Wednesday, March 14, 2012

☯ Cung Phi - Bảng Cung Phi Bát Trạch - Cách Tính Cung Phi Bát Tự ☯

Xem tuổi vợ chồng, bạn bè, hùng hạp làm ăn v.v. dựa vào 3 điểm chính
1. Thập Nhị Chi: Tuổi, gồm 12 tuổi Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, v.v.
2. Ngũ Hành: Mệnh, gồm Kim, Hỏa, Thủy, Mộc, Thổ
3. Cung: mỗi tuổi có 2 cung: Cung Chính và Cung Phụ.
- Cung chính gọi là cung sinh
- Cung phụ gọi là cung phi.
Cùng tuổi thì Nam và Nữ có cung sinh giống nhau nhưng cung phi khác nhau.
Xem qua là biết ngay vợ chồng có khắc kỵ nhau hay không đọc thêm bên dưới cùng: Ngũ Hành Phối Hợp và Khắc Kỵ trong hôn nhân! Nguyên tắc khái quát: Đông mạng (Đông Trạch) lấy Tây mạng (Tây Trạch) thì không hợp (vào đây nghiên cứu thêm).

* Chú ý:
Sinh mệnh và Cung Phi mệnh là hai hành khác nhau (Phi có nghĩa là chạy đi, dời đi). Cung Phi mệnh của nam và nữ cũng khác nhau. Chỉ có một số rất ít người nam và nữ có Cung Phi mệnh giống nhau thí dụ: nam và nữ sanh năm Kỷ Mùi 1979 Sinh mệnh cung Tốn/ hành Hỏa; Cung Phi mệnh nam nữ đều là cung Chấn/ hành Mộc!

Cung Phi mệnh lại chia ra làm hai loại: Cung Phi Bát Trạch và Cung Phi Bát Tự.
Trong phong thủy, bói toán, khi nói đến Cung Phi mệnh người ta ám chỉ Cung Phi Bát Trạch.

Cung Phi Bát Tự hay Bát Tự Phi Cung chỉ dùng để coi duy nhứt cho hôn nhân tác hợp. Nhưng đây cũng chỉ là phần phụ thêm vào thôi. Có nghĩa là: nếu Bát Trạch tốt, Bát Tự cũng tốt thì hôn nhân sẽ nhiều phần chắc là tốt, còn nếu hai bên đều xấu thì có thể suy ra là xấu. Nhưng cũng nên cân nhắc, phối hợp, xem xét kỹ lại những yếu tố khác, không nên quá tiêu cực. Nên nhớ chọn vợ, lấy chồng thì cái ĐỨC là quan trọng trên hết, người ăn ở thất đức thì cho dù có giàu sang tột bực cũng chỉ là tạm bợ, tai họa, bịnh hoạn sẳn sàng chờ chực để ập tới.
Và nên ghi nhớ là coi bói là để đoán thiên cơ rồi tìm cách giảm bớt cái xấu nếu duyên trời ban rơi vào xấu, chứ không phải cha mẹ bỏ tiền của ra coi bói thầy bói phán "xấu" thì ép con cái mình cải trời mà từ duyên. Trong trường hợp này, con cái phải thuyết phục cha mẹ:
1/ Trong quá khứ đã làm điều gì trái ý trời nên con cái phải mang quả báo, nay lại tiếp tục cải trời ngăn cản duyên của con thì chưa gì đã thấy tội nghiệp chồng chất, bất hạnh cho duyên nợ con cái đã thấy trước mắt "nhãn tiền".
2/ Yêu nhau thì cưới. Can đảm đi con đường trước mắt, từng bước từng bước một. Biết trời ban duyên xấu thì khi gây cấn trong vợ chồng, lấy tình thương mà làm thuận lại với nhau, vì cặp vợ chồng nào dám nói là không bao giờ có gây cấn trong gia đình.
3/ Khi không thể sống với nhau được nữa thì chia tay, trên đời không yêu nhau nữa đâu phải là hiếm. Do đó cho thấy chuyện hợp tan còn tùy thuộc rất nhiều yếu tố khác, chứ không phải tùy theo lời thầy bói nói.
Chuyện thiên định thì chỉ có trời mới biết, bói chỉ là mò trong nước đục, có người mò hay có người mò đại vì chỉ nhắm vào túi tiền hơi đâu mà tin 100%, đem duyên số của mình cho người dưng định đoạt.
4/ Hai vợ chồng lo tích ĐỨC vì xưa nay có câu "Đức năng thắng được Số. Tích Đức thành Thiện". Những gì không nắm bắt được thì phải lấy những gì không mắm bắt được hóa giải. Đức ở đây là từ trong tâm ra, lòng thiện tâm, bát ái, lòng tốt. Xem thêm câu chuyện trên mạng về truyền thuyết: Bao công: "Ninh hành ác vật hành thiện: thà làm điều ác còn hơn làm điều thiện" nói về chuyện cậu bé què sau còn bị mù và còn bị sét đánh chết = một đời trả hết nghiệp thay cho ba đời.
Tùy theo duyên mà tích Đức, đại khái như: một ly nước cho người đang khát là đã tích được một chút Đức. Tiền thay vì cho chùa thì có thể quyên nhiều thêm để xây một cây cầu khi mắt nhìn thấy cầu đang mụt rã, xây một ngôi trường làng ở quê của mình, làm cái bàn cái ghế cho trường làng nghèo, giúp người già cô đơn, thấy người làm điều ác điềi trái thì không nhắm mắt bịt tai mà phải ngăn cản hoặc không tham gia hoặc khuyên lơn một tiếng, làm cho xã hội một chút tốt đẹp hơn, v.v.. Tâm ác như ăn thịt chó, thấy người hoặc thú đau khổ, đau đớn mà lòng dửng dưng, hối lộ rồi trong tâm áy náy đem tiền của cho thầy chùa, cho ăn mày để mong "mua" lòng trời thì đồng tiền bay đi mà họa vẫn là họa.
Cách Tính Cung Phi Bát Tự
Đặc điểm của Cung Phi Bát Tự là cung của phụ nữ giống y như cung bên Cung Phi Bát Trạch, không thay đổi, không có gì khác biệt (xem bảng tra mệnh hoặc cách tính Cung Phi Bát Trạch bên dưới).
Tìm được Cung Phi Bát Tự của nữ rồi thì suy ra Cung Phi Bát Tự của người nam.
Nhớ (Hậu Thiên Bát Quái): Nhứt Khảm; Nhì Khôn; Tam Chấn; Tứ Tốn; Ngũ Trung (nam Khôn, nữ Cấn); Lục Càn; Thất Đoài; Bát Cấn; Cửu Ly.
Cung Phi Bát Tự - cách tính thứ nhứt:
Nếu Cung Phi Bát Tự/Bát Trạch của người nữ lớn hơn hay bằng 3 thì lấy 12 trừ ra.
Nếu Cung Phi Bát Tự/Bát Trạch của người nữ nhỏ hơn 3 thì lấy 3 trừ ra.
Thí dụ 1: Cung Phi Bát Tự/Bát Trạch của người nữ sanh năm 1979 là Chấn (tam Chấn = 3), thì Cung Phi Bát Tự của nam là 12 - 3 = 9 (hay xem bảng nam/nữ) cửu Ly
Thí dụ 2: Nữ sanh 1986 Cung Phi Bát Tự/Bát Trạch là Khảm (nhứt Khảm =1); lấy 3 - 1 = 2 nam Cung Phi Bát Tự là nhị Khôn.
Cung Phi Bát Tự - cách tính thứ hai:
Nếu đã có số Cung Phi Bát Trạch của nam (xem cách tính bên dưới) thì lấy số đó trừ đi 3. Được số bằng 0 thì dùng 9; được số nhỏ hơn 0 tức số âm thì cộng thêm 9. Được 5 thì Cung Phi Bát Tự của người nam này là (ngũ) Khôn.
Thí dụ: theo cách tính Cung Phi Bát Trạch của người nam sanh 1979 ở dưới thì được số 3.
3-3=0 dùng số 9 (cửu) Ly chính là Cung Phi Bát Tự của người nam sanh năm này.
- Còn Cung Phi Bát Tự của người nữ sanh năm 1979 cũng chính là Cung Phi Bát Trạch của người nữ, tức là Chấn.
Cung Phi Bát Tự - cách tính thứ ba:
xem đối chiếu sau đây cho người nam (vì người nữ thì hai bên Bát Trạch và Bát Tự giống nhau)
Cung Phi Bát Trạch : Cung Phi Bát Tự
Khảm : Đoài
 Khôn : Cấn
Chấn : Ly
Tốn : Khảm
còn nam mạng thuộc Ngũ trung cung thì hai bên
Khôn : Khôn
Càn : Chấn
Đoài : Tốn
Cấn : Khôn
Ly : Càn

Cung Phi Bát Trạch hay Bát Trạch Phi Cung bao gồm nhiều khía cạnh nên quan trọng hơn. Thường được dùng để xem hai tuổi thành hôn tốt xấu, sanh trai hợp hay gái hợp, hướng nhà đúng sai, sử dụng nhiều mặt trong phong thủy.

Cách Tính Cung Phi Bát Trạch
Cung Phi Bát Trạch - cách tính thứ nhứt:
Nhớ (Hậu Thiên Bát Quái): Nhứt Khảm; Nhì Khôn; Tam Chấn; Tứ Tốn; Ngũ Trung (nam Khôn, nữ Cấn); Lục Càn; Thất Đoài; Bát Cấn; Cửu Ly.
Tính Cung Phi Bát Trạch của người nam trước. Cộng số của năm sanh lại cho đến khi còn 1 số, sau đó lấy 11 trừ. Nếu trừ ra số 0 thì dùng 9. Số lớn hơn 9 thì trừ cho 9, nếu là số 5 thì Cung Phi Bát Trạch của nam là Khôn.
Tính Cung Phi Bát Trạch của người nữ thì lấy số 15 trừ số Cung Phi của nam, số lớn hơn 9 thì trừ đi 9, số 0 thì dùng 9, số 5 thì Cung Phi Bát Trạch của người nữ là Cấn.
Thí dụ người nữ sanh 1979:
Phải tính Cung Phi của nam trước 1+9+7+9=26; cộng lại còn 1 số 2+6=8. Lấy 11-8=3. Vậy Cung Phi Bát Trạch người nam sanh 1979 sẽ là (tam) Chấn.
Sau đó tính cho nữ: 15-3=12; 12 lớn hơn 9 nên 12-9=3. Vậy Cung Phi Bát Trạch của người nữ sẽ là (tam) Chấn.

Cung Phi Bát Trạch - cách tính thứ hai:
Cộng các số của năm sanh trừ đi 9, cộng sao cho kết quả là 1 đến 9. Sau đó tra bảng dưới đây.
Thí dụ: sanh năm 1979 => bỏ đi 1 số 9 => 1+7=8+9=17=>1+7=8 vậy tra bảng được nam sanh năm 1979 có cung phi bát trạch là Chấn, nữ sanh năm 1979 có cung phi bát trạch (và cả cung phi bát tự) cũng là Chấn.
Thí dụ tiếp tục: sanh năm 2000, vì không có số 9 nên khỏi bỏ. Vậy được số 2. Tức là nam sanh năm 2000 thì cung phi bát trạch Ly, gái sanh 2000 bát trạch và bát tự là Càn.
Thí dụ 3: sanh năm 2009, bỏ đi 1 số 9. Vậy còn lại số 2, nam bát trạch Ly, nữ bát trạch và bát tự Càn.

*Chú ý: tính cách này là theo năm dương lịch, nhưng nếu ngày sanh trước tết Ta, thì phải tính năm trước đó.
Thí dụ sanh ngày 6 tháng 2 dương lịch năm 1997 tức là ngày 29 tết năm Bính Tý thì phải tính là năm 1996, tức là theo cách tính này thì 1996 (bỏ đi 1 số 9) => 1+9=10=>1+0=1+6=7, theo bảng dưới thì con trai bát trạch Tốn, con gái bát trạch (bát tự) Khôn.
hoặc dùng cách thứ ba, tra bảng có sẳn:
Bảng Tra Mệnh theo Cung Phi Bát Trạch (đã tính sẵn)
Phương hướng tốt/xấu 
Cung Phi Khảm
Đông Thiên Y - Tây Họa hại
Nam Phước đức - Bắc Phục vị
Đông Bắc Ngũ quỷ - Tây Nam Tuyệt mạng
Tây Bắc Lục sát - Đông Nam Sinh khí

Cung Phi Khôn:
Đông Họa hại  - Tây Thiên Y 
Nam Lục sát  - Bắc Tuyệt mạng
Đông Bắc Sinh khí - Tây Nam Phục vị 
Tây Bắc Phước đức - Đông Nam Ngũ quỷ

Cung Phi Chấn:
Đông Phục vị - Tây Tuyệt mạng
Nam Sinh khí - Bắc Thiên Y
Đông Bắc Lục sát - Tây Nam Họa hại
Tây Bắc Ngũ quỷ - Đông Nam Phước đức

Cung Phi Tốn:
Đông Phước đức - Tây Lục sát
Nam Thiên Y - Bắc Sinh khí
Đông Bắc Tuyệt mạng - Tây Nam Ngũ quỷ
Tây Bắc Họa hại - Đông Nam Phục vị

Cung Phi Càn:
Đông Ngũ quỷ - Tây Sinh khí
Nam Tuyệt mạng - Bắc Lục sát
Đông Bắc Thiên Y - Tây Nam Phước đức
Tây Bắc Phục vị - Đông Nam Họa hại

Cung Phi Đoài
Đông Tuyệt mạng - Tây Phục vị
Nam Ngũ quỷ - Bắc Họa hại
Đông Bắc Phước đức - Tây Nam Thiên Y
Tây Bắc Sinh khí - Đông Nam Lục sát

Cung Phi Cấn:
Đông Lục sát   - Tây Phước đức
Nam Họa hại  - Bắc Ngũ quỷ
Đông Bắc Phục vị  - Tây Nam Sinh khí
Tây Bắc Thiên Y - Đông Nam Tuyệt mạng

Cung Phi Ly:
Đông Sinh khí - Tây Ngũ quỷ
Nam Phục vị - Bắc Phước đức
Đông Bắc Họa hại - Tây Nam Lục sát
Tây Bắc Tuyệt mạng - Đông Nam Thiên Y

Ngoài ra còn dựa vào thiên can của chồng và tuổi của vợ để đoán thêm.
Thiên can 
là 10 can gồm có: Giáp, Ất, Bính Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

Xét về Tuổi
Lục Hợp là 6 cặp tuổi hợp nhau: Tý Sửu hợp; Dần Hợi hợp; Mẹo Tuất hợp; Thìn Dậu hợp; Tỵ Thân hợp; Ngọ Mùi hợp.
Tam hợp: Cặp 3 tuổi hợp với nhau Thân Tý Thìn; Dần Ngọ Tuất; Hợi Mẹo Mùi; Tỵ Dậu Sửu.

Lục Xung là 6 cặp tuổi xung khắc nhau: Tý xung Ngọ; Sửu xung Mùi; Dần xung Thân; Mẹo xung Dậu; Thìn xung Tuất; Tỵ xung Hợi.
Lục Hại 6 cặp tuổi hại nhau tức là không tốt khi ăn ở, buôn bán, ...: Tý hại Mùi; Sửu hại Ngọ; Dần hại Tỵ; Mẹo hại Thìn; Thân hại Hợi; Dậu hại Tuất.

Vợ chồng cùng tuổi thì hợp. Có câu: "Vợ chồng cùng tuổi, ăn rồi nằm duỗi".
Hai tuổi khắc nhau cũng có thể sống chung với nhau được nếu như Mệnh và Cung hòa hợp nhau.
*****
Xét về Mệnh
Nên nhớ nguyên tắc này cho Mệnh: Tuổi chồng khắc vợ thì thuận; Tuổi vợ khắc chồng thì nghịch (xấu). Thí dụ: vợ Mệnh Thủy lấy chồng Mệnh Hỏa thì xấu, nhưng chồng Mệnh Thủy lấy vợ Mệnh Hỏa thì được, vì Thủy khắc Hỏa nhưng Hỏa không khắc Thủy mà Hỏa lại khắc Kim.

Ngũ hành tương sinh (tốt): Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hỏa; Hỏa sinh Thổ; Thổ sinh Kim.
Có nghĩa là chồng Mệnh Thủy lấy vợ Mệnh Mộc thì tốt, vợ được nhờ vì Thủy sinh Mộc. Vợ mệnh Hỏa lấy chồng Mệnh Thổ thì chồng được nhờ vì Hỏa sinh Thổ.

Ngũ hành tương khắc (xấu): Kim khắc Mộc; Mộc khắc Thổ; Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim.
Thí dụ: vợ Mệnh Kim lấy chồng Mệnh Mộc thì không tốt, nhưng chồng Mệnh Kim lấy vợ Mệnh Mộc thì được.
*****
Xét về Cung
Mỗi tuổi có một cung khác nhau. Nam và Nữ có Cung Sinh giống nhau, còn Cung Phi thì khác nhau.
Đinh Tỵ (1977) Mệnh Thổ, cung phi hành nữ Thủy, nam Thổ. Cung sinh: Khôn; cung phi: Khôn (Nam); Khảm (Nữ)
Mậu Ngọ (1978) Mệnh Hỏa, cph nữ Thổ, nam Mộc. Cung sinh: Chấn; cung phi: Tốn (Nam); Khôn (Nữ)
Kỷ Mùi (1979) Mệnh Hỏa, cph nữ Mộc, nam Mộc. Cung sinh: Tốn; cung phi: Chấn (Nam); Chấn (Nữ)
Canh Thân (1980) Mệnh Mộc, cph nữ Mộc, nam Thổ. Cung sinh: Khôn; cung phi: Khôn (Nam); Tốn (Nữ)
Tân Dậu (1981) Mệnh Mộc, cph nữ Thổ, nam Thuỷ. Cung sinh: Càn; cung phi: Khảm (Nam); Cấn (Nữ)
Nhâm Tuất (1982) Mệnh Thủy, cung sinh: Đoài; cung phi: Ly (Nam); Càn (Nữ)
Quý Hợi (1983) Mệnh Thủy, cung sinh: Cấn; cung phi: Cấn (Nam); Đoài (Nữ)
Giáp Tý (1984) Mệnh Kim, cung sinh: Chấn; cung phi: Đoài (Nam); Cấn (Nữ)
Ất Sửu (1985) Mệnh Kim, cung sinh: Tốn; cung phi: Càn (Nam); Ly (Nữ)
Bính Dần (1986) Mệnh Hỏa, cung sinh: Khảm; cung phi: Khôn (Nam); Khảm (Nữ)
Đinh Mẹo (1987) Mệnh Hỏa, cung sinh: Càn; cung phi: Tốn (Nam); Khôn (Nữ)

Muốn biết hai cung có xung khắc với nhau hay không thì nên biết 8 cung tốt xấu:
Nhóm nói về điềm tốt: Sinh khí, Diên niên (Phước đức), Thiên y, Phục vị (Qui hồn).
Nhóm nói về điềm xấu: Ngũ quỷ (Giao chiến), Lục sát (Du hồn), Họa hại (Tuyệt thế), Tuyệt mệnh.
Muốn biết chi tiết về các hướng: Sinh khí, Diên niên/Phước đức, Thiên y, v.v. vào đây nghiên cứu.

8 cung biến hóa
chú thích: 
* Càn-Đoài có nghĩa là người nam cung Phi Bát Trạch Càn lấy vợ cung Đoài.
* Bát trạch minh cảnh là bản dịch từ sách của tàu do ông Thái Kim Oanh đãm nhiệm. Cung Đoài và Ly của Việt và tàu hoán đổi vị trí của nhau. Nên ai tin truyền thống của Việt nam thì đừng chú ý đến Bát trạch minh cảnh ở trong ngoặc. 
Cung Phi Bát Trạch (nam)
1. Càn-Đoài: sinh khí, tốt; Càn-Chấn: ngũ quỷ, xấu; Càn-Khôn: diên niên (phước đức), tốt; Càn-Khảm: lục sát (du hồn), xấu; Càn-Tốn: họa hại (tuyệt thế), xấu; Càn-Cấn: thiên y, tốt; Càn-Ly: tuyệt mệnh, xấu; Càn-Càn: phục vị (qui hồn), tốt.
2. Khảm-Tốn: sinh khí, tốt; Khảm-Cấn: ngũ quỷ, xấu; Khảm-Ly: diên niên (phước đức), tốt / (theo như sách Bát Trạch Minh Cảnh xem chú thích ở trên): họa hại (tuyệt thế), xấu; Khảm-Càn: lục sát (du hồn), xấu; Khảm-Đoài: họa hại (tuyệt thế), xấu / (theo như sách Bát Trạch Minh Cảnh xem chú thích ở trên): diên niên (phước đức), tốt; Khảm-Chấn: thiên y, tốt; Khảm-Khôn: tuyệt mệnh, xấu; Khảm-Khảm: phục vị (qui hồn), tốt.
3. Cấn-Khôn: sinh khí, tốt; Cấn-Khảm: ngũ quỷ, xấu; Cấn-Đoài: diên niên (phước đức), tốt; Cấn-Chấn: lục sát (du hồn), xấu; Cấn-Ly: họa hại (tuyệt thế), xấu; Cấn-Càn: Thiên y, tốt; Cấn-Tốn: tuyệt mệnh, xấu; Cấn-Cấn: phục vị (qui hồn), tốt.
4. Chấn-Ly: sinh khí, tốt; Chấn-Càn: ngũ quỷ, xấu / (theo như sách Bát Trạch Minh Cảnh xem chú thích ở trên): lục sát (du hồn), xấu; Chấn-Tốn: diên niên (phước đức), tốt; Chấn-Cấn: lục sát (du hồn) / (theo như sách Bát Trạch Minh Cảnh): ngũ quỷ, xấu; Chấn-Khôn: họa hại (tuyệt thế), xấu; Chấn-Khảm: Thiên y, tốt; Chấn-Đoài: tuyệt mệnh, xấu; Chấn-Chấn: phục vị (qui hồn), tốt.
5. Tốn-Khảm: sinh khí, tốt; Tốn-Khôn: ngũ quỷ, xấu; Tốn-Chấn: diên niên (phước đức), tốt; Tốn-Đoài: lục sát (du hồn), xấu; Tốn-Càn: họa hại (tuyệt thế), xấu; Tốn-Ly: Thiên y, tốt; Tốn-Cấn: tuyệt mệnh, xấu; Tốn-Tốn: phục vị (qui hồn), tốt.
6. Ly-Chấn: sinh khí, tốt; Ly-Đoài: ngũ quỷ, xấu; Ly-Khảm: diên niên (phước đức), tốt; Ly-Khôn: lục sát (du hồn), xấu; Ly-Cấn: họa hại (tuyệt thế), xấu; Ly-Tốn: Thiên y, tốt; Ly-Càn: tuyệt mệnh, xấu; Ly-Ly: phục vị (qui hồn), tốt.
7. Khôn-Cấn: sinh khí, tốt; Khôn-Tốn: ngũ quỷ, xấu; Khôn-Càn: diên niên (phước đức), tốt; Khôn-Ly: lục sát (du hồn), xấu; Khôn-Chấn: họa hại (tuyệt thế), xấu; Khôn-Đoài: Thiên y, tốt; Khôn-Khảm: tuyệt mệnh, xấu; Khôn-Khôn: phục vị (qui hồn), tốt.
8. Đoài-Càn: sinh khí, tốt; Đoài-Ly: ngũ quỷ, xấu; Đoài-Cấn: diên niên (phước đức), tốt; Đoài-Tốn: lục sát (du hồn), xấu; Đoài-Khảm: họa hại (tuyệt thế), xấu; Đoài-Khôn: Thiên y, tốt; Đoài-Chấn: tuyệt mệnh, xấu; Đoài-Đoài: phục vị (qui hồn), tốt.

