phát triễn tiếp tục. Bao nhiêu triệu năm qua, vi trùng này nằm yên trong một trạng thái ổn định, hoạt động trao đổi chất yếu đến nổi không thể đo lường được.

Xạ khuẩn là con gì nữa đây? Xạ khuẩn theo định nghĩa đó là Actinobacteria họ Actinomycetaceae là một loại vi trùng. Đặc điểm của loại vi trùng này là chúng không là những tế bào riêng lẻ mà chúng kết lại thành sợi, thành chùm, thành hình que thẳng hoặc cong thành mãng như nấm, có đường kính từ 0.2 đến 3 micro meter, có thể dài đến 50 micro meter. Xạ khuẩn phần lớn sống hiếu khí, có nghĩa là chúng cần oxy trong quá trình trao đổi chất. Nhiệt độ tối ưu để vi trùng này phát triển từ 30 đến 37°C. Xạ khuẩn dễ gây dị ứng cho người và động vật có xương sống, máu ấm. Chúng là mầm gây nhiều bịnh khác nhau, phần lớn gây bịnh đường hô hấp, actinomycosis.
Đáng chú ý: vi trùng chi Streptomyces cũng thuộc nhóm này nhưng được dùng để làm thuốc kháng sinh.

Virus - Vi khuẩn, Vi rút, Siêu vi (rất rất nhỏ, khoảng 20 đến 300 nanometer*) gồm axít nucleic - mã di truyền (DNA hay RNA), được bảo vệ bởi một lớp vỏ chất đạm, không có sự trao đổi chất, do đó vi khuẩn không được coi là sinh vật sống.
Vi khuẩn là một loại ký sinh trùng, chúng cần tế bào khác (tế bào chủ) để sinh sôi nảy nở và lây nhiễm. Sự trao đổi chất của tế bào chủ sẽ bị kiểm soát bởi vi khuẩn, chúng sao chép ra thành nhiều vi khuẩn khác bên trong tế bào chủ, sau đó tế bào chủ sẽ bị hũy và chúng lập lại quá trình lây nhiễm sang các tế bào khác. 
Bên trong cơ thể người bịnh, vi khuẩn sản xuất ra độc tố gây sốt, đau nhức, phát ban. 
Vi khuẩn cũng có thề đột biến thành chủng mới làm cho sự điều trị càng khó khăn. 
Kháng sinh không có hiệu quả chống lại vi khuẩn vì chúng không có sự trao đổi chất. 
Vì vậy chỉ có cách làm cho chúng không lan tràn ra thêm (cách ly) và tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể. 
Hoặc chích ngừa: cho vào cơ thể với số lượng vi khuẩn ít, những vi khuẩn đã chết, hoặc làm cho chúng yếu đi, cơ thể sẽ có cơ hội tạo ra kháng thể để chống lại vi khuẩn này, nếu sau đó bị nhiễm vi khuẩn cùng loại, cơ thể có thể chống lại ngay từ đầu không để chúng lan tràn. 
- Vi khuẩn cúm thích nghi và thay đổi dạng nhanh chóng, do đó hàng năm thuốc chích ngừa cúm cũng phải được chuẩn bị để thích nghi với loại vi khuẩn mới.
- Viêm màng não-TBE Tick-borne encephalitis; bịnh gây ra do vi khuẩn meningoencephalitis họ Flaviviridae có trong nước miếng con Ve-Castor bean tick-Ixodes ricinus.
- Vi khuẩn Ebola họ Filoviridae phát hiện tại Phi châu năm 1976 gây xuất huyết nội tạng. Bịnh truyền nhiễm qua đường máu và chất dịch từ người bịnh. Triệu chứng: nhức đầu, đau họng, nổi mận, mắt đỏ, nhức mỏi cơ bắp thịt, mệt mỏi, tiêu chảy ra máu, sốt cao, ói ra máu, đau tức ngực, sốc, xuất huyết, tử vong.
- Sốt xuất huyết - Dengue fever và Dengue hemorrhagic fever do vi khuẩn Dengue họ Flaviviridae, được phát hiện vào năm 1950 tại Phi luật tân và Thái lan. Lây nhiễm qua muỗi có nhiều chấm trắng "Aedes aegypti hay Aedes albopictus". Bịnh hiện lan tràn khắp 100 quốc gia từ Phi châu, đông nam Á, đông Úc, Nam Mỹ,...