Cung Phi Bát Tự (nam)
(xem phụ vào, và chỉ dùng để xem cho việc hôn nhân)
1. Càn-Đoài: sinh khí, tốt; Càn-Chấn: thiên y, tốt; Càn-Khôn: họa hại (tuyệt thế), xấu; Càn-Khảm: lục sát (du hồn), xấu; Càn-Tốn: ngũ quỷ, xấu; Càn-Cấn: diên niên (phước đức), tốt; Càn-Ly: tuyệt mệnh, xấu; Càn-Càn: phục vị (qui hồn), tốt.
2. Khảm-Càn: lục sát (du hồn), xấu; Khảm-Khảm: phục vị (qui hồn), tốt; Khảm-Cấn: thiên y, tốt; Khảm-Chấn: diên niên (phước đức), tốt; Khảm-Tốn: sinh khí, tốt;  Khảm-Ly: họa hại (tuyệt thế), xấu; Khảm-Khôn: tuyệt mệnh, xấu; Khảm-Đoài: ngũ quỷ, xấu.
3. Cấn-Khôn: sinh khí, tốt; Cấn-Khảm: Thiên y, tốt; Cấn-Đoài: họa hại (tuyệt thế), xấu; Cấn-Chấn: lục sát (du hồn), xấu; Cấn-Ly: ngũ quỷ, xấu; Cấn-Càn: diên niên (phước đức), tốt; Cấn-Tốn: tuyệt mệnh, xấu; Cấn-Cấn: phục vị (qui hồn), tốt.
4. Chấn-Ly: sinh khí, tốt; Chấn-Càn: Thiên y, tốt; Chấn-Tốn: họa hại (tuyệt thế), xấu; Chấn-Cấn: lục sát (du hồn), xấu; Chấn-Khôn: ngũ quỷ, xấu; Chấn-Khảm: diên niên (phước đức), tốt; Chấn-Đoài: tuyệt mệnh, xấu; Chấn-Chấn: phục vị (qui hồn), tốt.
5. Tốn-Khảm: sinh khí, tốt; Tốn-Khôn: Thiên y, tốt; Tốn-Chấn: họa hại (tuyệt thế), xấu; Tốn-Đoài: lục sát (du hồn), xấu; Tốn-Càn: ngũ quỷ, xấu; Tốn-Ly: diên niên (phước đức), tốt; Tốn-Cấn: tuyệt mệnh, xấu; Tốn-Tốn: phục vị (qui hồn), tốt.
6. Ly-Chấn: sinh khí, tốt; Ly-Đoài: Thiên y, tốt; Ly-Khảm: họa hại (tuyệt thế), xấu; Ly-Khôn: lục sát (du hồn), xấu; Ly-Cấn: ngũ quỷ, xấu; Ly-Tốn: diên niên (phước đức), tốt; Ly-Càn: tuyệt mệnh, xấu; Ly-Ly: phục vị (qui hồn), tốt.
7. Khôn-Cấn: sinh khí, tốt; Khôn-Tốn: Thiên y, tốt; Khôn-Càn: họa hại (tuyệt thế), xấu; Khôn-Ly: lục sát (du hồn), xấu; Khôn-Chấn: ngũ quỷ, xấu; Khôn-Đoài: diên niên (phước đức), tốt; Khôn-Khảm: tuyệt mệnh, xấu; Khôn-Khôn: phục vị (qui hồn), tốt.
8. Đoài-Càn: sinh khí, tốt; Đoài-Ly: Thiên y, tốt; Đoài-Cấn: họa hại (tuyệt thế), xấu; Đoài-Tốn: lục sát (du hồn), xấu; Đoài-Khảm: ngũ quỷ, xấu; Đoài-Khôn: diên niên (phước đức), tốt; Đoài-Chấn: tuyệt mệnh, xấu; Đoài-Đoài: phục vị (qui hồn), tốt.

* Tuyệt thế là xấu vì tuyệt là đoạn tuyệt tình ta, tình người.

Phối hợp hai Cung Phi Bát Trạch (nam) và Bát Tự (nam) cưới vợ Phi Cung rồi xem hôn nhân tốt/xấu: 
Thiên y, Sinh khí hai vì,
Được hai cung ấy vậy thì sống lâu.
Tuyệt mạng thì hẳn lo âu,
Nhược bằng ai cãi lấy nhau không bền.
La bồn (Lục sát, Du hồn), Tuyệt thế còn nên,
Bán hung, bán kiết vầy duyên tầm thường.
Ngũ quỷ thì ta phải nhường,
Vợ chồng nghịch ý đau thương đêm ngày.
Phước đức giàu sang ai tày,
Hiệp cung Phục vị cũng được bực trung.
Bát Trạch : Bát Tự = suy ra nhận xét
Diên niên (Phước đức) : Diên niên (Phước đức) =  được 10 phần tốt, thượng kiết
Diên niên (Phước đức) : Thiên y =  được 10 phần tốt, thượng kiết
Diên niên (Phước đức) :  Họa hại (Tuyệt thế) =  được 7 phần tốt, trung kiết
Diên niên (Phước đức) :  Ngũ quỷ = được 7 phần tốt, trung kiết
Diên niên (Phước đức) :  Lục sát (Du hồn) = được 7 phần tốt, trung kiết
Diên niên (Phước đức) :  Tuyệt mệnh = được 4 phần tốt, hạ kiết

Họa hại (Tuyệt thế) : Phục vị (Qui hồn) =  được 6 phần tốt, trung kiết
Họa hại (Tuyệt thế) : Diên niên (Phước đức) =  được 6 phần tốt, trung kiết
Họa hại (Tuyệt thế) : Sinh Khí =  được 6 phần tốt, trung kiết
Họa hại (Tuyệt thế) : Lục sát (Du hồn) = không tốt không xấu, hạ kiết *
Họa hại (Tuyệt thế) : Họa hại (Tuyệt thế) = không tốt không xấu *
 Họa hại (Tuyệt thế) : Ngũ quỷ = bị thứ hung, xấu vừa 

* không tốt không xấu: có nghĩa là bán hung, bán kiết; nữa như vầy, nữa như khác; lềnh bềnh chính giữa. Hợp duyên với nhau thì chỉ được ở mức tầm thường. 
Duyên do lững lờ ở giữa, cho nên cặp vợ chồng này nếu muốn sống đời với nhau thì suốt năm suốt tháng phải hết sức nhường nhịn nhau, nhứt là trong những năm xung khắc với tuổi. 
Phải hết sức chú ý đến những điều kiên kỵ khi mới "bắt đầu" cuộc hôn nhân... Xem phần bên dưới "Đàn ông / Đàn bà không nên lấy vợ / lấy chồng khi nào?".

Lục sát (Du hồn) : Diên niên (Phước đức) = được 8 phần tốt, trung kiết
Lục sát (Du hồn) : Sinh Khí = được 7 phần tốt, trung kiết
Lục sát (Du hồn) : Phục vị (Qui hồn) = được 5 phần tốt, hạ kiết
Lục sát (Du hồn) : Ngũ quỷ = thứ hung, xấu vừa
Lục sát (Du hồn) :  Họa hại (Tuyệt thế) = không tốt không xấu *
Lục sát (Du hồn) :  Lục sát (Du hồn) = không tốt không xấu *
Lục sát (Du hồn) :  Ngũ quỷ = bị thứ hung, xấu vừa

Ngũ quỷ : Diên niên (Phước đức) = được 6 phần tốt, trung kiết
Ngũ quỷ : Thiên y = được 6 phần tốt, trung kiết
Ngũ quỷ :  Sinh Khí = được 5 phần tốt, hạ kiết
Ngũ quỷ : Phục vị (Qui hồn) = được 5 phần tốt, hạ kiết
Ngũ quỷ : Họa hại (Tuyệt thế) = bị thứ hung, xấu vừa
Ngũ quỷ :  Tuyệt mệnh = đại hung (rất xấu)

Phục vị (Qui hồn) : Sinh Khí = được 9 phần tốt, thượng kiết
Phục vị (Qui hồn) : Thiên y = được 9 phần tốt, thượng kiết
Phục vị (Qui hồn) : Phục vị (Qui hồn) =  được 7 phần tốt, trung kiết
Phục vị (Qui hồn) : Lục sát (Du hồn) = được 6 phần tốt, trung kiết
Phục vị (Qui hồn) : Ngũ quỷ = được 3 phần tốt, thứ hung
Phục vị (Qui hồn) : Tuyệt mệnh = bị thứ hung, xấu vừa

Sinh khí : Sinh khí =  được 10 phần tốt, thượng kiết
Sinh khí : Thiên y =  được 10 phần tốt, thượng kiết
Sinh khí : Phục vị (Qui hồn) =  được 9 phần tốt, thượng kiết
Sinh khí : Lục sát (Du hồn) =  được 7 phần tốt, trung kiết
Sinh khí : Ngũ quỷ =  được 7 phần tốt, trung kiết
Sinh khí : Tuyệt mệnh =  được 5 phần tốt, hạ kiết

Thiên y : Thiên y = được 10 phần tốt, thượng kiết
Thiên y : Diên niên (Phước đức) = được 10 phần tốt, thượng kiết
Thiên y : Lục sát (Du hồn) = được 8 phần tốt, trung kiết
Thiên y : Ngũ quỷ = được 7 phần tốt, trung kiết
Thiên y : Họa hại (Tuyệt thế) = được 6 phần tốt, trung kiết
Thiên y : Tuyệt mệnh = được 3 phần tốt, hạ kiết

Tuyệt mệnh :  Diên niên (Phước đức) = được 3 phần tốt, hạ kiết
Tuyệt mệnh : Thiên y =  được 4 phần tốt, hạ kiết
Tuyệt mệnh : Sinh khí =  được 4 phần tốt, hạ kiết
Tuyệt mệnh : Phục vị (Qui hồn) = bị thứ hung, xấu vừa
Tuyệt mệnh : Họa hại (Tuyệt thế) = đại hung
Tuyệt mệnh : Tuyệt mệnh = đại hung

Bát San Giao Hợp
(trích trong quyển: Bát Trạch Minh Cảnh)
Cung Càn
Trai cung Càn lấy gái cung Càn (phục vị)
Lưỡng Càn phục vị tốt vừa thôi
Sợ lúc tuổi già chẳng đủ đôi
Con cháu trung bình không bao phát
Ruộng vườn nhà cửa lập hai nơi.

Bậc trung được số giàu sang tuổi già
Vợ chồng bạch thủ thanh gia
Trung niên gầy dựng cửa nhà yên vui.

Trai cung Càn lấy gái cung Khảm (lục sát)
Luồng thủy triều nguyên phước đức sinh
Chăn nuôi lục sát nghiệp không thành
Dâu hiền rể thảo nên khoa cử
Thôn ấp ngợi khen lộc sẵn thành

Lục sát phạm ắt phu thê buồn thảm
Kim cải dở dang nửa đởi
Duyên nợ đổi đời tương tư ly tán.

Trai cung Càn lấy gái cung Cấn (thiên y)
Cung vị trường sinh được hợp hòa
Giàu sang nhờ cậy ở tay bà
Chứa nhiều phúc đức cho con cháu
Sung sướng cùng nhau đến tuổi già.

May mắn cuộc đời vượng tài phấn chấn
Tình yêu lửa đượm hương nồng
Rể thảo, dâu hiền an nhàn hậu vận.

Trai cung Càn lấy gái cung Chấn (ngũ quỷ)
Khẩu thiệt giao tranh có đấu tranh
Vợ chồng ngũ quỷ họa tương sinh
Cửa nhà ruộng đất rồi tiêu sạch
Tử biệt sinh ly khó tạo thành.

Trước sau bất tường nợ duyên lận đận
Tâm ý chồng vợ không hòa
Khiến nên sinh kế quanh năm túng quẩn.

Trai cung Càn lấy gái cung Tốn (họa hại)
Càn Tốn hai cung khắc rõ ràng
Cưỡng cầu kết hợp thế sao an
Nếu không họa hại liên miên đến
Cũng sẽ chia ly người một đi.

Trước hợp sau lìa vô cùng khốn đốn
Con cái trưởng thành cút côi
Hình ngục oan khiến vợ chồng thương tổn.

Trai cung Càn lấy gái cung Đoài (sanh khí)
Vàng thoi, vàng khối lại sinh vàng
Phúc lộc diên niên tuổi thọ khang
Con cháu nên danh hưng tổ nghiệp
Càn, Đoài phối hợp chắc giàu sang.

Êm ấm gia đạo trong ngoài yên vui
Nợ duyên gắn bó trọn đời
Thê vinh tứ quí số người giàu sang.

Trai cung Càn lấy gái cung Ly (tuyệt mệnh)
Càn, Ly tuyệt mạng ở sao yên
Sinh nở nguy nan lắm lụy phiền
Tử biệt sinh ly như đợi sẵn
Khó nghèo, đắc thọ, phú quy thiên.

Nợ duyên cầm chắc sầu bi khóc thầm
Ái ân lỡ nhịp sắc cầm
Mới hay căn kiếp số phần hẩm hiu.

Trai cung Càn lấy gái cung Khôn (diên niên)
Thiên địa càn khôn hợp một nhà
Vân hành san khí phát tam đa
Nhiều tài, nhiều lộc, nhiều con cái
Phát đạt giàu sang thẳng đến già.

Được số phước đức trường tồn ấm no
Tài lộc như nước tràn vô
Cửa nhà đồ sộ quy mô ruộng vườn.

***
Cung Khảm
Trai cung Khảm lấy gái cung Khảm (phục vị)
Lưỡng Khảm trùng cung cũng tạm nhàn
Cưới nhau sớm phải chịu trùng tang
Nếu bằng biệt lập xa cha mẹ
Cháu con rồi sau cũng có đàn.

Bình thường cuộc sống nợ duyên êm ấm
Gia đạo tiền định an bài
Một đời keo sơn áo cơm no ấm.

Trai cung Khảm lấy gái cung Ly (họa hại)
Khảm, Ly thủy hỏa chớ nên gần
Phước đức dẫu nhiều cũng cách phân
Nếu số xa quê mà gặp gỡ
Cũng cho là tạm sống thanh bần.

Ấm êm bỗng chốc tai ách buộc ràng
Số phần chồng vợ đeo mang
Suốt đời khổ hận sầu than đêm ngày.

Trai cung Khảm lấy gái cung Cấn (ngũ quỷ)
Cấn, Khảm hình tương số định rồi
Lấy nhau chỉ để lụy nhau thôi
Cửa nhà xơ xác thân cơ cực
Ngũ quỷ đeo theo cứ báo đời.

Giàu có mấy lần rồi cũng phá sản
Duyên nợ ắt phải lỡ làng
Con cái lớn lên đàn điếm du đãng.

Trai cung Khảm lấy gái cung Khôn (tuyệt mệnh)
Khảm, Khôn tuyệt mệnh biết làm sao
Dẫu bị oan gia tự thuở nào
Kết hợp cũng thành sinh tử biệt
Cháu con nối bước xuống âm tào.

Lo âu mắc phải dồn dập ốm đau
Tiền bạc hết, biệt ly sầu
Không chồng thì vợ cũng vào cõi âm.

Trai cung Khảm lấy vợ cung Chấn (thiên y)
Nước gặp gió to dậy sóng lên
Thiên y Chấn, Khảm số làm nên
Cháu con đông đúc tài miên thạch
Hoè quế y quan rực trước thềm.

Quan lộc uy quyền đời sống sung mãn
Thế vinh tử quý rõ ràng
Duyên nợ vợ chồng da mồi tóc bạc.

Trai cung Khảm lấy vợ cung Đoài (diên niên)
Thủy, Kim phối ngẫu hợp tương sinh
Trường thọ diên niên số đã dành
Cháu con hiền hiếu nên danh phận
Vườn, ruộng, chăn nuôi bại hóa thành.

Thủy chung như nhứt ai bì phong lưu
Vợ chồng có số sang giàu
Hưởng của phụ ẩm trước sau an nhàn.

Trai cung Khảm lấy vợ cung Tốn (sinh khí)
Khảm, Tốn nên duyên phước lớn thay
Thiên y, quan lộc hưởng lâu dài
Cửa nhà khang lệ, chăn nuôi vượng
Con cái thông minh đủ trí tài.

Mạng thọ duyên bền sống vui yên ổn
Số không sang nhưng no lành
Gia đạo hòa thuận con cái giỏi.

Trai cung Khảm lấy vợ cung Càn (lục sát)
Đăng hỏa Khảm, Càn số nghịch sinh
Lương duyên phú quý sớm nên danh
Có điều trai phải nhường cung vợ
Nể mặt nhau cho mọi sự lành.

Tang thương từ thuở hai đàn hiệp hôn
Buồn cho duyên nợ long đong
Bất hòa tâm lý vợ chồng đảo điên.

***
Cung Cấn
Trai cung Cấn lấy gái cung Cấn (phục vị)
Duyên hòa lưỡng Cấn thật gian nan
Một khúc tương tư mấy nhịp đàn
Nghèo khổ gần nhau, giàu cách trở
Xa quê hòa hiệp số thanh nhàn.

Số được vui hưởng thê hòa phu thuận
Phong lưu nhàn hạ bậc trung
Một đời ái tình nợ duyên an phận.

Trai cung Cấn lấy gái cung Tốn (tuyệt mệnh)
Hai cung tuyệt mệnh chớ nên gần
Cưỡng ép rồi sau họa hại thân
Bịnh hoạn liên miên tiền của sạch
Chồng bên núi Sở vợ sông Tần.

Căn phần khó tránh tang tóc tổn thương
Trong hai chắc mất một người
Tử biệt đừng mong tìm phương chạy trốn.

Trai cung Cấn lấy gái cung Chấn (lục sát)
Lục sát tương hình kết lứa đôi
Công danh sự nghiệp nước mây trời
Mẹ cha, con cháu đều suy bại
Khốn khổ bi ai suốt cuộc đời.

Sản nghiệp sẵn sàng lần hồi tẩu tán
Phu phụ tâm lý nghịch thường
Trước sau hạnh phúc gia đình hư nát.

Trai cung Cấn lấy gái cung Ly (họa hại)
Cấn, Ly phước đức vốn tương sinh
Phối hợp hòa vui sự nghiệp thành
Nhà cửa khang trang, vườn đất rộng
Cháu con hiền hiếu lập nên danh.

Bất tường tai ách sầu bi gia đình
Yêu đương một tấm chân tình
Cũng chưa được đôi mình sánh đôi.

Trai cung Cấn lấy gái cung Khôn (sinh khí)
Cây khô gặp lửa gọi tương sinh
Sớm gặp bại suy, muộn mới thành
Sinh khí tuy nhiều nhưng phải chậm
Cháu con rồi cũng có uy danh.

Sống đời loan phụng phước tồn hậu lai
Quan lộc có hươởg hoạch tài
Nhà cao cửa rộng quyền uy vô cùng.

Trai cung Cấn lấy gái cung Đoài (diên niên)
Cấn, Đoài số thấy được diên niên
Chồng mộc vợ kim khắc ưu phiền
Giàu có ắt là cam hiếm muộn
Gặp nhau xa xứ mới là yên.

Đẹp duyên cá nước tiền tài hưng vượng
Số này thời vận đáng mừng
Nhiều con, nhiều của bậc trung thanh nhàn.

Trai cung Cấn lấy gái cung Càn (thiên y)
Thủy năng dưỡng mộc vợ nuôi chồng
Bởi mệnh cùng cao bà hiếp ông
Con cháu đầy nhà nhờ phước đức
Rể hiền, dâu thảo rạng gia phong.

Phu thê dẫu có nghèo nàn không lo
Trung niên được của trời cho
Hậu vận sung mãn quy mô ruộng vườn.

Trai cung Cấn lấy gái cung Khảm (ngũ quỷ)
Cấn, Khảm giao hòa sự khó hòa
Biến hình ngũ quỷ họa không xa
Tuy sinh mà khắc vì phương vị
Cháu con suy vì hại thất gia.

Duyên nợ nữa đời chuốc nhiều ảm đạm
Số ắt dời đổi hai lần
Nếu không thì phải lâm vòng hoạn nạn.

***
Cung Chấn
Trai cung Chấn lấy gái cung Chấn (phục vị)
Rừng cao gió mạnh vụt ào ào
Hoa trái tơi bời cành lá hao
Lập nghiệp gian nan mới đạt chí
Phước lành cũng được hưởng về sau.

Trong tình duyên nợ, tiền hậu như nhứt
Có số no ấm cả đời
Gia đạo yên vui trên hòa dưới thuận.

Trai cung Chấn lấy gái cung Khảm (thiên y)
Chấn, Khảm thiên y ấy lộc trời
Cậy nhờ nước tưới lá hoa tươi
Cháu con thông tuệ đề khoa bảng
Lộc hưởng vinh sang phúc để đời.

Trăm tuổi phu thê tình nghĩa nồng thấm
Vinh hiển thụ hưởng vững bền
Rể thảo dâu hiền cả nhà êm ấm.

Trai cung Chấn lấy gái cung Tốn (diên niên)
Mộc, hỏa tương sinh nhưng nghịch thường
Cung chồng kém vợ phải chịu nhường
Dầu cho cách trở rồi sau hợp
Con cháu diên niên phước thọ trường.

Trung niên hậu vận sang giàu hưởng trọn
Cuộc tình bền vững mặn nồng
Sanh trai đầu lòng trưởng thành quan lớn.

Trai cung Chấn lấy gái cung Khôn (họa hại)
Chấn, Khôn họa hại khó hòa duyên
Mộc, thổ tương hiềm lắm lụy phiền
Nhà cửa, ruộng vườn có cũng hết
Cháu con đau ốm khổ liên miên.

Nợ duyên khốn đốn dập dồn oan thiên
Trong ngoài thất thế đảo điên
Tai ương bịnh tật dính liền bên lưng.

Trai cung Chấn lấy gái cung Ly (sinh khí)
Chấn, Ly sinh khí được giao hòa
Phát đạt giàu sang rạng thất gia
Con cháu lâu bền danh vọng lớn
Tương lai thơm nức tiếng tăm nhà.

Hiệp hôn quan hệ trọn đời thủy chung
Mạng phú quý, cháu con hùng
Lớn lên số ắt phước hồng quyền uy.

Trai cung Chấn lấy gái cung Càn (lục sát)
Chấn, Càn lục sát họa đeo dày
Chồng vợ bất hòa lắm đắng cay
Nếu được giàu sang thì cách trở
Gần nhau lệ đổ suốt canh dài.

Có số phu thê âm thầm tủi hận
Gia đạo lục đục bất hòa
Đời sống cơ hàn, con cái lận đận.

Trai cung Chấn lấy gái cung Đoài (tuyệt mệnh)
Chấn, Đoài tuyệt mạng khó gần nhau
Mộc khắc kim thường biết nói sao
Nếu đã lỡ mà đeo khổ lụy
Cháu con hoạn nạn lại xa nhau.

Duyên nợ trước sau thiệt thòi lứa đôi
Vợ chồng không ở trọn đời
Cháu con bất lợi, cút côi lụy phiền.

Trai cung Chấn lấy gái cung Cấn (ngũ quỷ)
Chấn, Cấn kết duyên ngũ quỷ sinh
Cửa nhà sự nghiệp lập sao thành
Cháu con bịnh tật, tài hao tán
Chồng vợ khổ sầu lệ trắng canh.

Gia đình xáo trộn điêu tàn lửa hương
Nửa chừng xuân mộng thê lương
Uyên ương bỏ gánh cang thường từ đây.

***
Cung Tốn
Trai cung Tốn lấy gái cung Tốn (phục vị)
Hai Tốn yêu nhau hóa hại nhau
Gần nhau thì chịu số thương đau
Cửa nhà thiếu hụt con đau bịnh
Gần khó xa ra mới được giàu.

Bình thường đời sống, thân danh tốt
Ba sinh duyên đẹp tình nồng
Sự nghiệp tử tôn tấn tài vượng lộc.

Trai cung Tốn lấy gái cung Chấn (diên niên)
Phước đức cũng nhờ ở tổ tông
Tốn, Chấn phối hợp đẹp mây rồng
Cửa nhà thịnh vượng con cháu quý
Đại phú do thiên tiểu phú cần.

Được số phú quí trọn đời an phận
Tiền bạc điền sản thặng dư
Duyên nợ vợ chồng trăm năm viên mãn

Trai cung Tốn lấy gái cung Khôn (ngũ quỷ)
Ngũ quỷ hình tượng ám ảnh hoài
Rốt rồi nam bắc cũng chia tay
Nếu còn vương vấn dây con cái
Cũng phải bôn ba đến xứ ngoài.

Sanh cơ khốn đốn bôn chôn cũng hoài
Nợ duyên vốn đã an bài
Trung niên ắt phải đổi thay cuộc tình.

Trai cung Tốn lấy gái cung Khảm (sinh khí)
Sinh khí xa xa thấy rạng rồi
Vợ chồng duyên số tự nơi trời
Cửa nhà rạng rỡ công danh đẹp
Con cháu vinh sang nối nghiệp đời.

Tiền định phu thê hiệp vầy duyên thắm
Tài lộc phát vượng huy hoàng
Con cái lớn lên sống đời nhung gấm.

Trai cung Tốn lấy gái cung Càn (họa hại)
Tốn, Càn thủy hỏa khó yên thân
Họa hại thường sinh biết mấy lần
Nhà cửa lạnh lùng tiền của hết
Cháu con thôi cũng chịu cơ bần.

Yêu đương tác hợp buồn than đêm ngày
Triền miên tai ách không hay
Nợ duyên sầu muộn đắng cay cuộc đời.

Trai cung Tốn lấy gái cung Ly (thiên y)
Tốn, Ly phối ngẫu vốn tương hòa
Cưới hỏi ba năm rạng cửa nhà
Con cháu học hành đều đỗ đạt
Rạng danh nhờ lập nghiệp phương xa.

Mạng trường, thân thế ai bì được đâu
Uy quyền tiền bạc bền lâu
Nợ duyên hạnh hưởng sang giàu trăm năm.

Trai cung Tốn lấy gái cung Cấn (tuyệt mệnh)
Số ghi tuyệt mệnh khó nên duyên
Đeo đẳng càng sinh nỗi lụy phiền
Buồn khổ lại thêm nhiều hoạn nạn
Con cháu vất vả có đâu yên.

Chưa chung gối chăn ái tình thỏa mãn
Số góa lẻ mạng khó toàn
Duyên nợ đôi đàng rã rời ân hận.

Trai cung Tốn lấy gái cung Đoài (lục sát)
Số sao cay đắng cực thân mình
Lục sát tương xung phạm khắc hình
Nhà cửa, ruộng vườn, tiền của sạch
Cháu con cơ cực, lắm lênh đênh.

Hiệp hôn đã thấy đeo đai khổ phiền
Cửa nhà sa sút ngửa nghiêng
Gây điều đổi nợ thay duyên phũ phàng.

***
Cung Ly
Trai cung Ly lấy gái cung Ly (phục vị)
Lưỡng Ly chưa hợp thấy mòi suy
Hai hỏa gặp nhau tắt có khi
Nghèo khó bên nhau, giàu tử biệt
Vợ chồng đôi ngả, con phân ly.

Ái tình, hương lửa trọn đời thủy chung
Tiền bạc giàu có bậc trung
Thân, danh hậu vận lẫy lừng tiếng thơm.

Trai cung Ly lấy gái cung Càn (tuyệt mệnh)
Ly, Càn thủy hỏa chớ nên gần
Phận mỏng thà cam chịu rẽ phân
Nếu được cùng nhau đầu tóc bạc
Cháu con nghèo khó mạng cơ hàn.

Nợ duyên gãy gánh giữa đàng thảm thương
Cho hay cái số đoạn trường
Lụy phiền ly tán bất tường phu thê.

Trai cung Ly lấy gái cung Khảm (diên niên)
Chung thủy triều nguyên phước đức sanh
Đường hoàng hoa lệ đẹp gia đình
Cháu con hiển đạt nên danh phận
Đại phú do thiên, tiểu phú cần.

Được số hiển đạt phu vinh thê ấm
Tình yêu hương lửa mặn nồng
Tương lai con cái trưởng thành khoa bảng.

Trai cung Ly lấy gái cung Cấn (họa hại)
Hai người khắc phá khó nên duyên
Họa hại buồn thương lắm lụy phiền
Bịnh hoạn triền miên tiền của sạch
Cháu con nghèo khó lại không hiền.

Tiền hậu phu thê thủy chung bất nhứt
Sống đời tật ách đeo mang
Vợ chồng đa đoan thiệt thòi thân phận.

Trai cung Ly lấy gái cung Chấn (sanh khí)
Sanh khí một vầng ánh sáng tươi
Đẹp duyên cầm sắt số do trời
Cửa nhà cao rộng con hiền hiếu
Lộc thọ vinh sang phước hưởng đời.

Ý hợp tâm đầu làm nên gia thất
Trọn đời nhàn hạ phong lưu
Trung niên, hậu vận thành công mọi bề.

Trai cung Ly lấy gái cung Tốn (thiên y)
Trai Ly gái Tốn số trời dành
Sớm muộn rồi đây cũng rạng danh
Con cháu nhờ ơn cha mẹ để
Vinh sang phước lộc thuở ngày xanh.

Căn mạng nợ duyên trời cho yên ổn
Cả đời ấm cúng giàu sang
Con cái gái trai vẹn toàn căn bổn.

Trai cung Ly lấy gái cung Khôn (lục sát)
Một giải ngân hà đã trải ra
Vì phương lục sát khó giao hòa
Chăn nuôi, vườn ruộng không nên nghiệp
Gặp gỡ xa quê tạm gọi là.

Kiết hung luân chuyển dập dồn âu lo
Trai sa đọa, gái lẳng lơ
Trước sau rồi cũng hững hờ nợ duyên.

Trai cung Ly lấy gái cung Đoài (ngũ quỷ)
Hai ngôi ngũ quỷ khắc xung hình
Gặp gỡ sau, sao cũng phát sinh
Tang tóc mẹ cha sầu tử tức
Mỗi người một ngả hận ly tình.

Tiền bạc bạo phát nhưng hoài công lao
Nửa đời căn kiếp ba đào
Cửa nhà điền sản tiêu hao không còn.

***
Cung Khôn
Trai cung Khôn lấy gái cung Khôn (phục vị)
Tai nạn liên miên, khổ dập dồn
Nếu tình duyên kết Khôn với Khôn
Công danh sự nghiệp mòn con mắt
Kẻ ở, người đi cách nước non.

Keo sơn gắn bó cháu con vẹn toàn
Trung niên mấy lượt thăng trầm
Hậu vận phú quý trăm phần phong lưu.

Trai cung Khôn lấy gái cung Càn (diên niên)
Diên niên ấy phước lộc miên trường
Con cháu lâu dài hướng thọ xương
Dựng nghiệp chuyên cần lại tính thiện
Trai hiền, rể hiếu rạng gia tiên.

Hay duyên phải nợ tiền căn định phần
Bổn mạng lại có quý nhân
Được số phú quý vinh thân an nhàn.

Trai cung Khôn lấy gái cung Khảm (tuyệt mệnh)
Khảm, Khôn số khắc khó nên duyên
Nếu giàu thì yểu, khó nghèo yên
Cháu con vất vả thân đa bịnh
Gia đạo suy vì lắm lụy phiền.

Căn phần duyên nợ chuốc lấy sầu thảm
Số phải dở dang nửa đời
Chồng vợ hai người đổi dời ly tán.

Trai cung Khôn lấy gái cung Cấn (sinh khí)
Phải chịu gian nan, cực buổi đầu
Ba năm nghĩ cũng chẳng bao lâu
Sau này phước lộc trời cho đó
Nhà cửa vinh quang lọ phải cầu.

Sinh cơ mọi bề thời hưng phấn chấn
Gia đạo trước sau hòa thuận
Thừa thãi trong ngoài ruộng vườn điền sản.

Trai cung Khôn lấy gái cung Chấn (họa hại)
Họa hại trùng trùng kéo tới đây
Chấn, Khôn khó hợp nợ duyên này
Sống lâu thêm khổ, sầu ly biệt
Con cháu vô can bị vạ lây.

Không hình ngục thì cũng bị bịnh tật
Duyên nợ lắm vấp buồn khổ
Đời sống lầm thang, sinh cơ chật vật.

Trai cung Khôn lấy gái cung Ly (lục sát)
Lục sát hình xung khó kết thành
Ngân hà trắng xóa nước mênh mông
Tha phương gặp gỡ còn nhàn hạ
Một xứ giao hòa, họa hại sinh.

Duyên nợ ắt chịu sầu bi tháng ngày
Đa truân hộ lụy nạn tai
Căn định lục hại tương lai mơ hồ.

Trai cung Khôn lấy gái cung Đoài (thiên y)
Thiên y kim, thổ lộc trời ban
Phước thọ miên trường con cháu sang
Ruộng vườn, nhà cửa đầy mỹ lệ
Trăm năm vui hưởng chữ bình an.
Mạng cường hưởng thọ, tài lộc bền lâu

Trai cung Khôn lấy gái cung Tốn (ngũ quỷ)
Hồi ở xa nhau, thương nhớ nhau
Gần nhau không cãi cũng sinh đau
Trong nhà ngũ quỷ năm phương dậy
Kết cuộc nhà xiêu, gió thổi nhào.

Cuộc đời vật chất số cực thiếu thốn
Duyên nợ lận đận nghịch thường
Con cái bất hòa lớn lên cùng khốn.

***
Cung Đoài
Trai cung Đoài lấy gái cung Đoài (phục vị)
Nhật lạc non Đoài sương sắp rơi
Gặp nhau rồi cũng cách đôi nơi
Nếu không khăn trắng trùm lên tóc
Thì khổ triền miên cả cuộc đời.

Bình thường thì cũng tiền tài bậc trung
Gia đình thân mạng thung dung
Trưởng thành con cháu đẹp lòng mẹ cha.

Trai cung Đoài lấy gái cung Càn (sanh khí)
Đoài, Càn phước đức lớn vô cùng
Kim thủy tương sinh được ở chung
Con cháu sau này thành đại nghiệp
Trai hiền, gái hiếu vẹn can tùng.

Hôn nhân bền vững lộc quan vượng tài
Sanh cơ vốn một lời hai
Lầu cao cửa rộng gái trai ngoan hiền.

Trai cung Đoài lấy gái cung Khảm (họa hại)
Đoài, Khảm họa hại mà tương sinh
Gặp nhau xa xứ chắc nên danh
Dẫu không phú quý, vinh hoa lớn
Cũng hưởng an khang, con cháu vinh.

Tai ương tật ách dồn dập thê thảm
Nửa đời thân phận sanh ly
Phu thê lâm vòng trái ngang lãnh đạm.

Trai cung Đoài lấy gái cung Cấn (diên niên)
Cháu quí, con vinh, phước đức nhân
Diên niên ấy phước tự trời ban
Đầu xanh yêu kính như đầu bạc
Không được giàu to cũng được sang.

Phụ ấm sẵn dành bề tài lợi tấn
Gia đạo thê tử êm ấm
Duyên nợ trọn đời lửa hương nồng thắm.

Trai cung Đoài lấy gái cung Chấn (tuyệt mệnh)
Mộc khắc kim thường quá rõ ràng
Chấn, Đoài tương hợp khó bình an
Nếu không nghèo khổ, nhiều đau bịnh
Ắt cũng chia ly người một đàng.

Chăn gối ái tình khó yên thân phận
Bỗn lụy phiền, duyên nợ lìa tan
Cầm bằng căn kiếp đa truân lận đận.

Trai cung Đoài lấy gái cung Tốn (lục sát)
Trái số nên không trọn nợ duyên
Hình xung lục sát ở sao yên
Công danh, tài lộc cầu không được
Tử biệt sinh ly con cháu phiền.

Xáo trộn gia đình sanh cơ khốn đốn
Con cái lớn nhỏ bất tường
Tình nghĩa lạt phai lăng loàn hỗn độn.

Trai cung Đoài lấy gái cung Ly (ngũ quỷ)
Mẹ cha tang tóc cháu con buồn
Ngũ quỷ phạm thì giọt lệ tuôn
Đa sinh bịnh tật, đa tai nạn
Vui ở, buồn bay, mỏng cánh chuồn.

Cố công cho mấy ra gì kiếp sanh
Nợ duyên như sợi chỉ mành
Thân danh sự nghiệp bất thành không sai.

Trai cung Đoài lấy gái cung Khôn (thiên y)
Trời dành cung số được thiên y
Hợp mặt đủ đầy có thiếu chi
Nhà cửa đường hoàng, vườn ruộng tốt
Cháu con vinh hiển mấy ai bì.

Một đàn thê tử vuông tròn giàu sang
Gia đình sau trước huy hoàng
Trung niên hậu vận rõ ràng nghiệp danh.

***
Giờ Âm Lịch theo tháng Âm Lịch:
Tháng 1 và tháng 9: từ 4:20 đến 6:19 là giờ Dần.
Tháng 2 và tháng 8: từ 3:40 đến 5:40 là giờ Dần.
Tháng 3 và tháng 7: từ 3:50 đến 5:50 là giờ Dần.
Tháng 4 và tháng 6: từ 4:00 đến 6:00 là giờ Dần.
Tháng 5: từ 4:10 đến 6:10 là giờ Dần.
Tháng 10 và tháng Chạp (tháng 12): từ 3:20 đến 5:20 là giờ Dần.
Tháng 11: từ 3:10 đến 5:10 là giờ Dần.
Biết giờ Dần rồi thì tính các giờ khác cách 2 tiếng là một giờ Âm Lịch. Ví dụ vào tháng 7 Âm Lịch từ 3:50 đến 5:50 là giờ Dần, thì giờ Mão từ 5:50 đến 7:50; còn giờ Sửu từ 1:50 đến 3:50
*****
Một thí dụ: Nữ tuổi Nhâm Tuất (1982) lấy Nam Mậu Ngọ (1978). Xét về Tuổi thì hợp với nhau vì 2 tuổi này thuộc nhóm Tam hợp. Xét về Mệnh: Mậu Ngọ mệnh Hỏa, Nhâm Tuất mệnh thủy. Xem phần ngũ hành thấy Thủy khắc Hỏa tức là mệnh vợ khắc chồng, vậy thì xấu. Xét về cung: Mậu Ngọ cung Chấn là cung chính, còn Nhâm Tuất cung chính là Đoài, xem 8 cung biến hóa thấy Chấn-Đoài là bị tuyệt Mệnh, quá xấu, không được. Lại xét cung phi để vớt vát xem có đỡ xấu hay không thì thấy Mậu Ngọ về Nam thì cung phi là Tốn, Nhâm Tuất cung phi của Nữ là Càn, theo 8 cung biến hóa thì Tốn-Càn bị họa hại (tuyệt thế). Như vậy trong 3 yếu tố, chỉ có hợp về tuổi, còn Mệnh và Cung thì quá xung khắc, quá xấu. Kết luận là có thể sẽ tan vỡ.
Hai tuổi này còn có thể kiểm lại bằng phép toán số của Cao Ly hàn quốc dựa vào thiên can và thập nhị chi, xem thêm bên dưới. Nam Mậu, Nữ Tuất bị ngũ Ly Biệt

Một ví dụ khác: Nữ Kỷ Mùi (1979) lấy Nam Mậu Ngọ (1978). Mậu Ngọ Mệnh Hỏa, cung chính Chấn, cung phi Tốn (Nam). Kỷ Mùi Mệnh Hỏa, cung sinh Tốn, cung phi Chấn (Nữ). Xét về tuổi hai tuổi hợp nhau vì thuộc Lục hợp. Xét về Mệnh, cả hai đều Mệnh Hỏa nên hợp nhau khỏi bàn. Xét về Cung sinh thì Chấn-Tốn được Diên niên (phước đức) là rất tốt. Thật ra chỉ cần 2 tốt thì hai tuổi lấy nhau là tốt rồi. Tóm lại, 2 tuổi này lấy nhau sống đến răng long đầu bạc. Tại sao lại quả quyết như vậy? Bởi vì, Nam Mậu, Nữ Mùi được tam Hiển Vinh.

Sự thành bại trong hôn nhân phụ thuộc chính vào những yếu tố như: phước đức mình tạo ra, phước đức cha mẹ để lại và phước đức con cái đem đến. Vì vậy những căn duyên hợp nhau tốt hay xấu cũng bị ảnh hưởng bởi phước đức, vợ chồng hợp lại được tốt, có thêm phước đức thì thêm tốt, thiếu phước đức thì bị giảm đi cái tốt. Vợ chồng hợp lại tuy bị xấu, nhưng nhờ có phước đức tích tụ thì sẽ giảm được cái xấu.

1/ Nhứt Phú quý: giàu sang, sống trong hạnh phúc, làm ăn phát đạt, chủ về tiền bạc tài chính.
2/ Nhì Bần tiện: nghèo hèn cơ cực hay thiếu thốn nhiều mặt.
3/ Tam Vinh hiển: tốt về quan chức, danh tiếng, quyền tước, chức phận.
4/ Tứ Đạt đạo: gia đạo hoà thuận êm ấm, quan chức hoặc làm ăn ở mức bình thường hoặc trên trung bình một chút, nếu có nhiều phước đức thì được thuận lợi nhiều mặt, quới nhơn trợ giúp.
5/ Ngũ Ly biệt: đau thương, chết yểu, lắm bận chia ly (con lìa cha mẹ, con cái bất hoà), là lìa sống lìa thác, duyên kiếp bẽ bàng, kẻ mất người còn, từ từ sanh nhiều gây cấn, trái ngang, thường bị đau bịnh hoặc mất sự êm ấm trong gia đình. Có câu: "Kỵ nhẹ lìa sống với nhau, kỵ nặng lìa thác sầu đau một mình." (nếu nhẹ thì chia tay, ly dị. Nếu nặng thì vợ chồng có người sống kẻ chết).
6/ Lục hào: ít con có nghĩa là chỉ có một đứa con hoặc phải xin con nuôi hoặc không con.
7/ Thất Tuyệt mạng, xấu nhứt, gặp tuyệt mạng thì tất có một người trong gia đình phải lìa đời. Chủ về chết chóc bi thương.

Toán số Cao Ly kết hợp Cung, Mệnh, Tuổi

* Nam Giáp-Kỷ lấy vợ tuổi
Tý, Ngọ được tam Hiển Vinh
Sửu, Mùi bị nhì Bần Tiện
Dần, Thân được nhất Phú Quý
Mão, Dậu bị ngũ Ly Biệt
Thìn, Tuất được tứ Đạt Đạo
Tỵ, Hợi được tam Hiển Vinh.

* Nam Ất-Canh lấy vợ tuổi
Tý, Ngọ bị nhì Bần Tiện
Sửu, Mùi được nhất Phú Quý
Dần, Thân bị ngũ Ly Biệt
Mão, Dậu được tứ Đạt Đạo
Thìn, Tuất được tam Hiển Vinh
Tỵ, Hợi bị nhì Bần Tiện.

* Nam Bính-Tân lấy vợ tuổi
Tý, Ngọ được nhất Phú Quý
Sửu, Mùi bị ngũ Ly Biệt
Dần, Thân được tứ Đạt Đạo
Mão, Dậu được tam Hiển Vinh
Thìn, Tuất bị nhì Bần Tiện
Tỵ, Hợi được nhất Phú Quý.

* Nam Đinh-Nhâm lấy vợ tuổi
Tý, Ngọ bị ngũ Ly Biệt
Sửu, Mùi được tứ Đạt Đạo
Dần, Thân được tam Hiển Vinh
Mão, Dậu bị nhì Bần Tiện
Thìn, Tuất được nhất Phú Quý
Tỵ, Hợi bị ngũ Ly Biệt.

* Nam Mậu-Quý lấy vợ tuổi
Tý, Ngọ được tứ Đạt Đạo
Sửu, Mùi được tam Hiển Vinh
Dần, Thân bị nhì Bần Tiện
Mão, Dậu được nhất Phú Quý
Thìn, Tuất bị ngũ Ly Biệt
Tỵ, Hợi được tứ Đạt Đạo.

Thí dụ: Nam tuổi Giáp Dần lấy vợ tuổi Thìn hay Tuất thì được Đạt Đạo.
* Hiển Vinh: vợ chồng được tam hiển vinh, thêm mạng vợ chồng được tốt, hưởng thêm phước đức cha mẹ. Thì có quyền tước cao sang, đặng danh bốn phương, nhiều người kính mến. Nếu được tam hiển vinh, mạng vợ chồng tốt, nhưng không hưởng được phước đức của cha mẹ đôi bên, thì cũng có danh giá chức tước nhưng chỉ hạng tầm thường, cũng có chút địa vị trong xã hội. Nếu được tam hiển vinh, nhưng số mạng cá nhân vợ chồng không tốt, không hưởng được phước đức, thì chỉ được tốt trong chuyện vợ chồng mà thôi sống với nhau đến răng long đầu bạc, ngoài xã hội không được danh giá, chỉ có chút ít tên tuổi với hàng xóm mà thôi.
* Đạt Đạo là gia đạo an vui.
* Bần tiện là nghèo khổ, bần hàn. Đây là nghĩa tương đối, có ý nói không khá được sau này, có thể 15 hay 20 năm sau mới ứng nghiệm. Bởi con nhà đại gia lấy con nhà đại gia thì dù có bị bần tiện thì cũng là đại gia, nhưng dần dần sẽ suy sụp không giữ được của cải lâu bền.
*****
Đàn ông không nên lấy vợ năm nào?
Đàn ông tuổi Tý kỵ lấy vợ năm Mùi. (Năm Mùi không nên lấy vợ)
tuổi Sửu kỵ năm Thân
tuổi Dần kỵ năm Dậu
tuổi Mẹo kỵ năm Tuất
tuổi Thìn kỵ năm Hợi
tuổi Tỵ kỵ năm Tý
tuổi Ngọ kỵ năm Sửu
tuổi Mùi kỵ năm Dần
tuổi Thân kỵ năm Mẹo
tuổi Dậu kỵ năm Thìn
tuổi Tuất kỵ năm Tỵ
tuổi Hợi kỵ năm Ngọ

Đàn bà không nên lấy chồng năm nào?
Đàn bà tuổi Tý kỵ lấy chồng năm Mẹo. (không nên đám cưới năm Mẹo)
tuổi Sửu kỵ năm Dần
tuổi Dần kỵ năm Sửu
tuổi Mẹo kỵ năm Tý
tuổi Thìn kỵ năm Hợi
tuổi Tỵ kỵ năm Tuất
tuổi Ngọ kỵ năm Dậu
tuổi Mùi kỵ năm Thân
tuổi Thân kỵ năm Mùi
tuổi Dậu kỵ năm Ngọ
tuổi Tuất kỵ năm Tỵ
tuổi Hợi kỵ năm Thìn
Thí dụ: Nam tuổi Tý thì lấy vợ năm nào cũng được, nhưng nên tránh làm đám cưới vào năm Mùi. Hoặc Nữ tuổi Thìn thì tránh đám cưới vào năm Hợi.

Ngũ Hành Phối Hợp và Khắc Kỵ trong hôn nhân!

- Kim - Kim: Vợ chồng cùng mạng Kim hóa thành hai kim lẫn lộn với nhau, sanh đẻ không thuận lợi, hay khẩu thiệt, tranh cải nhau, khó sống chung với nhau trọn đời, dễ dẫn đến sự ly dị.
- Chồng Kim vợ Mộc: kim, mộc khắc nhau. Tâm khổ, cơ hàn, vợ chồng hay phải xa nhau người nam kẻ bắc.

- Chồng Kim vợ Hỏa: hay cãi nhau sinh ra lục đục, cuộc sống khó khăn. Cửa nhà thanh bần.- Chồng Kim vợ Thủy: thiên duyên tác hợp, con cháu nhiều. Cơ nghiệp thịnh vượng.- Chồng Kim vợ Thổ: phu thê hòa hợp, con cháu đầy đàn. Cửa nhà vui vẽ, lục súc bình an.
- Chồng Mộc vợ Mộc: quan lộc tốt, con cháu đề huề. Vợ chồng hòa thuận.
- Chồng Mộc vợ Thủy: mộc, thủy tương sinh. Tài lộc thịnh vượng, con cháu nhiều. Vợ chồng bách niên giai lão.- Chồng Mộc vợ Hỏa: mộc hỏa tự nhiên hợp với nhau, con cháu nhiều, khá giã. Tài bạch vượng, quan lộc cũng vượng.- Chồng Mộc vợ Thổ: thổ, mộc tương sinh. Con cháu nhiều, nên người, đại quý.- Chồng Mộc vợ Kim: hai thứ khắc nhau. Trước hợp sau ly, con cháu bất lợi.
- Chồng Thủy vợ Thủy: hai thủy tuy không hay nhưng cũng khá, điền trạch an, có đầy tớ khá giỏi.- Chồng Thủy vợ Kim: kim, thủy sinh tài. Sung sướng đến già, con cháu khấm khá.- Chồng Thủy vợ Mộc: thủy, mộc nhân duyên bách niên giai lão, đầy tớ khá, con cháu nhiều.- Chồng Thủy vợ Hỏa: duyên tự nhiên thành, tuy xấu mà tốt, con cháu khá.- Chồng Thủy vợ Thổ: tướng hình khắc nhau, vui tẻ thất thường. Làm việc gì cũng gặp nhiều khó khăn.- Chồng Hỏa vợ Kim: Hỏa, Kim khắc nhau, hay cãi nhau và kiện tụng. Gia đình không yên.
- Chồng Hỏa vợ Mộc: Hỏa, Mộc hợp duyên. Thất gia hòa hợp, phúc lộc kiêm toàn.- Chồng Hỏa vợ Thủy: Thủy, Hỏa tương khắc, vợ chồng phân ly, con cháu bất lợi, gia đạo gian nguy.- Chồng Hỏa vợ Hỏa: hai Hỏa giúp nhau, nhiều khi hưng vượng, con cháu đầy đàn.- Chồng Hỏa vợ Thổ: Hỏa, Thổ hữu duyên, tài lộc sung túc. Con thảo, cháu hiền.
- Chồng Thổ vợ Kim: phu thê hòa hợp, con cháu thông minh. Tài lộc sung túc.- Chồng Thổ vợ Mộc: Thổ, Mộc bất trung, ắc có một hoặc cả hai ngoại tình. Vợ chồng phải phân ly, có một xuất ngoại hoặc đi xa kiếm cơm.- Chồng Thổ vợ Thủy: Thủy, Thổ tương khắc, trước hợp sau ly. Sinh kế bất lợi.- Chồng Thổ vợ Hỏa: Thổ, Hỏa đắc vị quan lộc dồi dào, con cháu đông đúc.- Chồng Thổ vợ Thổ: lưỡng Thổ tương sinh, trước khó sau dễ. Giàu có, đông con.