HIV viết tắt của Human Immunodeficiency Virus - Vi khuẩn làm suy giảm miễn dịch của con người. Vi khuẩn xuất xứ từ Phi Châu.
Người bị nhiễm vi khuẩn HIV nếu không được điều trị (thường là sau vài năm) sẽ dẫn tới phát bịnh AIDS.
Vi khuẩn được phát hiện hơn 30 năm trước đây (1983), đến nay 2015 có khoảng 39 triệu người mất mạng vì nó, theo thông tin của GHO - Global Health Observatory - Viện quan sát sức khoẻ toàn cầu.
Ước tính, trên thế giới hiện có khoảng 78 triệu người bị nhiễm vi khuẩn HIV, 2/3 số người bị nhiễm HIV hiện sống tại Phi Châu.

Emtricitabine và Tenofovir desoporxil hai chất thuốc kháng vi khuẩn kết hợp lại, được sử dụng để điều trị cho người bị nhiễm Si-đa rất có hiệu quả vì thuốc có thể ức chế được sự sinh sản, lan tràn của vi khuẩn HIV trong cơ thể.

Những cuộc thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành từ năm 2004 ở một số trung tâm trên toàn thế giới.
Hôm thứ năm 10 tháng năm 2012, ủy ban FDA đã phê duyệt và cho phép Truvada (thương hiệu của viên thuốc) được sản xuất. Thuốc dùng để ngừa cho những người tiếp cận thường xuyên với người bịnh HIV và phối hợp với những thuốc khác để điều trị cho người bị nhiễm vi khuẩn Si-Đa trên toàn nước Mỹ.
Những người có nguy cơ bị nhiễm Si-Đa dùng thuốc với tác dụng ngăn chận vi khuẩn.

Tuy vậy, thuốc có thể gây ra một số tác dụng phụ như: làm cho người dùng nó bị ói mửa, chóng mặt, tiêu chảy, biếng ăn, suy gan, suy thận, loảng xương, làm rối loạn lượng đường trong máu. Vì vậy sự điều trị phải được bác sĩ theo dỏi và phối hợp với những thuốc khác để ngăn ngừa các tác dụng phụ nguy hiểm nêu trên. Thuốc không được dùng ở phụ nữ đang mang thai, cho con bú, và người lớn hơn 65 tuổi và nhỏ hơn 18 tuổi, những người bị bịnh tiểu đường, bịnh về gan, thận hoặc dị ứng với một số thuốc.
Hiện tại, điều trị bằng thuốc này còn rất mắc, khoảng 15 000 $ /năm.

AIDS viết tắt của Acquired Immune Deficency Syndrome - Hợp chứng suy giảm miễn dịch, là sự kết hợp của các triệu chứng phá hủy hệ thống miễn dịch, bịnh do vi khuẩn HIV gây ra.

Nấm có cấu trúc như vi trùng, có kích cở lớn hơn vi trùng (đường kính 10 đến 30 µm), là vi sinh vật đa bào (eukaryote), tế bào của nấm không có thành, nhưng có hạt nhân chứa thông tin di truyền, sinh sản nguyên phân - tế bào con phát sinh bằng cách nảy chồi.
Nấm có thể sống trong nhiệt độ từ 0°C đến 60°C, phát triển tốt nhứt trong môi trường ấm từ 20°C đến 28°C và ẩm ướt, ở đó chúng hình thành sợi và đan với nhau thành mảng nấm / khuẩn ty thể (mycelium).
Trên da, thông qua đường khí quản, trong bộ phận sinh dục, trong miệng, dạ dày và ruột thường bị nhiễm nấm.
Nấm mốc có khả năng tiết ra độc tố cực kỳ độc hại, chất gây ung thư phổi, thận, gan được gọi là "độc tố nấm mốc" (mycotoxin).
Nấm không nhạy cảm với thuốc kháng sinh. Một hệ thống miễn dịch tốt có thể bảo vệ cho cơ thể tiêu diệt nấm. Nấm có loại sợ Muối, có loại sợ 3 thứ này hợp lại: Dấm, tinh dầu cây Tràm trà và rượu Cỏ thi, dân gian dùng trị nấm ngoài da và nấm ở cửa mình của phụ nữ, thoa, pha nước rửa hoặc đắp lên chổ bị nấm.
Tuy vậy, không phải loại nấm nào cũng có hại cho con người... loại hữu ích như Penicillium notatum; Penicillium chrysogenum; Streptomyces kanamyceticus; Penicillium camemberti; Penicillium roquefortii; Saccharomyces cerevisiae; Rhizomucor miehei;... là những loại nấm có trong thực phẩm hoặc diệt được vi trùng.