Xem tháng sanh Âm lịch Xung - Hợp của Nam - Nữ
(trong hôn nhân cũng như hùn hạp, làm ăn, buôn bán chung)
- Trai sanh tháng Giêng kỵ gái sanh tháng 4, tháng 7, tháng 10.
- Gái sanh tháng Giêng, tháng 7 thì kỵ trai sanh tháng 4, tháng 10.
- Trai sanh tháng 3 kỵ gái sanh tháng 3, tháng 6, tháng 9.
- Gái sanh tháng 2, tháng 8 thì kỵ trai sanh tháng 6, tháng 11.
- Trai sanh tháng 2 kỵ gái sanh tháng 5, tháng 11.
- Gái sanh tháng 3, tháng 9 thì kỵ trai sanh tháng 3, tháng 6, tháng Chạp.
- Trai sanh tháng 4 kỵ gái sanh tháng Giêng, tháng 7, tháng 11.
- Gái sanh tháng 4, tháng 10 thì kỵ trai sanh tháng Giêng, tháng 7.
- Trai sanh tháng 5 kỵ gái sanh tháng 8, tháng 11.
- Gái sanh tháng 5, tháng 11 thì kỵ trai sanh tháng 2, tháng 8.- Trai sanh tháng 6 kỵ gái sanh tháng 3, tháng 9, tháng 11.
- Gái sanh tháng 6, tháng Chạp thì kỵ trai sanh tháng 3, tháng 9.- Trai sanh tháng 7 kỵ gái sanh tháng 4, tháng 11.
- Trai sanh tháng 8 kỵ gái sanh tháng 2, tháng 5, tháng 11.- Trai sanh tháng 9 kỵ gái sanh tháng 3, tháng 6, tháng Chạp.- Trai sanh tháng 10 kỵ gái sanh tháng Giêng, tháng 4, tháng Chạp.- Trai sanh tháng 11 kỵ gái sanh tháng 3, tháng 6, tháng 9.

Can - Chi Giá Thú
- Con trai Giáp nên lấy vợ Kỷ, không nên lấy Canh.
- Con trai Ất
nên lấy vợ Canh, không nên lấy Tân.
- Con trai Bính nên lấy vợ Tân, không nên lấy Nhâm.
- Con trai Đinh nên lấy vợ Nhâm, không nên lấy Quý - Con trai Mậu nên lấy vợ Quý, không nên lấy Giáp.- Con trai Kỷ nên lấy vợ Giáp, không nên lấy Ất.- Con trai Canh nên lấy vợ Ất, không nên lấy Bính.- Con trai Tân nên lấy vợ Bính, không nên lấy Đinh.- Con trai Nhâm nên lấy vợ Đinh, không nên lấy Mậu.- Con trai Quý nên lấy vợ Mậu, không nên lấy Kỷ.

Tuổi lấy nhau không hợp
Tý không lấy Mão, Sửu không lấy Dần
Thìn không lấy Hợi, Tỵ không lấy Tuất
Mùi không lấy Thân, Ngọ không lấy Dậu

137 comments:

  1. Bạn Duong email cho mình: "Mong nho duoc giup do"
    mình gởi email trả lời, nhưng email cứ bị trả trở lại:

    "This is an automatically generated Delivery Status Notification.

    Delivery to the following recipients failed.
    ..."

    ReplyDelete
  2. em sinh ngay 17/09/1982, chong em sinh ngay 13/08/1977, con trai sinh ngay 04/06/2011, cho e hoi tuoi vo chong em co hop hay k, em dinh sinh them mot be vao nam 2014 hoac 2015, cho em hoi la nam nao tot hona. em cam on

    ReplyDelete
  3. CHO CHÁU HỎI " Có sách lại nói Cung chính (cung sinh) chỉ để xem số mạng không dùng để xem cho việc cưới gả, tác hợp" nếu dùng trong việc cưới gả, tạo tác là sai, gây hại cho người.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Sách nói như vậy là đúng rồi !

      Mỗi tuổi có 2 cung: Cung Chính và Cung Phụ.
      - Cung chính gọi là cung sinh mệnh, xem ở trang: "http://kimlong9999.blogspot.de/2010/01/luc-thap-hoa-giap-ngu-hanh.html"

      - Cung phụ gọi là cung phi, Cung Phi mệnh xem ở ngay trang này. Đọc kỹ ở đầu trang, tôi có giải thích ngắn nhưng rỏ.

      Delete
    2. a oi cho e hoi! e sinh nam 1983 va lay vo sinh nam 1990,thi hai tuoi nay co hop khong

      Delete
  4. Xin chào tác giả Kim Long,
    Tôi xin nhờ tư vấn việc như sau:
    Con trai tôi sinh 8.1.1981 (ăm lịch là tháng chạp Canh Thân), con dâu sinh ngày 10.2.1981 (Tân Dậu). Hiện có thai 7 tháng và sẽ sinh vào tháng giêng âm lịch Giáp Ngọ (siêu âm là con trai). Tôi rất lo vì mạng cha mẹ và con khắc nhau. Vậy làm thế nào để giải được sự xung khắc này. (Cháu họ Phan, mẹ họ Nguyễn)
    Xin chân thành cảm ơn.

    ReplyDelete
  5. cho em hỏi nữ sn 94(giáp tuất) va nam sn 95(ất hợi) có hợp nhau ko? theo bát trạch nhân duyên thì là lục sát(nữ chết trước) còn những cái còn lại thì là bình? vậy có đến được với nhau không ạ?

    ReplyDelete
  6. Xin cho cháu hỏi giữa so tuổi theo cung phi và cao ly đầu hình có mâu thuẫn thì ta ưu tiên kết quả nào ạ (cụ thể là trường hợp nam giáp tuất 1994 và nữ quý dậu 1993, so theo cung phi thì đc 8/10 phần tốt, còn theo cao ly đầu hình thì phạm ngũ biệt ly, như vậy 2 tuổi này hợp hay khắc)? Cháu xin chân thành cảm ơn.

    ReplyDelete
  7. ,cám ơn các bác ,các bác viết hay quá

    ReplyDelete
  8. Bạn cho mình hỏi về 2 cái Ví dụ 1) Nữ tuổi Nhâm Tuất (1982) lấy Nam Mậu Ngọ (1978), 2) Nữ Kỷ Mùi (1979) lấy Nam Mậu Ngọ (1978). Mình tính ra nhưng đáp án khác bạn. 1) thì nữ Càn thuộc Kim, nam Tốn thuộc Mộc, 2) nữ Chấn thuộc Mộc, nam Tốn cũng thuộc Mộc. Đáp án mình tính giống bảng Cung Phi Bát Trạch Mình bối rối nhất là lúc quy ra ngũ hành, mong bạn chỉ giáo cho mình. Thanks bạn trước nha !!

    ReplyDelete
  9. Các đoạn có 2 ý đối nghịch nhau thế này thì nên hiểu thế nào ạ, ví dụ:
    Trai cung Cấn lấy gái cung Đoài (diên niên)
    Cấn, Đoài số thấy được diên niên
    Chồng mộc vợ kim khắc ưu phiền
    Giàu có ắt là cam hiếm muộn
    Gặp nhau xa xứ mới là yên.

    Đẹp duyên cá nước tiền tài hưng vượng
    Số này thời vận đáng mừng
    Nhiều con, nhiều của bậc trung thanh nhàn.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Theo tôi thấy không đối nghịch, vì Diên niên (chỉ là) đệ tam cát tinh, diên niên có nghĩa là lâu dài chứ đâu phải là không mắc phải ưu phiền vì mộc và kim vốn là như vậy. Số này càng giàu thì ắt phải hiếm muộn hoặc có con cũng khó nuôi. Nhiều con thì tiền của chỉ đạt được hạng trung lưu.
      Nói chung, hai vợ chồng đạt được số hơn trung bình một chút.
      Nhưng không nhằm số xấu là được rồi, đúng không?

      Delete
  10. Anh cho em hỏi, phần ví dụ anh dùng cung sanh và phi cung bát trạch để xem nhưng phần viết cách xem lại dùng phi cung bát trạch và bát tự, vậy có mâu thuẫn ko? xin cám ơn.

    ReplyDelete
  11. Cho mình hỏi, Nam Nữ cùng 93 Quý Dậu, mệnh Kiếm Phong Kim, nên duyên lấy nhau liệu có tốt đẹp ??? Xin cảm ơn !!!

    ReplyDelete
  12. @N.T.H hỏi về (nam) Ất Mẹo, (nũ Mậu Thìn về vấn đề họa hại. Theo tôi thấy thì được "không tốt không xấu". Người vợ được chồng đem tốt đẹp đến, cũng có thể suy luận rằng người vợ có thể chuyển đổi được vận mệnh xu hướng tốt. Âm thủy, dương mộc âm dương hài hoà, mẹo thìn không khắc. Bát trạch, bát tự không tốt không xấu.
    Nếu yêu thương nhau, người nữ nên thuyết phục cha mẹ đễ tiến tới hôn nhân. Duyên trời đã tặng thì không nên chối bỏ, số đã định rồi, bỏ ván này không khéo ván sau lại còn tệ hơn. Duyên này đã trên trung bình rồi, tôi cũng tính ra giống bạn, duyên này "ít nhứt" đạt 60% tốt và rất tốt cho người nữ nên người nữ cần kiên quyết thì hạnh phúc tất có.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Cảm ơn anh rất nhiều.

      Delete
  13. Anh cho hỏi Nam 1979 lấy vợ 1980 hay 1990 thì có tốt hay ko tốt, tui đọc thấy Lục Sát sợ quá, mong giúp đỡ

    ReplyDelete
  14. 1980 tương đối khá hơn, được khoảng 7/10 tốt.
    Nhưng nên nhớ, cách coi này chỉ là một trong nhiều khía cạnh chọn vợ, kén chồng.
    Quan trọng nhất theo tôi thì vẫn là:
    - bạn yêu ai nhất?
    - ai yêu bạn nhất?
    - hạnh, phẩm
    - phước đức bên gia đình vợ, gia đình chồng.
    Vì như đã nói trong các trang về bói toán:
    "Con đại gia lấy con đại gia, tưởng đâu suốt đời được đại gia, nhưng gia đình ăn ở thất đức thì tai hoạ, thế lực xấu chờ chực để ập vào".
    Vì sao cần đức cả ở gia đình của bạn?
    Vì nhờ đó mà bạn nhìn thấy được phần nào người vợ tương lai và có một quyết định đúng đắn.

    ReplyDelete
  15. Xin chào tác giả. Cho em hỏi là em sinh năm 1989,chồng em sinh năm 1990. Chúng em cưới nhau vào ngày 9/2/2014 âm lịch. Theo em biết thì năm nay là năm tuổi kim lâu của em. Nhưng gia đình nhà trai bảo đi xem thầy nói ko việc gì. Và tuổi của hai chúng em em xem ở đây thì cũng thấy ổn. Nhưng từ khi cưới xong gia đình gặp nhiều chuyện không vui. Em mong tác giả tư vấn giúp em xem hai tuổi của chúng em có vấn đề ảnh hưởng gì tới gia đình nhà gái hay nhà trai ko ạ? Và nếu chúng em sinh con thì sinh năm nào cho hợp tuổi bố mẹ ạ.

    ReplyDelete
  16. 1/ bạn cho biết ít thông tin thí dụ: cả hai sanh ngày nào, tháng nào? lơ mơ không có ngày tháng chính xác, nếu tôi đoán bừa thì cũng giống như thầy bói mà cha mẹ chồng đi coi vậy ("xem thầy, thầy nói không việc gì").
    2/ nếu từ ngày cưới "gia đình gặp chuyện không vui", thì đã có gì không ổn, nhưng vì năm bạn gặp kim lâu hay suốt thời gian quan hệ, thì tôi không thể chính xác nói ra, tương tự như bạn muốn bơi qua sông, tôi không biết bạn có biết bơi hay không, bạn có ghe xuồng hay phao bảo hiểm hay không, mà bạn nhờ tôi xem hộ bạn bơi qua sông có được an toàn hay không.
    3/ nếu như chưa cưới thì còn xem để quyết định, hiện "ván đã đóng thuyền", nói gì cũng làm lộn xộn lên thôi.
    4/ sanh con năm nào cho hợp tuổi hai người, thì từ từ, nếu có thời gian tôi coi dùm cho. Hiện giờ thì bận.

    ReplyDelete
  17. Xin nhờ Ad giải thích:
    - trong bát trạch phi cung: càn-chấn(chấn-càn): ngũ quỷ- xấu
    - trong bát tự phi cung: càn-chấn(chấn-càn): thiên y- tốt.
    Phải chăng do nhầm lẫn?
    Xin hỏi thêm Ad: Nam tuổi ất sửu và nữ tuổi canh ngọ hoặc tân mùi, thì ngọ hay mùi sẽ hợp hơn ạ.
    Xin cảm ơn!

    ReplyDelete
    Replies
    1. 1/ Cung Phi Bát Trạch và Cung Phi Bát Tự của người nam khác nhau, bát trạch Càn thì bát tự Chấn; bát trạch Chấn thì bát tự Ly.
      2/ Bát tự chỉ xem phụ vào.
      3/ Tuổi nào hợp? Nếu bạn quan tâm, thì tự xem, ở đầu trang này tôi có giải thích rỏ và có tất cả các đường dẫn. Nếu chú tâm đọc, bạn chắc chắn sẽ tìm được lời giải.

      Delete
    2. 8 cung biến hóa
      chú thích:
      Cung Phi Bát Trạch (nam)
      * Càn-Đoài có nghĩa là người nam cung Phi Bát Trạch Càn lấy vợ cung Đoài.
      * Tuyệt thế là xấu vì tuyệt là đoạn tuyệt tình ta, tình người.

      1. Càn-Đoài: sinh khí, tốt; CÀN-CHẤN: NGŨ QUỶ, XẤU; Càn-Khôn: diên niên (phước đức), tốt; Càn-Khảm: lục sát (du hồn), xấu; Càn-Tốn: họa hại (tuyệt thế), xấu; Càn-Cấn: thiên y, tốt; Càn-Ly: tuyệt mệnh, xấu; Càn-Càn: phục vị (qui hồn), tốt.


      Cung Phi Bát Tự (nam)
      (xem phụ vào, và chỉ dùng để xem cho việc hôn nhân)
      1. Càn-Đoài: sinh khí, tốt; CÀN-CHẤN: THIÊN Y, TỐT; Càn-Khôn: họa hại (tuyệt thế), xấu; Càn-Khảm: lục sát (du hồn), xấu; Càn-Tốn: ngũ quỷ, xấu; Càn-Cấn: diên niên (phước đức), tốt; Càn-Ly: tuyệt mệnh, xấu; Càn-Càn: phục vị (qui hồn), tốt.
      Ý mình hỏi về CÀN-CHẤN như trên mà Ad, tại sao lại khác nhau ở bát trạch và bát tự( một cái là NGŨ QUỶ, một cái là THIÊN Y). Phải chăng Ad nhầm?
      Xin cảm ơn!

      Delete
    3. Nam bát trạch Càn thì bát tự sẽ là Chấn.
      Cho nên nếu nam Càn (bát trạch) lấy vợ Chấn thì (bát trạch) Càn-Chấn: ngũ quỷ, xấu.
      Nếu xem phụ thêm cho hôn nhân tốt, xấu, thì xem bát tự coi có cứu được hay cũng có thể xấu hơn. Thì nam bây giờ là Chấn (bát tự) lấy vợ cũng chấn thì Chấn-Chấn: phục vị (qui hồn), tốt.

      Vậy là gở được bớt cái xấu. Hai phần này riêng biệt ra, không nhất thiết tốt thì hai bên (bát trạch, bát tự) đều phải tốt hết.
      * ngũ quỷ là đệ nhị hung tinh, xấu hạng thứ 2 trong 4 cái xấu
      * phục vị tốt hạng thứ 4 trong 4 cái tốt
      http://kimlong9999.blogspot.co.uk/2009/01/qui-s.html

      Delete
    4. Hình như Ad không hiểu ý tôi hỏi.
      Bạn đọc lại bài viết ở mục "Xét về cung", đoạn "8 cung biến hóa", tiểu mục " Cung phi bát trạch(Nam)" và tiểu mục " Cung phi bát tự(Nam)".
      Có viết:
      1.Bát trạch: Càn- Chấn(bát trạch): Ngũ quỷ, xấu
      2.Bát tự: Càn- Chấn( là Càn, chấn của bát tự): Thiên y, tốt.
      Mình nghĩ, biến hóa Càn-Chấn, dù là bát trạch hay bát tự cũng phải giống nhau. Tại sao 1cái là ngũ quỷ, một cái là thiên y?
      Lưu ý: ở đây, Càn, Chấn trong bát tự phi cung đã được tính từ bát tự trạch cung.

      Delete
    5. 1/ Dấu * (ở chổ 8 cung biến hóa chú thích:) <= chỉ là có ý giải thích thêm thôi, tôi đã dời ngôi sao thứ 2 (* Tuyệt thế là xấu) đi nơi khác

      2/ Theo tôi bát trạch và bát tự là 2 thứ riêng biệt nhau.
      Tôi cũng chỉ tìm hiểu và ghi từ sách ra thôi. Nếu bạn nghỉ là giống nhau thì tùy theo ý bạn. Cứ cho sách hay những người ghi sách viết sai.

      Delete
  18. Em cam on anh. Vay anh tu van giup em xem nha em de nam nao se tot hon ah.

    ReplyDelete
  19. Chào anh, em đọc 1 hồi rối cả lên chả tính được, anh cho em hỏi
    em sn 1976, bà xã sn 1980
    con lớn sn 2004, con thứ sn 2008 thì có hợp không ạ
    em xem thì thấy Cung mệnh của em là sa trung thổ nhưng cung hành là kim, vậy thì hợp với màu gì ạ
    cám ơn anh

    ReplyDelete
    Replies
    1. Nam Bính Thìn mạng Thổ, nữ Canh Thân mạng Mộc, tuổi và ngũ hành trên trung bình. Cha hợp với con thứ, mẹ hợp với con lớn, gia đình đề huề, tốt đẹp.
      Cung phi bát trạch và bát tự "không tốt không xấu". Xem chú thích ở trên chổ "bán hung, bán kiết".

      Coi màu gì hợp thì là đàn ông bạn phải coi cung phi mạng Kim (chứ không phải Thổ nhé), xem ở trang này:
      http://kimlong9999.blogspot.de/2010/09/ngu-hanh-mang-va-mau-sac.html

      Delete
  20. cho e hỏi, bạn trai em sinh 22/12/1983. em sinh 17/6/1989 (ÂL) có hợp nhau không ạ? gđinh e thì bình thường, nhưng ko biết gia đình bạn trai e nghĩ sao. Tks a nhiều

    ReplyDelete
  21. cho e hỏi, bạn trai em sinh 22/7/1990 (ÂL) giờ Qúy Hợi. em sinh 6/12/1993 (ÂL) giờ Qúy Hợi luôn. tụi em nếu cưới thì nên cưới năm nào? sinh con năm 2021 và 2025 có được không ạ?

    ReplyDelete
  22. cho e hỏi cung ly (hỏa) và cung khảm (thủy) sao lại hợp với nhau ạ.trong khi đó thì hỏa lại khắc với thủy

    ReplyDelete
    Replies
    1. Cung và Mạng là hai thành phần khác nhau.
      Mạng (hỏa, thủy) nhưng chồng khắc vợ thì không gì nguy hiểm, vợ khắc chồng thì nghịch.
      Xem phong thuỷ phải phối hợp rất nhiều yếu tố chứ không phải chỉ có cung và mạng như bạn nghỉ đâu. Đây cũng giống như bạn đi mua một chiếc xe hơi nhưng chỉ nhìn có một mặt thấy nó trầy một đường, rồi bạn hỏi tôi xe hơi đó chạy tốt hay không thì thần thánh cũng bó tay.

      Delete
  23. cho e hoi, vợ và chồng cùng tuổi canh ngọ sinh năm 1990 có hợp k ạ? mọi người bảo canh ngọ lấy canh ngọ làm ăn k tốt ạ, em thấy Bát trạch: Ngũ quỹ xấu, Bát tự: Thiên y-tốt, vậy có ảnh hưởng nhiều k ạ?

    ReplyDelete
  24. 1/ Vợ chồng cùng tuổi, ăn rồi nằm duỗi. Tổng quát thì hợp.
    2/ Vợ mạng Thổ, chồng tính theo cung phi mệnh mạng thì hành Thủy. Vợ khắc chồng nên nghịch lý ngũ hành mạng.
    3/ Bát trạch nam mạng Khảm lấy vợ Cấn => Ngũ quỷ (xấu)
    4/ Bát tự phải đọc chổ nam Đoài lấy vợ Cấn => Hoạ hại (Tuyệt thế) => nữa tốt nữa xấu, duyên tầm thường.
    5/ Phối hợp bát trạch, bát tự thì gặp thứ hung, xấu vừa.
    Gom chung mà nói thì cặp vợ chồng này duyên số dưới trung bình, nhưng cũng không đến phải thảm sầu không lối thoát.
    Nhưng tôi khuyên một điều: sanh con phải chú tâm dạy cho tốt, đừng vì kiếm sống mà bỏ bê dạy dổ con cái. Vì nếu không vung bón cây con khi còn bé thì sau này con cái có thể là du đãng hoặc đàng điếm, lẳng lơ, chơi bời nghiện ngập.
    Sanh con nên chọn năm Tuất, Dần hoặc Ngọ, sanh con vào mùa Hè, đặt tên hành Hoả để hoá giải phần nào nghiệp chướng.
    Tên hành hoả đại khái là: Quang Chiếu, Cẩm Hồng, Minh Dương, Cẩm Ánh, Hồng Ánh, v.v.

    ReplyDelete
  25. Cho em hỏi, bạn nam sinh ngày 26/07/1985 (âm lịch), bạn nữ sinh ngày 18/12/1990 (âm lịch), nếu kế hôn có hợp nhay không ạ. Em cảm ơn. Chúc kimlong9999.blogspot.com phát triển tốt.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Chào Kim Cúc,
      1/ thập nhị chi không xung không khắc (+/-)
      2/ thiên can nam và tuổi của nữ bị nhì bần tiện (-) nhưng
      3/ theo cao ly thì lại hợp (+)
      4/ cung chính và cung phụ được Thiên y : Lục sát
      5/ Thổ sinh Kim, chồng được nhờ (+)
      6/ tháng sanh nam nữ hợp (+)
      Nếu hỏi về chuyện kết hôn tốt hay xấu, thì có thể nói là tốt nhiều hơn xấu, được khoảng 8/10 hướng về sống đời với nhau, mạnh khoẻ.
      Đôi nam nữ này thành chồng vợ, thì người vợ có thể chuyển đổi vận số, thành công hay thất bại cho chồng bằng cách làm hậu thuẫn, cố vấn cho chồng từ câu "Giàu sang nhờ cậy ở tay bà". Ví như người chồng có một cái mỏ, đào bằng chính tay trần của mình thì khó khăn lắm, nhưng vợ có cái cuốc cái xuổng đưa cho chồng đào thì sẽ nhanh tìm được của, nhưng của ở đây là vàng bạc, tiền tài hay danh tiếng, có hay không có thì phải tùy thuộc trước nhứt vào phước đức của hai gia đình và mạng của vợ chồng, phải coi thêm tử vi đẩu số, phối hợp với tướng mạo và lục thập hoa giáp ngũ hành mới có thể đoán chính xác được.

      Delete
  26. cảm ơn kimlong9999.blogspot.com :)

    ReplyDelete
  27. @ Thuy Tran:
    hai tuổi bạn nêu ra xem xét về khía cạnh tuổi, mạng, âm dương, ngũ hành, bát trạch, bát tự cho thấy cặp này người nữ được chồng hổ trợ tuy nhiên xét vê phi cung thì người nữ có thể hại chồng.
    Phối hợp bát trạch bát tự thì được không tốt không xấu (coi chổ giải thích về bán hung bán kiết).
    Nếu yêu thương thật sự và gia đình hai bên có nhiều phước thì không hẳn là phải tuyêt vọng, nhưng người vợ phải hết sức nhường nhịn thì mơi mong tránh được câu kinh nghiệm người xưa (sách xưa) ...
    "Họa hại thường sinh biết mấy lần
    Nhà cửa lạnh lùng tiền của hết
    Cháu con thôi cũng chịu cơ bần.

    Yêu đương tác hợp buồn than đêm ngày
    Triền miên tai ách không hay
    Nợ duyên sầu muộn đắng cay cuộc đời."

    ReplyDelete
    Replies
    1. cảm ơn admin rất nhiều,nhưng em vẫn thắc mắc là e với ban trai tuoi như vậy thì được khoảng bao nhiêu phần trăm.

      Delete
  28. @Trần X. H.: bạn hỏi qua kontactr (no-reply) không cho địa chỉ email để liên lạc, nên tôi đành trả lời ở đây vậy.
    1/ Bạn viết rất đúng về năm và thượng ngươn, trung ngươn, hạ ngươn.
    2/ Bạn xem ở đâu cung phi nam Đoài, nữ Cấn? Chắc chắn là họ ám chỉ cung phi bát tự.
    3/ Chắc chắn tuổi bạn nêu ra có cung phi bát trạch phải là nam Khảm nữ Cấn.
    4/ Bạn cũng có thể tự tính nhé, tất cả đều có quy luật của nó chứ không phải ai cũng viết đại, viết tùm lum theo ý mình được.
    5/ Cung phi bát trạch nam, cứ tính từ năm 1924, mỗi năm là một cung phi cho đến năm sinh của bạn, tuần tự 1924 Tốn, 1925 Chấn, 1926 Khôn, 1927 Khảm, 1928 Ly, 1929 Cấn, 1930 Đoài, 1931 Càn, 1932 Khôn,
    1933 Tốn, 1934 Chấn, Khôn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài, Càn, Khôn, v.v. bạn sẽ biết ngay sinh năm đó là cung phi gì.
    6/ Xem đối chiếu bát trạch / bát tự ở trên suy ra cung phi bát trạch (nam) Khảm thì cung phi bát tự (nam) là Đoài.

    ReplyDelete
  29. Chào kimlong9999,

    Cho mình hỏi thăm về trường hợp gia đình mình nhé. Mình là nữ, sinh 1/7/1977, Chồng hien tại của mình sinh ngày 25/11/1977. Mình đã ly hôn 1 lần, có con trai sinh 17/8/2002. Hiện nay mình đang mang thai, cuối tháng 8/2014 sẽ sinh, siêu âm là bé trai. Hình như 2 vợ chồng rơi vào cung Tuyệt mệnh. Có cách gì hóa giải được kg? Sinh con năm này có hóa giải được Tuyệt mệnh của ba mẹ không?

    ReplyDelete
    Replies
    1. 1/ Bạn xem đúng rồi, là rơi vào đại hung và ngũ ly biệt.
      2/ Người con đầu sanh 2002 có thể là cứu tinh. Vì tuy là sinh mệnh hành Mộc nhưng cha mẹ đều là Thổ nên đạt được lưỡng Thổ tương sinh. Người con trưởng có cung phi hành Kim, Thổ sinh Kim nên tốt cho con, Mộc/Kim nếu có (cả hai) lưỡng Thổ vung bón, giúp đỡ và yêu thương thì trở thành cây tươi, đâm chồi, thành đạt, vàng tìm ẩn tích tụ trong đất ngày qua ngày.
      Nếu đây là cha dượng (cha kế) mà làm được chuyện trên (đầu tư, dạy dỗ, yêu thương) thì cũng như tự tích đức cho mình về già vậy, bởi vì trong lục thập hoa giáp, mạng vợ chồng của bạn đã 3 lần được nhắc đến, trước khó sau dễ, về già mới được thảnh thơi, an nhàn.
      3/ Con trai thứ mạng Sa Trung Kim, vàng trong cát, cha mẹ lại là Sa Trung Thổ nên hợp nhưng cha mẹ hy sinh cho con, con có muốn cũng không giúp được gì cho cha mẹ. Có điều là phải tập tính tự lập cho nó, kim loại trong cát cứ được ôm ấp mãi trong lòng đất thì không phát huy được sự hữu dụng của nó.
      Nói tóm lại, khó có cách hoá giải, vì làm sao cải được số trời? Chỉ hoạ may cha mẹ yêu thương dạy dỗ con tốt như có thể, may ra động được lòng trời, con lớn lên nên người và hiếu thảo, đền ơn cha mẹ đã hy sinh.

      Delete
    2. Cảm ơn Bác Kim Long nhiều,

      Au cũng la duyên số. Vợ chồng em cố gắng dạy dỗ con cái vậy.Hi vọng trời không phụ lòng người.

      Chồng sau của em muốn sinh thêm một cô con gái vào năm 2016 hoặc 2017. Theo em thì không biết sẽ được gái hay lại là trai...Em có nghe nói Thiên y hóa giải Tuyệt mệnh, nếu Bác có chút thời gian thì Bác xem giúp em, nếu có khả năng thì em nên sinh thêm con vào năm nào. Cảm ơn Bác đã tư vấn. Nếu không, em vẫn tin, con cái là số trời cho.

      Một lần nữa cảm ơn Bác.

      Delete
    3. @Em có nghe nói Thiên y hóa giải Tuyệt mệnh.
      Đúng vậy, người xưa có để lại 4 câu:
      "Sinh khí giáng Ngũ quỷ
      Thiên y chế Tuyệt mạng
      Diên niên yểm Lục sát
      Phục vị trừ Họa hại".
      Theo như tôi nhận thấy, gia đình bạn cũng tạm ổn mà, vì cung phi của cha và con trưỏng hợp lại được Thiên y, mẹ và con thứ hành của cung phi hợp thành Sinh khí, nên hoá giải được phần nào thế lực xấu.
      Yên tâm sanh nở, đừng lo lắng quá gây ảnh hưởng đến sức khoẻ nhé. Chúc bạn "mẹ tròn, con vuông"

      Delete
  30. Em chào Ad

    Ad cho em hỏi với em là Nam sinh tháng năm 1987 người yêu em sinh năm 1992 tính cung phi thì là tốn với đoài như ở trên ad diễn giải thì là lục sát như vậy có xấu qua ko a, có cách nào hóa giải được ko a, Nếu cưới được thì nên cưới vào năm nào
    Còn một vấn đề nữa là em định hùn vốn làm ăn với một ông sinh năm 1985 tính cung phi của ông nay lại là càn tốn với càn là Hại Họa vậy nếu kết hợp làm ăn có dẫn đến đổ vỡ ko,
    Rất mong hồi âm của Ad, Thanks Ad

    ReplyDelete
    Replies
    1. 1/ Lục sát là hạng thứ 3 trong tổng cộng 4 thứ xấu.
      Bát tự lại mắc phải Ngũ quỷ là thứ xấu hạng 2 nên không gỡ được. Nó xấu như thế nào bạn tham khảo ở đây:
      http://kimlong9999.blogspot.de/2009/01/qui-s.html
      - Cung phi gái hành Kim, trai Môc, hai thứ khắc nhau nên xấu, trước hợp sau ly.
      - Phối hợp bát trạch và tự thì bị thứ hung, xấu vừa. Tức đạt khoảng 3 hay 4 trên 10 duyên mỹ mãn.
      Nói chung duyên này xấu nhiều hơn tốt, cả hai phải có đạo hạnh tốt, tổ tiên tích phước thì mới mong giảm bớt sự sầu bi.
      Tuy nhiên trai Đinh lấy gái Thân thì được tam vinh hiển. Bạn xem trong trang này chổ giải thích "* Hiển Vinh:"
      2/ Muốn cưói năm nào cũng được trừ năm Tuất và Mùi.
      3/ Họa hại tuy đứng hạng 4 trong 4 cái xấu, nhưng hùn hạp làm ăn tôi nghi là không xong. Vì người sanh 1985 cung phi mạng Kim, mà bạn hành Môc thì khắc vì kim loại đốn cây. Người sanh 85 thuộc nhóm Đông tứ trạch, bạn thuộc Tây, nghịch.

      Delete
  31. Chào ad
    Ad cho e hoi chút ah. E là nữ sinh năm 1984, chồng e sinh năm 1985, gái lớn sinh 2010, gái nhỏ sinh 2013, như vậy cung mênh của gia dình e the nào ah, nếu khắc thi có cách gì hóa giả không ah. E cam ơn ah

    ReplyDelete
    Replies
    1. Tuy vợ chồng đạt đưọc trung kiết 8/10, nhưng cả gia đình 4 người thì gặp 1 Ngũ quỷ và 2 Lục sát. Chồng lại không nhờ được họ hàng, bạn bè sinh phản. Có thể phải tự tích đức và ăn ở chân chính, đề phòng bạn xấu, nếu không thì có thể phải mang giam cầm.
      Năm và tháng Lục sát và Ngũ quỷ hoành hành: thìn, tuất, sửu, mùi, dần, ngọ, tuất.
      Vợ cung phi hành Thổ, chồng hành Kim, và có Thiên y nên vợ có thể cứu chồng. Có thể vợ phải sáng suốt đề phòng kẻ xấu và khuyên chồng, nếu không ắt sẽ gặp "thất tặc, ngũ thứ" gặp 7 kẻ gian và 5 lần trộm cướp.
      Chắc là còn cách hoá giải khác, nhưng phải coi kỷ hơn phối hợp nhiều khía cạnh như phước, tử vi, tướng số, v.v. thì mới giúp được.

      Delete
  32. e chao ad, ad cho e hỏi: người yêu e sinh năm 1990, e sinh năm 1992. sắp tới e chuẩn bị dắt người yêu về ra mắt gia đình. Sẽ không có gì đáng lo nếu mẹ e không tin vào tuổi tác, nhưng mẹ e lại rất tin tưởng và bà rất tin vào bát san tuyệt mạng. e không biết tuổi tụi e có bị dính vào bát san tuyệt mạng và cưới nhau có xấu lắm không. xin ad giúp e ạ

    ReplyDelete
    Replies
    1. Ai là nam, ai là nữ ?
      Nếu trai sanh Canh Ngọ, nữ Nhâm Thân thì tôi không thấy có "tuyệt mạng" ở đâu cả.
      Duyên này được trên trung bình, đạt trung kiết tốt vừa.
      Vợ cung phi hành Kim, chồng Thuỷ, chồng được nhờ.
      Nếu coi theo ngũ hành mạng thì nam Thổ, nữ Kim, chồng giúp vợ.
      Theo Bát san giao hợp thì tốt. Xem ở trang này chổ "Trai cung Khảm lấy vợ cung Đoài (diên niên)".
      Nói chung, duyên này thuận ngũ hành, khá ổn.

      Delete
  33. Chào ad,
    Em đã đọc bài viết nhưng cũng bị dối, Em là nam sinh năm 1988(Mậu Thìn), Vợ chưa cưới của em sinh năm 1992(Nhâm Thân)
    Theo em tìm hiểu thì Nam mạng là cung Chấn + Nữ mạng cung Đoài => tuyệt mạng là không tốt.
    Nhưng phần Cung chính và cung phụ thì em không được hiểu rõ lắm. Nhờ Ad tính giúp em cung chính của em là gì, và cung phụ là gì (xem cung phụ có đẹp hơn không ạ).
    Và theo Địa chi thì tuổi Thìn và Tuổi thân hợp nhau, như vậy có tốt hơn trong việc cưới gả không ạ.
    Em xin chân thành cảm ơn.

    ReplyDelete
    Replies
    1. - Bạn xem đúng rồi, cung chính đồng nghĩa với cung phi bát trạch nam Chấn/nữ Đoài => tuyệt mạng, xấu nhứt trong 4 cái xấu.
      + Cung phụ hay còn gọi là cung phi bát tự xem phụ thêm chủ về hôn nhân để xem có vớt vát được hay không.
      Theo tuổi trên thì bát tự nam Ly, nữ Đoài => được Thiên y là tốt hạng thứ 2 trong 4 cái tốt.
      - Phối hợp bát trạch và bát tự => được 3 phần tốt (3/10).
      + Tuổi Thìn và Thân thì hợp
      - Ngũ hành mệnh và ngũ hành theo phi cung đều là nam Mộc, nữ Kim => khắc nhập, hung, xấu.
      Người mạng Kim sẽ nắm đằng cán. Tuy nhiên nam mệnh Đại lâm mộc cây trong rừng nên cũng không sợ kim loại ở đầu kiếm, nhưng người chồng có lẽ sau này sẽ gặp nhiều chuyện nhức đầu vì vợ.
      Số cả hai hình như phải xa xứ và ngoài 30 hoặc 40 tuổi mới mong giữ được của.

      Delete
    2. Em cảm ơn bác rất nhiều. Vậy tuổi bọn em muốn cưới thì phải tránh những năm nào ạ. Mong bác giúp đỡ.

      Delete
    3. Kỵ năm Mùi và Hợi
      Ngoài ra cũng nên tránh các năm và tháng (âm lịch) mà Tuyệt mạng hoành hành linh ứng: Tỵ, Dậu, Sửu.

      Delete
  34. em chào ad, cảm ơn ad vì bài viết.
    Ad cho em hỏi em là nữ sinh năm 1993, người yêu em sinh năm 1991, bát trạch là ly(nam)-cấn (nữ) => họa hại (tuyệt thế) => không tốt, em rất lo ạ, có cách nào hóa giải không ạ? (tuổi và mệnh thì đều hợp)
    Tuổi của chúng em kết hôn năm nào thì hợp ạ? nếu chọn mua nhà đất thì nên chọn hướng nào ạ? Sau này sinh con thì nên sinh năm nào ạ ( vì em nghe nói hai tuổi này kết hợp thì sinh con khó nuôi)
    Rất mong hồi âm của Ad, Thanks Ad
    Chúc kimlong9999.blogspot.com phát triển tốt.

    ReplyDelete
    Replies
    1. -/+ Bát trạch Hoạ hại nhưng bát tự (coi phụ thêm) thì có thể giảm bớt cái xấu vì được Diên niên (Phước đức).
      +/- Phối hợp bát trạch/bát tự được tốt trung bình (khoảng 6/10).
      + Ngũ hành mạng và cung phi đều hợp và hài hoà.
      + Theo bát san giao hợp được Tam vinh hiển.
      Như bát tự đã có, cứu giải cần có phước và đức.
      Kết hôn kỵ các năm sau đây: Dần, Ngọ cũng như năm và tháng kỵ: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
      Mua nhà đất thì tùy ai là gia chủ, ai đứng tên thì phải chọn hướng của người đó. Vào đây nghiên cứu:
      http://kimlong9999.blogspot.de/2009/01/qui-s.html

      Delete
  35. Replies
    1. Đã nhận được câu hỏi của bạn về sanh con 2015. Tổng cộng nhận được 2 email của bạn.
      Bạn đọc bên dưới, "NHẬN XÉT SẼ CHƯA ĐƯỢC ĐĂNG NGAY !" để tránh tình trạng comment rác, quảng cáo, v.v. nên phải làm như vậy.

      Trong tuần mình bận lắm, để từ từ khoảng cuối tuần này bạn sẽ có câu trả lời.

      Delete
    2. Vợ chồng của bạn:
      Thuộc nhóm tam hợp, tốt.
      Thiên can và tuổi đạt được Tam vinh hiển, tốt
      Bát trạch được Diên niên (Phước đức), tốt hạng 2 trong 4 thứ tốt.
      Bát tự rơi vào Lục sát (Du hồn).
      Tuy nhiên tổng quát thì đạt trên 7/10
      Tuy là Bát tự chỉ coi phụ vào thôi, nhưng cũng khá nguy hiểm cho việc có thai vào năm 2015, bởi vì Lục sát hoành hành tác hại vào các năm và các tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nguy hiểm cho việc sanh sản như thế nào thì bạn vào trang này đọc chổ Lục sát nhé.
      http://kimlong9999.blogspot.de/2009/01/qui-s.html
      Mậu Tuất là năm tốt của hai người để có em bé.

      Delete
  36. @Nguyễn Văn Đạt, chào bạn. Vợ chồng của bạn tính ra được:
    1/ Bát trạch Tốn / Tốn phục vị (qui hồn), tốt. Bạn xem thơ giải chổ "Hai Tốn yêu nhau hóa hại nhau. Gần nhau thì chịu số thương đau ..."
    2/ Bát tự được Khảm / Tốn Sinh khí là tốt nhất trong 4 thứ tốt cho nên cũng gỡ được chút đỉnh.
    3/ Phối hợp bát trạch / bát tự thì rất tốt, được 9/10
    4/ Nam mệnh Hoả, nữ Mộc được sinh nhập tốt.
    5/ Cung phi nam hành Mộc, nữ cũng Mộc, được lưỡng Mộc thành lâm, tốt.
    6/ Đoán số theo Cao ly thì hai người bị "ngũ ly biệt" (5 lần biệt ly: cha mẹ với con cái, ông bà với con cháu, v.v.), xấu.
    Nói chung, xấu ở trong tốt, tốt nhưng lại tiềm ẩn cái xấu. Hạnh phúc nhưng lo buồn, v.v.
    Đã là chồng vợ rồi thì ăn ở có đức để phước cho con cháu sau này.

    ReplyDelete
  37. @Gởi bạn "kute Phương":
    1/ Tuổi của hai người trong bộ tứ hành xung, nhưng Thân không xung với Hợi (Dần xung với Thân, Tỵ xung với Hợi). => kết hôn được.
    2/ Tuy nhiên hai người rơi vào bộ Lục hại, Thân hại Hợi, nhưng thông thường đây chỉ ứng với hai người hùn hạp nhau làm ăn, chứ về tình duyên gia đạo thì không bị ảnh hưởng sâu đậm. => kết hôn được.
    3/ Hành của mệnh nam Dương Kim, nữ Âm Hoả, âm dương hài hoà. Như bạn đoán, Kiếm phong kim chỉ khắc với Phúc đăng hoả và Sơn đầu hoả khắc Sa trung kim. Cho nên Kiếm phong kim và Sơn đầu hoả không khắc nhau. => kết hôn được.
    3/ Cung phi nam mạng Thổ, nữ cung phi hành Thuỷ. Chồng khắc vợ nên kết hôn được (ngược lại thì mới không được tức là hành của vợ khắc chồng).
    4/ Bát trạch nam Cấn, nữ Khảm nên bị Ngũ quỷ bạn đọc thơ giải chổ:
    "Trai cung Cấn lấy gái cung Khảm (ngũ quỷ)
    Cấn, Khảm giao hòa sự khó hòa
    Biến hình ngũ quỷ họa không xa
    v.v."
    5/ Bát tự xem phụ vào, thì bị Tuyệt mệnh.
    6/ Phối hợp Bát trạch : Bát tự thì bị Đại hung, rất xấu.
    7/ Xem theo Cao ly thì bị Ngũ ly biệt.
    Nói tóm lại, mối duyên này xấu nhiều hơn tốt. Tuy nhiên có thể duyên số trời đã định như vậy. Nên nhớ rằng đây chỉ là một khía cạnh thôi. Gia đình ông bà cha mẹ và chính bạn ăn ở có phúc, mà hai người lại yêu nhau thì bền chí sẽ được thôi.
    Tuy nhiên tuổi Ất Hợi trong lục thập hoa giáp đã có viết: "cô nào có gia đình trước 20 tuổi thì khó mà ở đời với chồng được. "Số tuổi 24 trở đi, lập nên chồng vợ cuộc đời mới yên".
    Bạn vào đây xem thêm, tìm năm sanh của mình.
    http://kimlong9999.blogspot.de/2010/01/luc-thap-hoa-giap-ngu-hanh.html

    ReplyDelete
  38. @Gởi bạn "kute Phương": Ất Hợi cung Đoài bạn nói là ám chỉ cung sanh mệnh, chỉ dùng để phối hợp với tử vi tướng số, coi số mạng cá nhân của từng người, không dùng cho chuyện cưới hỏi.
    Hai người quả thật duyên số trời cho không được tốt, nhưng cũng như cha mẹ bạn trai họ cũng đã có một thời hạnh phúc.
    Duyên trời định (vì nếu khắc kỵ nhau thì ghét nhau chứ không thể khắc nhau mà yêu nhau). Theo tôi nghĩ hai người nên yêu quý trân trọng từng ngày được sống bên nhau và yêu thương nhau hơn, ai biết định mệnh ai đi trước ai?, nên ăn ở hiền lành có phước, may ra động được lòng trời.
    Số mạng có chết yểu hay không phải coi về mặt tử vi, tướng số, về mệnh thiên định thì mới biết được.
    Còn một cách nữa là dùng nhiều Sinh khí chống lại Ngũ quỷ và Thiên Y đề khống chế bớt Tuyệt mạng.
    Bạn vào trang này xem chổ Ngũ quỷ, tránh các năm tháng nó hoành hành (cẩn thận và đừng cưới hỏi vào những năm tháng đó)
    http://kimlong9999.blogspot.de/2009/01/qui-s.html

    ReplyDelete
  39. @ Gởi đến bạn Viola:
    1/ Mối duyên này không bị Tuyệt mệnh, vì Bát trạch là chính. Phối hợp bát trạch (cung phi chính) và bát tự (phụ) thì kết quả là "xấu vừa" không đến nỗi gặp đường không lối thoát.
    2/ Tuy nhiên cung phi chính của mối duyên này rơi vào "Ngũ quỷ". Rỏ ràng là như vậy, duyên của hai bạn sẽ bị 5 con quỷ ngăn cản, gây nhiều trở ngại, phá quấy, cấm đoán, tìm cách chia cắt v.v.. Nếu yêu thương nhau thì chỉ có cách kiên trì chống lại thế lực xấu.
    3/ Tuổi của hai người hợp lại đạt "Tứ Đạt Đạo" => Gia đạo an vui
    4/ Trong mệnh của bạn (gái) số sung sướng hạnh phúc hay gian truân khổ cực phụ thuộc vào cha mẹ, cha mẹ có âm đức hay không <= bạn coi ở trang Lục thập hoa giáp tuổi của mình.
    5/ Trong mệnh của người nam có viết "nhân duyên trễ mới tốt, mới bền"
    6/ Chồng cung phi hành Thuỷ, vợ Thổ => vui buồn thất thường.
    7/ Cả hai người nếu muốn tiếp tục với nhau thì nên tránh giao thiệp, quan hệ, chơi bạn, lánh mặt những người tuổi này:
    Đinh mẹo, tân mẹo, đinh dậu, nhâm tý, bính tý, giáp thân, giáp dần.
    8/ Dùng Sinh khí chống ngũ quỷ nên tích tụ càng nhiều càng tốt. Thí dụ, phòng ngủ, giường ngủ đặt ở hướng đó. Nhà sau này cho vợ chồng chọn hướng sinh khí. Sinh con hợp với cha mẹ hài hoà thành sinh khí.
    Nói tóm lại, mối duyên này dưới trung bình nhưng không phải là Tuyệt mệnh (đường cùng không lối thoát). Vậy thì tuỳ duyên đi nhé.

    ReplyDelete
  40. @Nặc danh hỏi về nữ sanh DL 1990, nam DL 1985
    Bạn tính như vậy là đúng rồi. Thiên y: Lục sát. Nội bấy nhiêu đã được 8/10, cộng thêm cung phi hành, ngũ hành mệnh đều tồt, âm dương hoà hợp, v.v..
    Nếu hai người yêu nhau thật sự thì tự quyết định cho cuộc đời của mình, duyên tồt mà bỏ cơ hội khi có người ngăn cản thì biết nói sao bây giờ? Thiếu may, có duyên nhưng không nợ, Lục sát linh ứng gây phiền toái trở ngại trước khi cưới, cha mẹ hại con?.
    Bạn có biết tại sao đi coi bói, thầy bói phần đông là nói duyên không hợp, lấy nhau thê thảm?
    Bởi vì nếu họ nói duyên tốt đẹp thì sẽ không có lần khác, người cha mẹ đó sẽ lại đi coi bói nữa khi con mình muốn lấy/cưới ai khác. Cha mẹ nói ra nói vào làm con thêm hoang mang mà thôi.
    Đức năng thắng số, duyên dù có tốt nhưng gia đình dòng họ gian ác thì cũng ảnh hưởng nhiều vào con cháu.
    Nên đề phòng, đừng nghe lời, lánh mặt, tránh giao thiệp với các người tuổi Nhâm Tý, Bính Tý, Giáp Thân, Giáp Dần, Kỹ Mùi, Quý Mùi, Tân Mẹo, Tân Dậu.
    Nên nhớ câu "giàu sang nhờ cậy ở tay bà" tức là người nữ nắm trong tay + hay -, may, rủi.
    Còn các chuyện khác như cưới khi nào, sanh con... khi hai người nhất định đám cưới, và nếu bạn lên đằu trang chổ "contact me" hỏi và cho email liên lạc, rãnh rổi tôi sẽ nghiên cứu trả lời cho.
    Nhưng đại khái là tuổi hai người tránh cưới năm Thân và Dậu

    ReplyDelete
  41. @Trả lời bạn Thạch Thảo.
    Không những phải coi cung sinh, can, chi, thôi mà còn phải xét về những khía cạnh khác nữa, phước đức của người nam, nữ, gia đình dòng họ hai bên, ngoài ra tử vi, tướng số, nói chung là xét càng nhiều mặt thì mới biết được chắc hơn.
    Tuy nhiên, vì muốn xem vợ chồng có hợp hay không, coi chính là cung phi bát trạch và hành của cung phi.
    Trai Nhâm gái Quý là quá hợp. Trai hơn một cũng là tốt. Cả hai cung phi hành Thổ, cả hai đều thuộc đông tứ trạch quá thuận, lưỡng thổ thành sơn cũng lại là tốt.
    Phối hợp Bát trạch: bát tự được 9/10 tốt.
    Duyên đẹp hiếm thấy, bạn còn muốn gì nữa, coi lòng vòng làm gì nữa?
    Tuy nhiên theo như lục thập hoa giáp thì số mạng của cả hai phải ngoài 40 tuổi hay nói đúng hơn hậu vận giữ của mới tốt, nếu làm giàu sớm thì duyên sẽ không bền. Đây là số mạng, hai người không cưới nhau thì số vẫn là phải hậu vận có của mới bền.
    Bạn vào trang này, tra tuổi của hai người mà xem nhé.
    http://kimlong9999.blogspot.de/2010/01/luc-thap-hoa-giap-ngu-hanh.html

    ReplyDelete
  42. @Gởi bạn Tuan Anh:
    Nhận xét của bạn rất đúng.
    Là vì ở trang này mình gom lại, tập hợp 2 sách, nên có 4 chổ của Bát trạch nói khác nhau (Trai Khảm lấy gái Ly; Khảm lấy Đoài; Chấn lấy Càn và Chấn lấy gái Cấn), nhưng suy cho cùng trong trường hợp của bạn thì những câu thơ trên nói lên sự hợp nhau về ngũ hành của hai người.
    - Mình nghĩ, theo năm sinh của hai bạn thì Bát Trạch đúng ra sẽ là Họa Hại (Tuyệt Thế) và Bát Tự là Phục Vị (Qui Hồn), hợp lại được trên trung bình một chút, khoảng 6/10.
    - Theo như sách Bát trạch minh cảnh thì quả đúng là Ngũ hành phi cung của hai bạn quá hợp với nhau. Xem thêm cho biết về chính mệnh Thổ / Kim thì cũng hợp bổ sung cho nhau.
    - Theo Cao Ly bị Ngũ Ly Biệt.
    - Trong Lục Thập Hoa Giáp cũng có ghi về người Nam "Nhân duyên muộn màng thì tốt, bằng lấy vợ sớm thì sẽ gãy đổ" <= cho nên phải coi chừng!.
    Còn về người Nữ thì "tuổi nhỏ không khá, lớn tuổi mới thành gia".
    Nói tóm lại, ngoài các yếu tố khác như tử vi mạng cá nhân, phước đức, v.v. nếu không quá đoản hậu, thì mối duyên này trên trung bình.
    Muốn chính xác thì phải xét về nhiều mặt và không nên quá lo sợ lo lắng. Nên nhớ rằng người có duyên trời định và đức năng thắng số. Câu hỏi chính cho hai người phải là yêu nhau đến mức nào? Không bị Tuyệt mạng thì may rồi. Gặp những thứ khác biết trước, thì tìm cách hoá giải.