*FDA hay USFDA viết tắt của United States Food and Drug Administration - Cơ quan phê duyệt Thực phẩm và Dược phẩm của Hoa kỳ.
*mycotoxin
myco: tiếng Hy lạp mukos - Nấm - fungus.
toxin: tiếng La tinh toxicum - Chất độc - poison.
*Cây Tràm trà tên tiếng Anh: tea tree; tên khoa học Melaleuca alternifolia. 
*Cỏ thi tên tiếng Anh yarrow; tên khoa học Achillea millefolium; tên khác: Dương kỳ thảo, cỏ mộc. Cách ngâm rượu: Cỏ thi hái lá, thân và bông, phơi khô cắt nhỏ như làm trà, cho vào chai thủy tinh đầy khoảng 1/2 chai. Cho rượu nồng độ cao (30Vol%) vào đầy chai. Đậy nắp chai thật kín, ngâm trong vòng 2 đến 6 tuần ở chổ ấm. Ngâm càng lâu thì rượu thuốc càng đậm... Sau thời gian ngâm, lọc rượu thuốc qua vải lược hay giấy lược café, cho sang chai thủy tinh màu (xanh hay nâu), đậy nắp chai thật kín, để chai ở chổ mát, tối.
Rượu Cỏ thi còn là thần dược cho phụ nữ đau bụng khi có kinh, có tác dụng giảm đau, giảm co thắt... ngày hai lần mỗi lần 1 đến 3 muỗng café rượu thuốc, uống với nước ấm... Muốn tìm hiểu thêm về Cỏ thi thì vào đây...

                                                     Coi Thêm

Kim Bạch Kim 鉑 Thơ Đường Luật Chuyện ngắn sáng tác Chuyện vui Đố vui Phong Thủy Tin Tức

Danh Mục kimlong9999.blogspot.com

Lịch ngày Ta Phong Thủy 3 Toa Thuốc, Rượu Bổ Dương: Thốc Kê Hoàn, Thần Tiên Tửu, Thung dung Xà Sàng Tửu Trúng Số Độc Đắc Khui Luôn Jackpot Lời Than Theo Gió Nấu Ăn Kiều đoạn cuối Đố vui Video Hài Architecture Tình Sử Huyền Trân Chế Mân Tên Giang Hồ Tóm Tắt Nội Dung Một Số Phim Hay herald sun news Phim List Nhạc Việt newsweek Vị Trí Mụt Ruồi và Tướng Số Thơ Sưu Tầm Truyện Kiều đoạn đầu abc news daily mail news Tin Tức - Kiến Thức Đàn Ông Thua Chó Chuyện Vui Máy Mắt Đoán Điềm Chuyện Ngắn Kim Bạch Kim Đoạn Trường Tương Tư Anh Hùng Việt English Số Đề Korea Music Nguyễn An Kiến Trúc Sư Tài Ba Xây Tử Cấm Thành Trung Quốc Đọc và Suy Ngẫm cnn news Đồng tình luyến ái của các Hoàng đế trong lịch sử tàu Trăng thề vườn Thúy ** Phận Kiều ♥ Đường Luật Kim Bạch Kim ♥ Chung Một Mái Nhà Đoán Số Mệnh Pha Lê & Thủy Tinh Tiếng Việt Nam Bắc Con Gái Ba Miền Bắc Trung Nam Truyền Thuyết Quỳnh Hương Phụ Nữ Việt Nam Đáng Được Khâm Phục Những Món Ăn Kinh Khủng Nhứt Thế Giới Ý Nghĩa của Kim Bạch Kim - khác biệt giữa Vàng - Vàng Trắng - Bạch Kim Quang Trung Nguyễn Huệ Đại Phá Quân Thanh Cúm Heo Thuốc Ngừa và Thuốc Trị Vi Khuẩn H1N1 Tri Kỷ Chơi Cờ Uống Rượu Ý Nghĩa của Biểu tượng chính thức trang http://kimlong9999..blogspot.com Nguyệt Đùa Bạn Heo Vài Món Ăn Đặc Biệt Miền Nam - Trung - Bắc Việt Nam 21.12.2012 Ngày Tận Thế? Kim Cương & Hột Xoàn

Popular Posts

this is a Non-Profit non-commercial website Trang không vụ lợi không buôn bán Không Quảng Cáo