    ReplyDelete
  43. @Gởi bạn Mit Ku:
    Đúng như bạn coi và nhận thấy, hai người có nhiều xung khắc, chỉ được mỗi tuổi trong tam hợp, tức là tuổi hợp nhau.
    Bát trạch rơi vào Lục sát nên cũng chưa đến nỗi (tuyệt mạng), phối hợp bát trạch và bát tự thì bị xấu vừa.
    Coi trong lục thập hoa giáp, tôi thấy người nữ có vẻ xấu duyên xấu nợ, số gái truân chuyên. Cho nên nếu người nữ biết thân biết phận thì có thể cứu gở được vài phần xấu, chứ nếu ngoan cố thì tôi nghi là duyên này "trước hợp sau tan".
    Cách cứu vớt như đã nói, tùy thuộc một phần người vợ biết an phận thủ thừa, có nhiều phước đức của ông bà và của chính mình, và có thể tạo nhiều Diên niên thí dụ như sanh con, nhà cửa, vì có câu Diên niên yểm Lục sát (là cung phi bát trạch của hai người).
    Tránh lấy chồng, cưới vợ vào năm Tuất và Thìn.
    Thiên duyên tiền định, biết trước có nhiều trái ngang nhưng cả hai yêu thương nhau và nhường nhịn nhau thì duyên này cũng chưa hẳn là tuyệt vọng không lối thoát.

    ReplyDelete
  44. @Gởi bạn Nhi Nguyễn:
    - Bát trạch và bát tự là chính, hai người nếu lấy nhau thì được 10/10.
    - Tuy nhiên phải coi về nhiều mặt khác tử vi, toán số của từng cá nhân một, và phối hợp phong thủy môi trường phát triển sau này, phước đức cũng quan trọng không kém.
    - Trong Lục thập hoa giáp thì người Nam rất tốt số, sanh thuận tháng, số giàu sang phú quý. Còn người Nữ thì số cũng tốt nhưng có nhiều điều trắc trở như: lấy chồng xa xứ mới tốt, lấy nhau cùng làng cùng xóm thì gãy đổ, trung vận 40 trở đi mới mong hưởng vinh hoa phú quý.
    - Theo Cao ly toán số thì bị nhì bần tiện.
    Nói chung là không được 10/10 vì bị người nữ kéo xuống, tuy nhiên duyên trên trung bình nhiều.
    Tránh chơi, làm ăn, hùn hạp với những người khắc tuổi. Cưới đúng năm đúng tháng đúng ngày. Sanh con đúng năm. Tạo được phước đức, v.v. thì mới mong thoát được thất thoát của cải. Nghe lời chồng nhé (vì cung phi chồng là thổ, sinh kim là vợ) chồng có thể giúp vợ thoát khỏi nguy nàn.

    ReplyDelete
    Replies
    1. @Trả lời Nhi Nguyễn:
      1/ Cùng làng cùng xóm ám chỉ nơi sanh ra, càng sanh gần nhau thì càng ứng nghiệm (câu hỏi của bạn).
      2/ Đáng ra hai người lấy nhau là mỹ mãn 10/10, nhưng vì số mạng của người nữ lận đận về tình lẫn tiền nên kéo xuống mấy bậc, kéo xuống bao nhiêu thì còn tùy phước đức bản thân, phước của ông bà cha mẹ, tử vi, tướng số, v.v.
      3/ Hai người xung khác với các tuổi và năm: Canh Tuất, Bính Tuất, Quý Sửu, Đinh Sửu, Ất Dậu, Ất Mẹo. Tránh làm những chuyện trọng đại trong những năm, tháng đó.
      Ngoài ra, không nên lấy chồng cưới vợ năm Tý và Thân.

      Delete
  45. @Trả lời bạn Xuân Hải:
    vợ chồng của bạn phạm Lục sát : Ngũ quỷ bị thứ hung xấu vừa, cũng chưa phải là quá xấu.
    Theo bói toán thì được "tam vinh hiển", tùy theo số mạng cá nhân và phước đức, bạn đọc thêm trang này tìm chổ "* Hiển Vinh: vợ chồng được tam hiển vinh".
    Sanh con cung phi Ly hoặc Khôn thì hợp với cha mẹ được Diên niên và Thiên Y, mà Diên niên yểm được Lục sát. Nhưng phải sanh được trai hay gái đúng năm thì mới không phá phong thuỷ, vì vậy tùy trời ban cho cứu tinh hay không.
    2018 Mậu Tuất, con trai.
    2021 Tân Sửu, con gái
    2022 Nhâm Dần, con trai
    2025 Ất Tỵ, con trai
    2027 Đinh Mùi, con trai.

    ReplyDelete
  46. @Trả lời bạn Thanh Bùi:
    Bạn dọc chổ:
    Trai cung Càn lấy gái cung Ly (tuyệt mệnh). Đó là cung phi bát trạch của hai người.
    Tuy nhiên, bát tự được Sinh khí nên vớt được phần nào chứ không hại đến chết yểu hoặc tù đày. Bát trạch hợp bát tự thì được hạ kiết khoảng 4/10
    Nếu lấy vợ tuổi này, vợ phải hết sức nhường nhịn chồng vì cung phi hành của vợ khắc chồng, nếu không nhịn thì ứng với câu:
    "Khó nghèo, đắc thọ, phú quy thiên." có ý là nghèo khổ thì sống, giàu sang thì chết yểu.
    Số mạng của cả hai nếu sanh vào mùa Thu hoặc Đông (tính theo lịch Ta) thì thuận số, sẽ bớt lao đao. Nếu ai sanh vào mùa Xuân hoặc Hạ, nam số lận đận bị bạn bè hại, nữ số phải đau khổ vì lương duyên.

    ReplyDelete
  47. @Trả lời bạn Thu Hiền:
    + Nữ sanh mùa Thu hợp thời => Tốt, tuy nhiên phải ăn ở thiện tâm để tích đức, nếu ác thì cuộc đời sau này sẽ như "nắm bèo trôi đi".
    + Nam sanh mùa Đông rất hợp. Nếu sanh vào ban ngày thì rất thuận, số giàu. Sau khi có vợ và ngoài 40 tuổi mới phát. Số tha hương lập nghiệp, tự tay làm nên cơ nghiệp không hưởng được sản nghiệp của tổ tiên.
    +/- Bổn mạng Kim và Hoả nhưng Kim này chỉ khắc với Phúc đăng hoả chứ không khắc với hoả của vợ nên không sao. Hoả của vợ chỉ khắc Sa trung kim chứ không khắc với Kim của chồng.
    + Cung phi hành của người nữ là Hỏa, cung phi hành của chồng là Thổ, rất tốt cho chồng vì hành tương sinh.
    + Bói can chi được "nhất phú quý"
    +/- Bạn coi rất đúng về bát trạch và bát tự. Phối hợp lại thì được không tốt không xấu, lềnh bềnh ở giữa ví như cân. Tích được nhiều điều tốt, ăn ở có phước thì cân nghiêng về tốt, nếu không thì ứng ngược lại.
    Tránh cưới năm Mẹo và Tỵ
    Những năm này nên tránh, không nên làm việc trọng đại hoặc hùng hạp: Bính Dần, Canh Dần, Bính Thân, Nhâm Thìn, Canh Thìn, Canh Tuất.

    ReplyDelete
  48. Trả lời bạn thuyhong dang:
    Bát trạch Họa hại, bạn xem chổ trai Cản lấy gái Tốn.
    Bát tự cũng gặp Họa hại
    Tuy nhiên phối hợp bát trạch bát tự thì không tốt không xấu, bạn xem chổ "bán hung bán kiết".
    Nếu lấy nhau thì kỵ năm Thân, Tuất. Ngoài ra tránh những người tuổi này hoặc những năm: Kỷ mùi, Quý Mùi, Tân mẹo, Tân dậu, Canh tuất, Bính tuất.
    Cả hai người số về già mới khá. Người nữ lúc trẻ vận ba chìm bảy nổi, giàu như nước lớn rồi lại ròng. Từ 38 tuổi trở đi mới giữ tiền được.
    Sanh con hợp với cha mẹ sinh Phục vị.
    Chọn nhà, hướng phòng ngủ hướng Phục vị.

    ReplyDelete
    Replies
    1. @Trả lời câu hỏi kế tiếp của bạn thuyhong dang:
      Trong tháng 2 âm lịch có tổng cộng 15 ngày hoàng đạo, tuy nhiên hầu như không có ngày nào tốt cho cưới hỏi, kết hôn. Duy nhứt có một ngảy đó là thứ hai 13.4. dương lịch, tức lả 25.2 âm lich. Trực Bình. Nhưng ngày đó chồng tương lai của bạn phải thận trọng vì là ngày kỵ tuổi. Ngoài ra còn phải tránh giờ xấu cho hai người đó là giờ Thân, Dậu, Tuất, không nên nhập gia động phòng.

      Delete
  49. @Trả lời bạn Phuong Nguyen:
    đã trả lời rất rỏ qua email của bạn trai bạn rồi nhé.
    Đại khái là duyên "hạ kiết" khoảng 3/10

    ReplyDelete
  50. @Trả lời NT: vợ chồng của bạn cùng trong nhóm đông tứ trạch nên tốt.
    cung phi hành như nhau nên tốt.
    Bát trạch, bát tự được 10/10 nên tốt.
    Thiên can, địa chi được Nhất phú quý.
    Nhưng tuổi chồng hại vợ.
    Hành (của mênh) vợ đem lợi cho chồng.
    Nếu chồng chịu nghe lời vợ thì mỹ mãn, nếu không thì tất cả chỉ đạt trên trung bình, phá tan vận số tốt.
    * Chồng sanh vào mùa thu hoặc đông thì gặp nhiều may mắn trong đời, được nhiều kẻ có quyền tước giúp đỡ.
    Sanh trái mùa thì cuộc đời phải chịu gian lao khổ cực.
    Số không chơi được bạn hiền mà luôn gặp bạn phản phúc, vong ơn.
    * Vợ sanh mùa đông hoặc xuân thì số sung sướng, chồng có địa vị sau này. Nhưng phải chịu cảnh "nuôi con cho chồng" (có ý là chồng có vợ bé, con riêng, đem tiền của gia đình nuôi gia đình riêng)
    Sanh trái mùa thì dù có của cũng bị cực thân.

    ReplyDelete
  51. @Trả lời lien dang:
    - Nữ thuộc đông tứ trạch, nam thuộc tây nên không hợp.
    +/- Bát trạch xấu hợp bát tự cũng không tốt hơn, nên không cứu được, tuy vậy không bị tuyệt thế nên xem thêm bài viết trên, chổ "không tốt không xấu".
    + Nam sanh thuận số, sanh ban ngày thì được trọn phú quý. Nhưng số không hưởng được cơ nghiệp tổ tiên để lại.
    + Nữ có chồng có địa vị, duyên trở ngại ban đầu.
    Đời vận đầu xấu, sau mới hanh thông.
    Không hưởng được của cha mẹ. Tiền tự tay làm ra mới giữ được.
    Số lấy chồng càng tốt số (giàu, địa vị, giỏi, đẹp trai, v.v.) thì càng bị lao tâm, rơi nước mắt, khổ luỵ vì chồng.
    Hai người muốn cưới, tránh năm Tý, Hợi.
    Tránh người tuổi các tuổi sau, không làm chuyện trọng đại năm hoặc tháng Canh tuất, Bính tuất.
    Sanh con, chọn hướng nhà, kê giường hướng Phục vị.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Sanh con tránh những năm âm lịch 2017, 2019, 2020, 2022, ...
      Lo tích đức từ bây giờ để động lòng trời sanh con cứu tinh những năm âm lịch:
      2015 trai hay gái đều tốt.
      2016 trai
      2018 trai
      2021 gái
      2023 trai hay gái đều tốt
      2024 trai hay gái.

      Delete
  52. @Trả lời bạn hỏi về "người nhà bên chồng tương lai bảo là không hợp":
    Theo như "bát trạch minh cảnh" thì hai người được Diên niên, còn theo sách khác thì bị Hoạ hại, là xấu nhưng không phải là Tuyệt mạng nên không sao. Mặc khác, bát tự được Phục vị, chính là cứu tinh của cái xấu Hoạ hại. Phối hợp hai cái "Bát" thì duyên này trên trung bình, khoảng 6/10. Muốn chính xác thì phải xem xét các mặt khác, như mệnh cá nhân, phước đức, tử vi, tướng số, v.v.
    Hành của mệnh và cung phi đều là tương sinh nên được thêm tốt.
    Nếu yêu nhau thật lòng, hai người phải đề phòng tránh xa các thế lực xấu.
    Cưới gả ky năm Mùi, Sửu, bính dần, canh dần, bính thân, nhâm tý, bính tý, giáp thân, giáp dần.
    Hai người có vẽ sanh không thuận tháng. Bạn đọc thêm blog này, trang nói về "Lục thập hoa giáp ngũ hành" có nói khái quát về mệnh cá nhân.

    ReplyDelete
  53. Cảm ơn bạn nhiều nhé!
    Bạn có thể nói rõ hơn cho mình về mạng cá nhân được không? mình không hiểu rõ về bói toán lắm, cũng không biết xem như thế nào?
    Mẹ chồng nhà bạn mình bảo: " nếu hai đứa quyết định đến với nhau thì Tháng 8 năm 2015 cưới, lúc đó thì giải được nhiều hạn"
    Mình đọc ở trên "Cưới gả ky năm Mùi, Sửu, bính dần, canh dần, bính thân, nhâm tý, bính tý, giáp thân, giáp dần" năm sau là năm Mùi, như vậy có được không?
    Mong bạn giúp đỡ :-)

    ReplyDelete
    Replies
    1. Mạng cá nhân đại khái, bạn vào trang này tra năm sanh của mình nhé
      http://kimlong9999.blogspot.de/2010/01/luc-thap-hoa-giap-ngu-hanh.html
      Ngoài ra muốn chính xác thì phải coi tử vi, muốn coi thì phải có ngày giờ sanh chính xác và mất nhiều công phu để giải mã, ngoài ra phải xem tướng nữa xem người có phúc hậu hay không mới xét đoán được, tôi khó thể giúp bạn được.
      Duyên trời đinh, xấu tốt gì yêu nhau thì chấp nhận đi.
      Mẹ chồng coi như đã đồng ý cho cưới thì nghe lời đi, mẹ gả vợ cho con trai là đã coi trước coi sau kỷ lắm riồ, bạn còn nghi ngờ làm gì nữa ?

      Delete
  54. @Trả lời bạn Chun:
    Bạn cũng vào trang "lục thập hoa giáp" xem đường dẫn ở câu trả lời trên, tra tuổi của mình và xem tháng sanh có thuận số hay không.
    Bát trạch bị Lục sát. Bát tự được Diên niên và bói toán thì được Tam vinh hiển.
    Phối hợp hai cung phi được Trung kiết tốt trung, tức là đạt khoảng 8/10 tốt.
    Tuy nhiên đây chỉ là một khía cạnh thôi nhé, không nên ỷ lại. Duyên này trong cái xấu lại có cứu tinh

    ReplyDelete
  55. @Trả lời bạn Rio P:
    Bát trạch bị Ngũ quỷ
    Bát tự Tuyệt mệnh xấu hơn nên không cứu được.
    Phối hợp hai cung phi bi Đại hung.
    Hành của cung phi, chồng khắc vợ, nhưng vợ không khắc chồng nên cũng có thể tạm được không xấu lắm.
    Số mạng riêng của người nữ lập gia thất sớm thì nhiều lần chẳng nên. 24 tuổi trở đi lập gia đình mới có thể bền. Tuy nhiên nhờ sanh vào mùa hè (âm lịch) nên thuận số, nếu sanh ban đêm thì tốt hơn, nhưng vẫn bị lận đận về công danh, sự nghiệp và lương duyên trắc trở. Nên tích đức để có được phước giảm khổ luỵ.
    Nói chung duyên hai người xấu nhiều hơn tốt. Nếu muốn sống đời với nhau thì phải tránh những người hoặc năm tháng xung khắc không cưới hỏi v.v. và tích phước đức và gom thâu nhiều Sinh khí thì cũng có thể hoá giải được phần nào điều đại hung.

    ReplyDelete
  56. @Trả lời Sơn Ninh:
    Xét về Bát trạch, bát tự thì được Thượng kiết, đạt khoảng 9/10
    Xét về ngũ hành cũng rất tốt, sinh mạng lưỡng Kim thành khí, cung phi hành: lưỡng Thổ thành sơn.
    Nam Nhâm nữ Quý tốt.
    Tuy nhiên bị nhì bần tiện nên phải xem thêm về mạng riêng của từng người.
    Nam sanh từ tháng 7 đến tháng 12 âm lịch, sanh vào ban ngày thì sô giàu, nhưng 40 tuổi trở đi có tiền của mới mong giữ được.
    Nữ là con gái đầu lòng, sanh tháng 7 đến 12 âm liịch, sanh ban đêm, cha mẹ tụ được phước đức thì con gái mới mong thoát khỏi gian nan khổ cực. Và 40 tuổi trở đi giàu thì mới giữ chồng được, nếu không thì vợ chồng ăn ở không bền.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Theo ngày, giờ sanh đó của hai người, thì tóm tắt lại trong 2 câu:
      "Nghèo khổ gần nhau,
      Giàu cách trở"
      Cách trở ở đây có nhiều nghĩa.
      Nếu cả hai kiên trì, nhường nhịn nhau thì về già mới an nhàn.

      Delete
  57. @Trả lời bạn hỏi về "Chuyện tình cảm của 2 người không được suông sẽ, cấm cản, đào hoa":
    Bạn cho biết thông tin không rỏ, ngày tháng sanh đó là âm hay dương lịch, muốn chính xác thì phải biết giờ sinh đúng nữa.
    Bạn đã đi coi bói, người ta nói bạn không tin thì coi làm chi cho tốn công tốn của.
    Nhưng tôi cũng coi giúp cho bạn (vì bạn hên là tôi đang rảnh). Tôi chỉ xem được đại khái thôi.
    1/ xét về hành thì cả về mệnh và cung phi hai người rất hợp, tức là kết hôn thì giúp nhau tiến đến con đường vinh hoa.
    2/ xét về cung phi phối hợp, đạt khoảng 7/10 tốt
    3/ bói toán hai người đạt "Tam vinh hiển" tốt về danh tiếng, chức phận.
    4/ cả hai đều thuộc tây tứ trạch nên rất hợp.
    Tóm lại, nếu nên duyên thì đạt cũng 8/10 hay 9/10 vì mọi thứ đều tốt.
    Tuy nhiên,
    1/ Số mạng người nữ cao số, phần đông giàu có, có ít lắm một lần dang dở hay gặp chuyện phũ phàng về tình yêu, duyên rối rắm hay bị buồn tủi. Duyên sau mới thành. Trung vận trở đi gia đạo mới yên.
    2/ người nam sanh thuận số nên sung sướng, nhưng bay bướm, đường duyên nợ năm ba lần thay đổi, nhiều đàn bà đeo theo. Có con ít nhứt cũng phải 3 dòng. Suy ra, nếu coi con của vợ chính là 1 dòng, thì người này có ít nhứt 2 vợ bé.
    3/ Người thuộc loại giỏi, nhưng ít ai thật thà, là cả trong chuyện tình cảm.
    4/ gia đình bạn trai của bạn có vẽ thất đức vì họ cấm cản cứu tinh con của họ, đến khi cưới người khác hoặc ăn vụn gặp tuyệt mệnh, phá sạch phong thuỷ, thì ví như chính tay cha mẹ giết con.
    Cảm nhận của bạn về bạn trai như thế nào, có đào hoa hay không? nếu câu trả lời là không thì chắc thầy bói trách lầm người. Còn nếu chính bạn cũng thấy trong lòng không yên tâm vì nghi ngờ người ấy không chung tình thì chấm dứt quan hệ, đừng bao giờ làm vợ bé người này, cũng giống như chính bạn gánh tai họa cho gia đình họ. Bạn đã được 2 lần cảnh báo (1 là thầy bói nói, lần này là tôi). Cũng nên tin tưởng vào giác quan của mình.

    ReplyDelete
    Replies
    1. @Trả lời tiếp theo ...
      Biết bao nhiêu triệu người sanh cùng ngày tháng năm giờ, nhưng số mạng khác nhau, vì sao lại như vậy ? là do nhiều thứ chung quanh ảnh hưởng đến. Thứ nhứt là phước, thứ hai là giáo dục của cha mẹ từ lúc con còn bé, thứ ba sanh ra tánh người đối diện với người xung quanh. Trong trường hợp của bạn, như đã viết ở trên, rỏ ràng cha mẹ thất đức nên mới như vậy.
      Ngựa quen đường cũ, không ai có thể thay đổi gì được khi chính người cha người mẹ đẩy con vào chổ chết mà còn không nhận ra. Báo ứng của trời, người thường ai mà làm gì được.
      2/ Vì vậy, nếu gia đình và bản thân bạn tích được phước đức thì mới giảm bớt nghiệp chướng và đường tình khổ lụy, sầu đau. Nên tránh xa gia đình vô phước đức, hơn là tìm cách cải hoá họ khi chính họ không muốn (cấm cản). Đó là những gì chính bạn có thể chuyển biến được.
      Tôi không biết nhiều về bạn, không biết gia đình và bạn tốt xấu ra sao nên tôi chỉ có thể giúp đến đây, bạn đọc, suy nghỉ và quyết định cho đời mình đi nhé.

      Delete
  58. @Trả lời bạn Tiny:
    1/ Bát tự bị Lục sát là hung khí mọi sự đều gặp trở ngại, có sự cản trở, quan hệ bị xấu đi do tác động bên ngoài,
    2/ nhưng bát trạch là chính lại được tốt hạng nhứt nên duyên này cũng đạt khoảng 7/10 tốt.
    3/ Thiên can, ngũ hành mệnh và cung phi đều tốt, tuy nhiên có hơi ngược một chút là vợ được nhờ (thay vì vợ giúp chồng).
    4/ Được Tứ đạt đạo, tốt. Đạt đạo như cân treo, có được nhiều phước và bổn mạng tốt thì mọi thứ nghiêng về tốt, nếu không thì chỉ được lềnh bềnh nhưng không xấu.
    5/ Con hợp với cha mẹ thì một tốt, một xấu.
    6/ Mạng cá nhân người nữ, sanh lỗi số nên phải chịu truân chuyên về lương duyên. Số có hai đời chồng, nếu muốn cải số (một đời chồng) thì tổ tiên dòng họ và bản thân phải tích tụ được nhiều phước đức.
    7/ Mạng chồng, sanh thuận số nên trong đời thường gặp may. Tiền vận có tiền của cũng không giữ được. Người nhân hậu, đạo đức, tánh thật thà nhưng tâm trạng thường có những chuyện buồn vô cớ.
    Nói chung, gia đình này trong tốt lại ẩn dật cái xấu, tuy bị phá rối bởi hung khí nhưng không gặp Tuyêt mệnh nên còn cứu được. Nhường nhịn nhau và làm sao hoá giải được cái gút "bổn mạng người thì số hai đời chồng, người thì hay buồn vô cớ". Sau 40 tuổi mọi thứ mới yên, an cư lạc nghiệp.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Bạn Tiny ...tiếp theo:
      Lục sát ứng hại vào năm tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
      Đề phòng những người tuổi Nhâm Dần, Mậu Dần, Giáp Tý, Giáp Ngọ, Quý Mẹo, Kỷ Mẹo, Ất Sửu, Ất Mùi.

      Delete
  59. @Trả lời "Nặc danh: bạn trai 2017 về":
    + Ngũ hành bản mệnh tốt, hành cung phi chồng khắc vợ nhưng vợ không khắc chồng nên không xấu.
    + Bát trạch được sinh khí (tốt nhứt), bát tự được phục vị. Phối hợp cả hai thì đạt được 9/10 tốt.
    + Bói toán được tam vinh hiển.
    Nói chung duyên này gần như trọn tốt. Coi thêm câu thơ giải "Trai cung Khôn lấy gái cung Cấn (sinh khí).
    Phải coi thêm sinh mạng riêng của từng người.
    Khái quát người nam sanh thuận số nên tay trắng tạo sự nghiệp, số không nhờ được anh em họ hàng, không hưởng được sản nghiệp của tổ tiên.
    Người nữ số long đong vì sanh lỗi số, trung vận tốt, cưới hỏi hoặc làm việc trọng đại chọn mùa xuân hoặc hè. Số lúc trẻ long đong, phải thay tên đổi họ 2 lần mới hòng được an phận.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Thay tên đổi họ có rất nhiều cách mà không cần phải động đến tên trong khai sanh. Số mạng của bạn nên chính bạn nghỉ ra cách thì mới thay đổi mạng được, để bất kỳ người khác nào tìm cách cho sẽ không thay đổi được gì đâu.

      Delete
  60. @Trả lời bạn nữ sanh 5h kém, nam sanh đêm:
    + Bát trạch đạt phục vị (tốt), tuy nhiên bạn xem đoạn thơ "trai cung tốn lấy gái cung tốn"
    + Bát tự được sinh khí (tốt) cho nên bù đắp được cho bát trạch. Phối hợp thì đạt 9/10 duyên gần như mỹ mãn. Nhưng hình như có cái gì đó làm giảm đi điều tốt, ví dụ như
    - Theo bói toán thì bị ngũ ly biệt, phải xem kỷ mạng cá nhân, tướng số, phước đức gia đình 2 người, v.v. mới biết được.
    + Ngũ hành sinh mạng và cung phi hành đều tốt. Chồng giúp vợ, làm nhiều việc tốt cho vợ.
    +/- Mạng người nữ sanh không thuận số nên mọi thứ ở mức trung bình. Trong đời làm ơn hay bị mắc oán, anh em cũng không hoà thuận. Lúc trẻ tự lập thì hậu vận an cư.
    +/- Nam tuổi khắc mạng nên lận đận lúc trẻ, về sau mới có tiền của.
    * Hai người con không cho biết trai hay gái nên không giúp bạn được.
    Bát trạch Phục vị là có thể chuyển trở về vị trí cũ.

    ReplyDelete
  61. @trả lời phuong mai:
    Ngũ hành mạng trung bình.
    Bát trạch là chính bị Tuyệt mệnh, xấu nhứt trong các thứ xấu.
    Bát tự Sinh khí, tốt nhứt trong các thứ tốt, là phụ nên gở được chút ít.
    Phối hợp hai thứ Bát trạch / tự thì đạt 4/10 hạ kiết.
    Đại khái nếu kết duyên thì cả hai phải có nhiều phước đức cũng như hưởng được phước của tổ tiên, nếu không thì sẽ ứng câu: "Sinh nở gặp lắm lần nguy nan. Nghèo khó thì thọ, giàu thì một trong hai yểu mệnh".

    ReplyDelete
  62. @Trả lời Hùng: "E xem một lúc mà loạn lên hết. :(( "
    1/ xét theo từng người: người nam sanh không thuận số nên có phần gian nan, 40 tuổi trở đi mới mong tạo dựng cơ nghiệp. Người nữ sinh thuận số nhưng lúc trẻ chìm nổi lênh đênh, sanh ban đêm thì phải chịu đựng mọi vất vả, 40 tuổi trở đi mới mong giàu được.
    2/ xét về hành của mệnh thì hai người cũng không được, vợ hại chồng.
    3/ xét về cung phi hành cũng khắc, vợ hại chồng.
    4/ xét về tuổi thì chồng hại vợ (xem chổ lục hại).
    6/ bát trạch là chính thì bị ngũ quỷ.
    7/ bát tự phụ để xem có gở được không, thì bị tuyệt mệnh, xấu hơn nữa
    Xét tổng quát thì duyên này bị đại hung, vì vợ hại chồng năm lần bảy lượt nên đoán là người nữ sẽ sát phu, giết chồng. Đến đời con cháu cũng suy bại. Nếu kết duyên thì có lẻ dử nhiều hơn lành. Nội bát trạch không thôi (chưa kể đến tuyệt mạng của bát tự) đã thấy đáng ngại rồi:
    "Cấn, Khảm giao hòa sự khó hòa
    Biến hình ngũ quỷ họa không xa
    Tuy sinh mà khắc vì phương vị
    Cháu con suy vì hại thất gia.

    Duyên nợ nữa đời chuốc nhiều ảm đạm
    Số ắt dời đổi hai lần
    Nếu không thì phải lâm vòng hoạn nạn."


    ReplyDelete
    Replies
    1. @Trả lời Hùng: tôi đã tính lại bằng cả bốn cách, kết quả vẫn không thay đổi.
      Cách thứ I: cùng năm sanh với nam thì nữ (7) Đoài, suy ra bát tự của bạn là nam Khôn.
      Bát tự bạn gái là Khảm, bát trạch cũng Khảm (không thay đổi)
      Bát tự hai người Khôn/Khảm Tuyệt mệnh
      Cách II tính bát trạch nam: cộng năm sanh người nam = 3, lấy 11-3=8 => bát Cấn
      Bát trạch của hai người Cấn/Khảm Ngũ quỷ
      Cách III bát trạch nam: cộng năm sanh rồi trừ 9 = 3, (tra bảng xanh đỏ) bát trạch nam là Cấn
      Cách IV xem bảng đã tính sẳn: bát trạch nam Cấn nữ Khảm => Ngũ quỷ
      Bạn tính không ra giống tôi, cũng có thể là số mạng như vậy, gan thì bạn thử chống lại với số xem, hoặc đừng tin, hoặc tin là bạn tính đúng (thiên y). Bởi vì đâu ai có thể bảo đảm mọi cách tính trên đây là đúng, tôi cũng theo sách người ta viết thôi mà.

      Delete
    2. Kiếm Phong Kim / Sơn Đầu Hoả là hành của sinh mệnh, coi cho bổn mạng, và tốt xấu chuyện kết bạn, buôn bán, làm ăn, người hậu duệ, giúp việc, tín cẩn, v.v.. Tính chuyện vợ chồng dùng hành của cung phi (Thổ / Thuỷ) và bát trạch, bát tự.
      Còn nữa, theo bói toán nam Nhâm lấy nữ Hợi bị ngũ ly biệt.
      Trời đang sáng, bạn định đi vào con đường đầy sương mù, hai bên là hố sâu, bên kia có thể là sáng hoặc cuối đường lại là hố sâu. Bạn nhờ tôi dẫn bạn, thì tôi không dám xúi bạn thế này thế nọ đâu, có gì thì mang tội thất đức xúi người vào con đường chết.
      Tôi chỉ có thể giúp đến đây, bạn tự quyết định cho đời mình đi nhé.

      Delete
  63. @Trả lời bạn hỏi về "bán khoán":
    Tôi xem cũng ra như bạn, ngũ quỷ/tuyệt mệnh.
    Nhưng cũng rỏ ràng cả hai đứa con là cứu tinh cho gia đình.
    Cha con hợp thành sinh khí trấn áp được ngũ quỷ,
    cha làm lợi cho con, cha con cùng chung tứ trạch và hai đứa con hợp thành thiên y hoá giải tuyệt mệnh.
    Theo tôi thì không nên bán khoán hay thay đổi gì cả vị trí con cái trong gia đình của bạn, vì "bán" đi một thì quỷ hoành hành hoặc có người yểu mệnh. Khi muốn có thêm con, cũng nên cẩn thận không thì phá tan phong thuỷ.
    Tiếp tục tu tâm tích đức thì cứu tinh xuất hiện như bạn hiện có rồi còn gì.

    ReplyDelete
  64. @Trả lời bạn sinh 16h20:
    - Bát trạch bị tuyệt mệnh.
    + Bát tự tuy được phục vị là tứ cát tinh nhưng phục vị không hoá giải được cái xấu của tuyệt mệnh. Phục vị quân bình giữa tốt và xấu, chuyền biến hay nôm na gọi là loại ba phải, gặp tốt thì chuyển tốt, còn gặp xấu thì chuyển thành xấu. Suy ra không giúp gì được cho hai người.
    Quy luật phong thuỷ trong trời đất đã là như vậy, không ai có thể chuyển xấu thành tốt được.

    ReplyDelete
  65. @Trả lời phung thanh:
    1/ Thổ/Thổ là hành sinh mạng, dùng để xem cho bổn mạng từng người, xem chuyện hôn nhân thì nam cung phi hành thủy, nữ hành kim, tốt, vợ giúp chồng.
    2/ Tuổi hợp
    3/ Bát trạch là chính bị lục sát, xấu
    4/ bát tự phụ, được sanh khí, tốt. Tuy nhiên chỉ giúp chút ít thôi. Nếu lấy nhau phải tìm được nhiều Diên niên mới hoá giải được lục sát.
    Phối hợp hai thứ "bát" thì được khoảng 7/10 tốt nhưng phải biết nhường nhịn nhau, không thì ứng câu:
    "Buồn cho duyên nợ long đong
    Bất hòa tâm lý vợ chồng đảo điên."
    5/ Ngũ hành phối hợp sinh tài, hưởng sung sướng đến già.
    6/ bói cao ly được nhất phú quý
    Bạn không cho biết tháng sanh nên tôi chỉ giúp được đại khái như vầy.
    Theo bổn mạng thì cả hai người nên lấy nhau càng trể càng tốt vì lấy chồng, vợ sớm thì sẽ gãy đổ. Cả hai, 40 tuổi trở đi thì đời mới mong được thăng tiến, giàu sang. Nói chung duyên trên trung bình, nhưng cần tránh nhiều điều gây ảnh hưởng xấu thêm cho lục sát.

    ReplyDelete
    Replies
    1. @trả lời phung thanh tiếp theo:
      bạn bỏ cách tính cung phi bát trạch thứ 1 đi, cách đó hình như có vấn đề (tôi cũng chỉ sưu tầm từ sách thôi).
      Theo cách tính thứ 2, thứ 3 và đối chiếu bảng bên dưới thì bát tự của hai người là Đoài: Càn, theo 3 cách đều ra kết quả như vậy thì chắc là đúng.
      + Cả hai đều sanh tháng thuận số nên tốt.
      - Cưới nhau "muộn màng" thì không có ở đâu nói trể là bao nhiêu tuổi, có thể là theo cảm nhận của bạn thôi.
      Nhưng nên tránh cưới hoặc đề phòng những năm sanh con, những người kỵ tuổi sau đây:
      Nhâm Tý, Bính Tý, Giáp Thân, Giáp Dần, Quý Sửu, Đinh Sửu, Ất Dậu, Ất Mẹo. Ngoài ra kỵ cưới năm Sửu và Thân.
      Duyên này tốt xấu lẫn lộn không rỏ ràng, bổn mạng người nữ có ghi là lấy chồng xa xứ thì tốt, lấy người cùng làng cùng xóm thì gãy đổ. Như đã có nói ở trên, cả hai biết nhường nhịn và tôn trọng nhau và hưởng được phước đức của tổ tiên thì về già được sung sướng. Sanh con khi nào thì tôi không giúp được vì coi kỹ cần thời gian, mà lúc này thì cả hai chưa tiến đến đâu nên coi trước chuyện xa xôi làm gì.
      Tôi chỉ có thể giúp đến đây, hợp hay tan là do số hai người thôi.

      Delete
  66. @Trà lời bạn "Văn Quỳnh" (vợ chồng cách nhau 8 tuổi):
    bạn không cho biết tháng sanh nên tôi không xem được toàn bộ được, chỉ có thể coi đại khái như vầy...
    - Chồng có số đào hoa, cưới 3 lần, lần thứ 4 mới yên duyên phận.
    - Vợ là người cứng đầu nên duyên lận đận, khổ lụy vì tình. Người ngay thẳng thì không ưng, chịu người dịu ngọt đầu môi. Số khắc khẩu với chồng. Có ít nhứt 2 đời chồng, cưới lần thứ 3 mới mong sống giai lão.
    + Tuổi thuộc tam hợp nên tốt.
    + Xét về hành thì chồng làm lợi cho vợ.
    - Tuy nhiên xét bát trạch bát tự thì duyên này chỉ trên trung bình một chút 6/10 là nhờ bát tự tốt nên mới được như vậy.
    - Bát trạch là chính, bị Họa hại hay còn gọi là Tuyệt thế là đoạn tuyệt tình ta, tình người.
    Năm ba lần cho thấy rỏ, cả hai không chung thuỷ, chung tình.
    Câu thơ cho hai người là:
    "Hai người khắc phá khó nên duyên
    Họa hại buồn thương lắm lụy phiền
    Bịnh hoạn triền miên tiền của sạch
    Cháu con nghèo khó lại không hiền.

    Tiền hậu phu thê thủy chung bất nhứt
    Sống đời tật ách đeo mang
    Vợ chồng đa đoan thiệt thòi thân phận."

    ReplyDelete
  67. @Trả lời "nặc danh" trai Bính ... gái Mão:
    bạn cũng không cho biết tháng sanh, nên đại khái như vầy...
    - Trai có số đào hoa, duyên nợ năm ba lần thay đổi, có con ít nhứt 3 dòng (suy ra ngoài vợ chính, còn có 2 vợ bé hoặc ly dị 2 lần).
    - Người nữ là "cọp nhà" nên nếu lấy chồng này suốt đời phải chịu lụy (lép vế). Là người không giữ vững lập trường, ai năn nỉ thì siu lòng, thích dịu ngọt mà không còn lý trí. Số về già lao khổ còn thêm sầu bi. Tình duyên có ít nhứt 1 lần dang dở hay phủ phàng. Từ trung vận trở đi (khoảng 35 tuổi trở đi) duyên nợ mới yên.
    + Duyên này đạt được 7/10 tốt.

    ReplyDelete
  68. @Trả lời bạn hỏi về: "bạn trai sanh tầm 11h, bạn gái sanh tháng 6 lúc 5:30"
    - Bát trạch bị rơi vào Tuyệt mệnh, đoạn tuyệt tình ta tình người.
    "Ly, Càn thủy hỏa chớ nên gần
    Phận mỏng thà cam chịu rẽ phân
    Nếu được cùng nhau đầu tóc bạc
    Cháu con nghèo khó mạng cơ hàn.

    Duyên nợ gãy gánh giữa đàng thảm thương
    Cho hay cái số đoạn trường
    Lụy phiền ly tán bất tường phu thê."
    +/- Bát tự được Phục vị tốt, tuy nhiên bản chất của phục vị là hùa theo, khi gặp tốt làm cho tốt hơn, gặp xấu thì nó nghiêng về xấu, gặp Tuyệt mệnh ở bát trạch nên phục vị không giúp gì được nhiều.
    + người nam sanh thuận số nên trong đời thường gặp may, tuy nhiên không có phần chơi với bạn bè, thường gặp bạn phản trắc không chân tình. Tiền vận phải chịu nhiều gian truân, về già mới khá. Phải cẩn thận vào những tháng kiêng kỵ, dễ gặp nguy: tháng dần, mẹo, thìn, tuất, sửu, mùi.
    + người nữ sanh thuận số, sanh ban ngày nên quý tướng, số giàu, tuy nhiên duyên phận lúc tuổi nhỏ bi thương. Bốn mươi tuổi về sau mới yên phận, hưởng vinh hoa phú quý. Phải lập nghiệp phuơng xa, lấy chồng xa xứ thì tốt.
    Nói tóm lại, mạng của từng người thì tốt, nhưng hợp hai người hợp duyên thì dưới trung bình, thứ hung xấu vừa, đạt tối đa 3/10 hay 4/10 (10/10 là duyên mỹ mãn).

    ReplyDelete
  69. @trả lời lien nguyen:
    - Người nam số dù giàu hay nghèo gì cũng được thanh nhàn.
    - Theo bói toán thì duyên này được Tam vinh hiển, bạn coi chổ giải thích tam vinh hiển là như thế nào.
    - Bát trạch và Bát tự đều gặp lục sát, không tốt không xấu. Coi thêm chổ chú thích ở trên chổ * không tốt không xấu, có viết và giải thích rỏ hợp duyên thì như thế nào và phải tránh những điều gì. Thí dụ như tránh cưới và những người tuổi Nhâm Thìn, Canh Thìn, Canh Tuất, Quý Tỵ, Tân Tỵ, Tân Hợi.
    Bạn không cho biết tháng sanh nên chỉ coi được đại khái như vậy. Nếu tích được phước đức và sanh không lỗi số thì cũng vớt được chút đỉnh, nếu không thì ứng với:
    Lục sát hình xung khó kết thành
    Ngân hà trắng xóa nước mênh mông
    Tha phương gặp gỡ còn nhàn hạ
    Một xứ giao hòa, họa hại sinh.
    Duyên nợ ắt chịu sầu bi tháng ngày
    Đa truân hộ lụy nạn tai
    Căn định lục hại tương lai mơ hồ.

    ReplyDelete
  70. @trả lời "st tranh đẹp" Bát sgh dùng duy nhất cung phi để xem.

    ReplyDelete
  71. @Trả lời bạn nữ sanh 3:30, nam 9:20
    cha mẹ bạn trai của bạn có vẻ không ưa bạn gái của con trai mình nên mới đem "lưỡng kim, kim khuyết" ra để triệt bỏ người yêu của con mình như vậy. Lưỡng kim đó là hành của mạng, không liên quan gì nhiều tới chuyện hôn nhân.
    - hành của cung phi vợ giúp chồng.
    - Bát trạch là chính lại được Diên niên phước đức nên tốt.
    - Tuy nhiên, bát tự thì bị Tuyệt mệnh, nhưng bát tự chỉ là phụ nên không nguy hiểm lắm. Nhưng không được mỹ mãn vì kéo Diên niên xuống còn "hạ kiết" tức là tốt nhưng mức thấp khoảng 4/10 tốt. Quả đúng như vậy vì bị bên gia đình quả quyết sai lầm rồi phán.
    Xem tổng quát bản mệnh của từng người, cả hai số sang nhưng về già giàu mới tốt.
    Còn nữa, số người nam thì có hạnh phúc hay không còn tùy cha mẹ. Cha hoặc mẹ có 2 đời vợ / chồng thì người con mới có được hạnh phúc và 1 chồng 1 vợ, còn không thì duyên nợ truân chuyên lận đận (có nghĩa là nếu cha có vợ bé hoặc mẹ là vợ bé hoặc cha chết sớm mẹ tái giá, cha mẹ ly dị và có vợ khác chồng khác). Số phải tự quyết định, tự lập thì mới làm nên sự nghiệp.
    - Người nữ lúc trẻ có của thì vợ chông sẽ không bền, có nghĩa là con gái nhà giàu thì sẽ lận đận về tình duyên. Tuy vậy, sanh thuận số nên 50 tuổi trở đi phú quý ít ai sánh bằng.

    ReplyDelete
  72. @Trả lời bạn chồng Thìn vợ Tỵ:
    - Ngũ hành cung rất hợp, chồng làm lợi cho vợ, cũng có nghĩa là vợ nên nghe lời chồng thì khá.
    - Bát trạch bị Lục sát nhưng bát tự cứu gỡ được vì được Diên niên (Diên niên yểm lục sát). Và phối hợp 2 thứ thì được 8/10 nhưng 1 thứ không tốt nên chỉ được Trung kiết tức là tốt mức trung bình.
    - Sanh con năm 2017 nếu sanh được con gái thì tốt vì con gái hợp với cha được Thiên y và con gái hợp với mẹ được phục vị.
    - Chồng số phải lập nghiệp phương xa thì mới khá. Lúc nhỏ khổ cực nhưng hậu vận được sung sướng.
    - Vợ số khắc với cha, nếu sanh ban đêm và sanh vào mùa hè hoặc thu (tháng 4 đến 9 Âm lịch) thì số giàu sang, ngoài ra thì đời cơ cực có chồng cũng không nhờ được.
    - Ăn ở có phước đức thì có quới nhơn trợ giúp.
    - Nhà chọn cửa chính xoay về hướng Bắc.

    ReplyDelete
  73. @Trả lời bạn "trai hơn một, nữ sanh tháng 3 dương, nam tháng 11 dương lịch. Con 2011"
    Lưỡng thổ đó là hành của sinh mạng là số bản thân từng người chứ không xem cho hôn nhân. Ngoài ra "đất pha cát" đất sa mạc thì không thể thành núi được, giỏi lắm là gò cát nhưng cũng không bền gió thổi qua là tan biến hết.
    + Hành của cung phi là chồng Kim vợ Thủy, tương sinh, chồng làm tốt cho vợ, vợ nhờ.
    +/- Nữ sanh lỗi mùa nên số cực, không gần cha mẹ, phải ly hương. Tiền vận lao đao.
    +/- Nam số lập nghiệp phương xa thì mới khá, số gặp nhiều may mắn trong đời.
    - Bát trạch là chính thì bị Lục sát nên xấu.
    - Bát tự được Sinh khí nên gỡ được một phần, nhưng không hoàn toàn vì Lục sát cần có Diên niên mới hoá giải được.
    Hợp hai "bát" thì được 7/10 Trung kiết tức là tốt mức trung bình.
    Bạn không cho biết rỏ 2 người sanh ban ngày hay đêm và con là gái hay trai nên không thể coi kỹ được.

    ReplyDelete
    Replies
    1. @Trả lời tiếp:
      - Người vợ sanh lỗi số nên cuộc sống cơ cực phải tay gồng vai gánh, đời gặp lắm truân chuyên, tuy vậy đi đâu cũng có quới nhân giúp đỡ nhờ đó mà ngoài 40 có được cuộc sống an nhàn.
      + Chồng tốt số, chẳng lao tâm lực cũng thành công, là người có quyền tước hoặc có óc kinh doanh hoặc chỉ huy nhiều người.
      + Con trai hợp với cha tạo Sinh khí, tốt.
      Hành cung phi của con trai giúp cho mẹ nhưng ngược lại bị họa hại, tức mẹ hại con, cho nên để chồng dạy cho con (theo quyết định của chồng mà dạy con). Con sau này sống đời tự lập, không gần gũi cha mẹ.
      Như vậy, chồng/con là quới nhân cho vợ/mẹ.
      Giúp tới đây thôi nhé.

      Delete
  74. @Trả lời bạn hỏi về:
    Sanh tháng 9 Âm lịch lúc 03:30 sáng là sanh vào giờ Sửu.
    Cảm ơn đã cho biết thiếu sót, đã bổ sung tháng viết thiếu rồi đó.

    ReplyDelete
  75. @Trả lời bạn hỏi về cung sinh mệnh: bạn tìm trang tôi viết về "lục thập hoa giáp ngũ hành", tìm tuổi của mình, ở đó sách đã có tính cho luôn hành của sinh mệnh, khỏi cần phải tính gì thêm. Nhưng đó là hành chính chỉ cho bản thân của mình thôi nhé, không coi cho chuyện tốt xấu vợ chồng cưới hỏi.

    ReplyDelete
  76. @Trả lời Duy 13:45h:
    +/- Nam: số lấy vợ sớm thì gãy đổ. Sanh lỗi số nên gian nan cũng khá nhiều. Số tự lập không được anh em dòng họ giúp đỡ. Không hưởng được cơ nghiệp của tổ tiên.
    +/- Nữ sanh thuận số giàu. Số khắc cha mẹ. Đến già mới mong thanh nhàn. Lấy chồng Ngựa, Trâu, Long, Hổ thì thành.
    - Bát trạch gặp Họa hại, cần tìm Phục vị để hoá giải.
    - Bát tự được Thiên y, tốt nên cũng gỡ được chút đỉnh cái xấu của họa hại.
    + Tuổi thì trong nhóm tam hợp nên tốt.
    +/- Hành của cung phi tuy khắc nhưng không sao vì chồng khắc vợ thì tạm được.
    + Theo cao ly bói toán thì kết hôn được Tam vinh hiển.
    Nói chung là tốt xấu lẫn lộn, coi như duyên bình thường.
    Trong thơ có nói: "nếu xa quê mà gặp nhau thì cũng tạm được" và cưới càng trễ thì mới bền lâu.

    ReplyDelete
  77. @Trả lời Nga nam tháng 7 nữ tháng 11. Không cho biết giờ sanh nên không coi kỹ được bản mệnh để phối hợp, cho nên coi đại khái thôi nhé, ngay ban đầu không cho biết rỏ, tôi không có thời gian coi lại nữa đâu... duyên hai người có một tốt là: thiên can địa chi hợp lại được "tam vinh hiền".
    - Ngũ hành tương khắc, nếu lấy nhau thì vợ hại chồng.
    - Bát trạch gặp ngũ quỷ, theo bát trạch minh cảnh bị lục sát.
    - Bát tự bị tuyệt mệnh
    Phối hợp duyên bị đại hung, câu thơ như vầy:
    "... lục sát họa đeo dày
    Chồng vợ bất hòa lắm đắng cay
    Nếu được giàu sang thì cách trở
    Gần nhau lệ đổ suốt canh dài.

    Có số phu thê âm thầm tủi hận
    Gia đạo lục đục bất hòa
    Đời sống cơ hàn, con cái lận đận."

    Muốn hóa giải phải tìm thật nhiều Sinh khí hoặc Diên niên.

    ReplyDelete
  78. @Trả lời Oanh, nam sanh giờ Dậu, nữ giờ Sửu.
    Nam: sanh thuận mùa nên tốt số, được nhiều người thương yêu giúp. Số có vợ giàu. Cách trở cha mẹ, xa quê hương thì sau này mới lập nên cơ nghiệp. Có quan chức nhưng ban đầu khổ sau mới thành. Lúc trẻ cầm của không bền. Về già phú quý thanh nhàn. Cưới vợ sớm thì gãy gánh giữa đường, biệt ly. Phước căn tu đã tích được một phần ba. Tu tâm tích đức thêm thì mới thọ.
    Nữ sanh thuận mùa, tốt số lại sanh ban ngày nên quý tướng hơn nữa. Vợ chồng không hạp âm dương và anh em không hòa thuận "gần thì gây gỗ, đi xa thì nhớ hoài", số không nhờ được cơ nghiệp của tổ tiên. Có chồng là người có địa vị trong xã hội. Lấy người cùng làng cùng xóm thì gãy đổ. Nên lập nghiệp phương xa, lấy chồng xa xứ mới tốt.
    - Bát trạch bị Tuyệt mệnh, có câu sách nói rằng:
    "Tuyệt mạng thì hẳn lo âu,
    Nhược bằng ai cãi lấy nhau không bền."
    +/- Bát tự được phục vị nhưng bản chất là thấy tốt thì giúp cho tốt, gặp xấu làm cho xấu thêm nên không giúp ích được.
    - Phối hợp bát trạch / tự bị thứ hung xấu vừa.
    Câu thơ cho hai người là:
    "Ly, Càn thủy hỏa chớ nên gần
    Phận mỏng thà cam chịu rẽ phân
    Nếu được cùng nhau đầu tóc bạc
    Cháu con nghèo khó mạng cơ hàn.

    Nợ duyên gãy gánh giữa đàng thảm thương
    Cho hay cái số đoạn trường
    Lụy phiền ly tán bất tường phu thê."
    - Bạn hỏi về sanh con 2016:
    nếu sanh trai, cha với con bị Lục sát, với mẹ bị họa hại. Suy ra làm xấu thêm.
    nếu sanh gái, cha con tạp Diên niên, mẹ và con gái tạo ngũ quỷ. Mà Diên niên cũng không hoá giải được Tuyệt mệnh của bát trạch mà phải tìm thật nhiều "Thiên y". Làm thế nào tìm thì chính bạn tìm ra thì mới linh, ráng tích đức thì được may mà hoá giải.

    ReplyDelete
  79. @Trả lời bạn nữ sanh 10 Âm nam tháng 12, con gái tháng 12 Âm.
    Nữ sanh thuận mùa số giàu sang. Có chồng có địa vị. Không hưởng được của của cha mẹ. Phải tu tâm làm phước nếu không thì về sau phải chịu cảnh nuôi con cho chồng hoặc có hai dòng con.
    Nam không trông nhờ được dòng họ, anh em xung khắc. Làm ơn cho bạn nhưng bị bạn phản, tiền bạc trợ giúp nhưng bạn trở tay đâm mình. Phải tích đức nếu không thì khó thoát bị giam cầm.
    Con gái sanh thuận mùa nên giàu nghèo gì cũng sướng. Số không nhờ được anh em. Trong đời phải chết hụt một lần. Số lưu lạc nhiều nơi, nếm đủ phong trần, sau mới thành đạt nhờ có chí lớn.
    - Vợ chồng, Bát trạch bị ngũ quỷ. Bát tự được phục vị. Tóm lại được 5/10 hạ kiết, tốt mức thấp.
    Thiên can địa chi được tam vinh hiển.
    Sanh con gái 2019 tốt hoá giải được ngũ quỷ, nhưng sanh được con trai canh tý 2020 thì mỹ mãn.

    ReplyDelete
  80. @Trả lời N. Lan: nữ 24.06. nam sanh tháng 10. đó là ngày Âm lịch hay dương? và không cho biết rõ giờ sanh nên không thể coi chính xác đươc.

    ReplyDelete
  81. @Trả lời "Hoà Thu":
    Bát trạch và bát tự đều được Diên niên (phước đức) là một trong 4 loại tốt, vì vậy hợp duyên được 10/10 thượng kiết, tốt.
    Tuy nhiên coi về mặt số mạng cá nhân thì cả hai xa quê lập nghiệp xứ khác mới tốt. - Nam trong đời gặp nhiều gian nan, không hưởng được sản nghiệp tồ tông, phải tự tay lập cơ nghiệp. Sanh nhằm giờ hoàng đạo nên gỡ được chút ít.
    Người nữ sanh cũng giờ hoàng đạo, nhưng sanh vào tiết lập đông tức là đầu mùa đông nên cũng không bị xấu lắm bởi vì sanh vào mùa thu thì mới là thuận số, giàu sang.
    Cả hai ăn ở cần kiệm, đừng lêu lỏng thì về già mới có của. Cả hai tuổi ngoài 40 mới phát đạt được.
    Nếu thành vợ chồng thì:
    "Giàu có ắt là cam hiếm muộn
    Gặp nhau xa xứ mới là yên.

    Đẹp duyên cá nước tiền tài hưng vượng
    Số này thời vận đáng mừng
    Nhiều con, nhiều của bậc trung thanh nhàn."

    ReplyDelete
    Replies
    1. @Hoà thu: lần trước viết "nữ sanh ngáy 10 dương" bây giờ sao lại là ngày 8 ?
      1/ Năm bạn hỏi có các ngày tốt sau đây, tất cả là dương lịch hết nha.
      14.03; 26.03; 03.09; 10.09; 22.09; 28.09 tất cả là ngày Hoàng đạo.
      2/ trước năm 2020 không có năm nào mỹ mãn.
      * 2020 rất tốt, sanh trai hay gái đều tốt, hợp với cha mẹ được Diên niên, phục vị => 9/10 tốt.
      * 2021 sanh được trai thì tốt, hợp với cha mẹ được Sinh khí, Thiên y.
      Nếu sanh ra con gái thì mắc phải Ngũ quỷ, Hoạ hại. Xấu.

      Delete
    2. @Hoà thu: nếu sanh ngày 8 thì số mạng cá nhân tốt hơn nhiều so với ngày 10, có số xuất ngoại. Tuy vậy số ngoài 50 mới trọn tốt, trước tuổi đó thì thăng trầm thay đổi.
      * 2018, trai hay gái gì cũng xung khắc Thiên can, ngũ hành với cha lẫn mẹ.
      Nhưng xét về cung phi, nếu sanh được con gái thì hợp cùng cha me được thiên y, sinh khí, rất tốt. Nhưng nếu sanh trai thì rất xấu vì bị Hoạ hại, ngũ quỹ.
      Số phận gđ vợ chồng tự quyết, sợ người đời dèm pha thì coi làm chi năm nào tốt xấu ? cứ nhắm mắt làm như người khác muốn. Coi những cái này cũng chưa chắc đúng 100% vì còn phải phụ thuộc tổ tông và chính bạn ăn ở có phước hay không.
      Tương lai gia đình bạn như thế nào ? tôi không thể giúp gì thêm.

      Delete
  82. @thu cuong: hai năm đó năm nào là vợ năm nào là chồng, sanh đầu hay cuồi năm?
    không cho biềt rỏ thì không thể coi chình xàc được, coi lờ mờ sai bét thì thà là không coi cho xong.

    ReplyDelete
  83. @trả lời Thạch Thảo: người nam phải sống xa xứ thì mới ngốc đầu lên được bởi vì số không hợp với gia đình, anh em thân quyến hại nhau.
    Người nữ con nhà giàu thì duyên lận đận. Cha mẹ không có đức số con khổ cực.
    Nếu hợp duyên và bỏ ngoài tai những lời dèm pha thì đạt gần mỹ mãn 9/10 tốt, mạng và cung phi hành đều hợp. Nếu mua nhà, chọn cửa chính nhìn hướng Đông Bắc.
    Nếu cưới nhau rồi thì vợ chồng phải hết sức nhường nhịn nhau, nếu bị ảnh hưởng các thế lực bên ngoài thì dễ gây lộn dẫn đến ly dị.
    Nói chung, bản mệnh và bản thân của hai người hợp lại với nhau thì tốt, tin tưởng như vậy thì có hạnh phúc, nếu không có lòng tin thì dễ dẫn đến gẫy đỗ.

    ReplyDelete
  84. @trả lời nữ sanh tháng chạp, nam sanh tầm 12 1 giờ trưa...
    + Sinh mạng âm dương ngũ hành hợp, tuổi hợp.
    + Cung phi hợp, tốt, chồng sẽ làm nhiều việc có lợi cho vợ.
    + Đạt nhứt phú quý, cho nên hợp duyên thì tốt, hữu duyên, tài lộc sung túc, con cháu hiền thảo.
    Bát trạch bị xấu nhưng không đến mức xấu nhứt, lại có bát tự khá tốt nên cứu được chút ít, đạt khoảng 6/10 tốt.
    Số mạng cả hai tuổi nhỏ lận đận, tính toán gì cũng như nước chảy trôi đi, người nam từ 36, người nữ từ 38 tuổi trở đi mới mong khá được.
    - Người nam phải sống xa cha mẹ và quê hương mới thọ, hậu vận mới hưởng được vinh hoa phú quý.
    - Người nữ muốn an phận phải thay tên đổi họ hai lần.
    Muốn làm việc gì trọng đại thì nên chọn mùa xuân hoặc hè.
    Kỵ cưới nhau năm Dần hoặc Dậu.
    Kiêng những người tuổi Quý sửu, đinh sửu, ất dậu, ất mẹo, bính tý, nhâm tý, giáp thân, giáp dần.
    Chọn nơi ở của vợ chồng cửa chính xoay hướng Đông bắc.

    ReplyDelete
  85. @trả lời nữ sanh năm Giáp Tuất, "xem 1 hồi e rối hết lên ko rõ là như thế nào, e chỉ biết là 6 phần tốt".
    +/- Bát trạch xấu, nhưng nhờ có bát tự tốt nên mới được 6/10 trung kiết, tức là tốt trung bình.
    - Hai người trong cặp tuổi hại nhau, người nam sẽ hại người nữ.
    - Hành của cung phi vợ khắc chồng, hay cãi nhau sinh ra lục đục, cuộc sống khó khăn, nhà cửa thanh bần.
    - Theo cao ly, bị ngũ Ly biệt. Có câu: "Kỵ nhẹ lìa sống với nhau, kỵ nặng lìa thác sầu đau một mình." (nếu nhẹ thì chia tay, ly dị. Nếu nặng thì vợ chồng có người sống kẻ chết). Tuy nhiên trong mạng cá nhân có cho biết rằng nếu cha mẹ của người nam có 2 đời chồng, vợ hoặc là con trai của vợ kế, vợ bé (tức là bạn trai của bạn là con của vợ chính, vợ kế, vợ bé hoặc người mẹ có 2 đời chồng), thì người nam này mới mong được một chồng một vợ.
    - Kỵ với những người tuổi: Đinh Mẹo, Tân Mẹo, Đinh Dậu, Nhâm Thìn, Canh Thìn, Canh Tuất. Tránh cưới năm Thìn và Tỵ.
    Những câu thơ cho duyên của bạn là:
    "Mẹ cha tang tóc cháu con buồn
    Ngũ quỷ phạm thì giọt lệ tuôn
    Đa sinh bịnh tật, đa tai nạn
    Vui ở, buồn bay, mỏng cánh chuồn.

    Cố công cho mấy ra gì kiếp sanh
    Nợ duyên như sợi chỉ mành
    Thân danh sự nghiệp bất thành không sai."
    Nói chung chung thì duyên này xấu nhiều hơn tốt, phải có nhiều phước đức thì mới thoát được cảnh chia ly, phải chú trọng vào bản mệnh của từng cá nhân mới đoán được chính xác. Trời đã trao duyên, biết được như vậy thì lo tu tâm tích đức để lấy đức năng mà thắng số.

    ReplyDelete
  86. @trả lời Việt Anh: muốn coi chính xác những điều bạn muốn biết thì phải phối hợp nhiều mặt như tử vi, tướng số, lục thập, hành mạng, hành cung phi, cân xương, đồng thời vợ / chồng cũng ảnh hưởng nhiều đến sự thành bại, có nghĩa là được nhiều phần tốt thì mới mong thành công giữ được của. Bạn cho biết chỉ một, không biết là nam hay nữ, ngày tháng âm hay dương, giờ sanh, vợ / chồng sanh ngày giờ nào thì chỉ có bạn mới xem cho bạn được, không ai trên thế gian này có thể giúp cho bạn được (trừ những người lường gạt lấy tiền của bạn rồi nói bừa nói đại).

    ReplyDelete
  87. @Trả lời Phuong Ly:
    - Nữ: số bôn ba, hiếm con hoặc con khó nuôi. Lấy chồng có địa vị. Hậu vận không bằng trung vận.
    - Nam: tuổi từ trung niên trở đi mới thảnh thơi, số xa xứ làm ăn mới khá. Tiền vận làm giàu rồi cũng hết. Hưởng được phước của tổ tiên thì vinh hiển, vô phước thì coi chừng bị tù đày.
    - Cung phi ngũ hành số vợ giúp chồng.
    - Kỵ cưới năm Đinh Dậu 2017.
    - Chọn mùa xuân hoặc hè cưới nhau.
    - Bát trạch được Diên niên, tốt. Bát tự bị Tuyệt mệnh, xấu nên đại khái duyên này được 4/10 hạ kiết.
    - Xét về thiên can địa chi đạt tam vinh hiển, tốt.
    - Sanh con gái hay trai năm 2019 Kỷ Hợi đều tốt.
    - Kỵ với người tuổi: Nhâm Tý; Bính Tý; Giáp Thân; Giáp Dần; Mậu Ngọ; Canh Dần; Canh Thân.

    ReplyDelete
  88. @trả lời người hỏi về chồng sanh ban ngày, vợ ban trưa, con trai giờ tý sanh Nhâm thìn:
    Duyên đạt được 9/10 nhưng số mạng cá nhân từng người thì
    - số người nam sanh không thuận mùa nên số dù giàu cũng khổ, lao tâm, dù có giàu thể xác cũng không được sung sướng.
    - Số người nữ thì qua 40 tuổi mới mong làm giàu được.
    - Cung phi hành thì chồng làm lợi cho vợ nên có hơi trái ngược. Và hành của con thì khắc với cha, mẹ khắc với con.
    - Mẹ con trai rơi vào Tuyệt mệnh.
    - Tuổi vợ chồng xung khắc với nhau.
    Tóm tắt vài ba khía cạnh như trên, cộng với thiên can địa chi mới suy ra là bị "bần tiện".
    Lo làm nhiều điều tốt, lo tu tâm tích đức mà cầu mong gia đình được tốt hơn.
    Trong năm nay Bính Thân nếu sanh được con gái thì hóa giải được cái xấu giữa mẹ và con trưởng. Nếu không sanh kịp thì phải chờ đến 2023 và sanh được con trai mới tốt.
    - Đinh Dậu sanh được con trai thì không xấu hơn cho cả nhà của bạn trong hiện tại.


    ReplyDelete
  89. Trả lời bạn "s. ninh":
    - Duyên trời định nên mới cho gặp nhau, con người (gia đình) dám chống chọi với trời sẽ bị xui xẻo. Bạn nên làm rỏ cho gđ biết.
    - Trên đời ít có ai hên mà gặp được người vừa yêu, vừa duyên số mỹ mãn 100%. Bỏ keo này, bày keo khác không chừng gặp xấu hơn nữa. Ai cũng muốn vừa hạnh phúc mãn kiếp, giàu sang trọn đời, sống thọ muôn năm thì trên đời này đã là thiên đường, ai cũng là tiên, hay ai cũng là người đã tu nhiều kiếp.
    - Chỉ có gđ VN mới ngăn cản chuyện duyên nợ người khác, coi con cái như sở hữu của mình.
    - "Bần tiện" ở đây ý nói khó khăn về tiền bạc, ai lại không có lúc gặp khó. Biết trước như vậy là để đề phòng(thí dụ như đừng quá tin người làm ăn hùn hạp với kẻ gian, nên cần kiệm không ăn chơi cờ bạc, v.v.) chứ không phải là để lo sợ mà bỏ nhau. Trong sách có ghi là, chỉ có phước đức mới hoá giải được mà thôi (phước gia đình tích được, phước của mình tạo ra, may mắn con cái đem đến).
    Tôi không nhớ ngày tháng năm sinh của 2 người nên tôi không tính được chuyện sanh con. Nhưng duyên của bạn có thành hay không còn chưa biết, coi chi đến chuyện khác ?

    ReplyDelete
  90. @Trả lời bạn "Dezember": "Khảm-Đoài: họa hại (tuyệt thế), xấu / (theo như sách Bát Trạch Minh Cảnh): diên niên (phước đức), tốt" nghĩa là có hai sách, mỗi sách viết khác nhau, bên thì tốt, bên kia lại nói là xấu, trong trường hợp này phải coi thêm các thứ khác như bản mệnh, ngũ hành, tử vi, v.v. nếu các thứ kia tốt thì đoán là duyên cũng tốt, nếu ngược lại nên duyên thì sát xất chắc là xấu.
    Duyên của bạn Bát trạch Phục vị, Bát tự bị Lục sát.
    Tuy nhiên Ngũ hành lại hợp.
    Cả hai đều thuộc Tây tứ trạch nên tốt.
    Số cả hai xa xứ làm ăn mới tốt.
    Số giàu thì giàu tột đỉnh, nghèo thì nghèo xác mồng tơi chứ không lưng chừng.
    Bát trạch/tự hợp lại đạt khoảng 6/10 tốt trung bình (Trung kiết).

    ReplyDelete
  91. @trả lời bạn Makuro: ngày tháng bạn ghi đó là ngày tháng tây phải không? Nếu vậy thì duyên này không tốt, tuy nhiên xem cá nhân thì có thể đoán sơ là:
    Người nam bởi vì người cao số nên nếu (làm nghề, ăn ở) ngay thẳng thì duyên phận mới bớt gặp rắc rối, đời sau này mới hưng thuận. Là người vì hai chữ danh lợi mà thân xác bị nhọc.
    Người nữ thì phải suôi theo ý trời, có gượng cầu thì cũng không cải được số.
    Bát trạch là chính, bị ngũ quỷ.
    Cao ly được tam Vinh Hiển.
    Kỵ cưới năm Thân, Hợi.
    Có thể cưới Đinh Dậu 2017, Mậu Tuất 2018.
    Tránh những người/năm kỵ: Quý Sửu, Đinh Sửu, Ất Dậu, Ất Mẹo, Canh Tuất, Bính Tuất.
    Sanh được con trai năm 2017 thì có thể hoá giải được chút đỉnh.
    Năm 2022 Nhâm Dần sanh trai hay gái gì cũng tốt, nếu sanh được "song sinh" một trai một gái thì hoá giải được cái xấu của cha mẹ.
    Nói tóm lại, bạn và bạn trai của bạn nên tu thân tích đức, theo ý trời đừng cưỡng cầu so đo, nếu hưởng được phước đức của tổ tiên đôi bên, thì duyên này không phải là không có lối thoát (vì cung phi chính KHÔNG PHẢI là Tuyệt mệnh).

    ReplyDelete
  92. Tôi định không coi cho ai nữa vì tốn nhiều công sức, nhưng bạn là người hỏi và biết nói một câu "cãm ơn" nên tôi sẽ giúp cho bạn đây...
    @trả lời bạn hỏi về "hai người số tốt nhưng đến với nhau không hợp, nam sanh tháng 8, nữ tháng 1 âm lịch"
    - người nam sanh thuận số nhưng phải sanh ban ngày thì mới giàu sang, tuổi ngoài 40 mới giữ của được.
    - nữ tuổi nhỏ chìm nổi linh đinh, bền chí vung đắp thì gia đình hạnh phúc, sớm lập gđ thì nhiều lần chẳng nên. Ít nhứt phải ngoài 24 lấy chồng mới được an vui. Sanh ban đêm thì số vất vả.
    - Bát trạch là chính bị xấu, bát tự còn xấu hơn nên không cứu vớt được.
    - Tuy hành của cung phi khắc nhưng nam khắc nữ chứ nữ không khắc nam, nên duyên thì cũng được.
    - Hai người tuổi khắc nhau, người nữ sẽ chịu nhiều thiệt thòi, nhưng ở trên có nói nếu bền chí gìn giữ gđ thì cũng được êm ấm.
    Nói chung, hai người số riêng cá nhân thì tùy thuộc sanh ngày hay đêm mà số trên hay dưới trung bình. Hợp lại thì gặp đại hung và người nữ sẽ chịu thiệt thòi vì số mệnh vất vã hay duyên lận đận?
    Nếu muốn cưới nhau, tránh năm Mẹo và Thìn, ngoài ra những năm hoặc những người tuổi khắc kỵ sau đây: Quý Tỵ, Tân Tỵ, Tân Hợi, Bính Dần, Canh Dần, Bính Thân.
    Lo tu thân, làm điều tốt may ra động lòng trời sanh con hoá giải.
    Vì sao mạng 2 người tốt, cưới nhau lại hại nhau: mạng là của cá nhân, tốt mạng với tốt mạng gặp nhau mà tuổi khắc kỵ, cung phi khắc kỵ, ngũ hành khắc kỵ thì lúc yêu nhau cái gì cũng đẹp, sống với nhau đâm ra khắc khẩu, khắc tánh cái gì cũng khắc, chán chường ngộp ngạt.
    Kết:
    Cả hai phải có nhiều phước đức, phải kiên trì, bền chí thì gđ mới an.

    ReplyDelete
  93. @Trả lời bạn "Cuong Pham", bạn may gặp lúc tôi đang mở sách coi cho người bên trên, và cũng có 2 chữ như trên nên sẳn dịp coi cho bạn luôn đây...
    - người nam bổn mạng vốn là người yểu mệnh, có lẽ nhờ mang trên người nhiều phước đức mới sống tới ngày nay, gia đình cha mẹ của bạn (trai) không nên bắt đầu gượng chống với số trời, trời ban duyên thì chấp nhận, so đo coi chừng bị phạt "tuyệt tự", không chừng mất cả chì lẫn chài, đến lúc đó hối hận thì muộn.
    - Theo tôi coi thấy thì: tuy bát trạch không tốt, nhưng bát tự tháo gỡ ngay cái xấu của bát trạch. Suy ra nên duyên thì được "hạ kiết" tức troảng 5/10 nghiêng về tốt. Bát tự không phải là "tuyệt mệnh" nên không cần phải lo lắng. Sống chết là do số mạng mà ra chứ không nên đổ thừa do nên duyên mà ra.
    - Duyên này được "tứ đạt đạo" nếu có nhiều phước đức thì được thuận lợi nhiều mặt, được quới nhân giúp.
    - Cưới nhau tránh năm Dần, Mùi. Kỵ các người tuổi Bính Dần, Canh Dần, Bính Thân, Quý Sửu, Đinh Sửu, Ất Dậu, Ất Mẹo.
    - Và cả hai đi lập nghiệp xứ lạ thì mới bớt cực khổ, phong trần, mới lập nên sự nghiệp.
    Nói chung, lo tiếp tục tu thân tích đức để có quới nhơn trợ giúp thì khỏi cần lo sợ, thuận theo số trời sống hạnh phúc được tới đâu hay tới đó. Nếu cha mẹ đôi bên hiểu được điều này thì coi như hai bạn thoát được một nạn vậy.
    Good Luck!

    ReplyDelete
    Replies
    1. Bạn Cuong Pham, tôi trả lời cho bạn bên trên rồi mà.
      - Bạn nam sanh tháng đó thì sẽ có quới nhân giúp, lo tu thân, ăn ở tốt thì tai qua nạn khỏi, số ly hương tổ quán mới lập nên cơ nghiệp.
      - Nữ sanh thuận mùa nhưng sai tháng, sanh ban ngày thì có quý tướng, giàu thì giàu lớn nghèo thì nghèo nặng. Sanh ban đêm thì lỗi số sau này phải chịu cực trăm bề.
      - Số mạng đã như vậy rồi có chạy trời cũng không khỏi nắng. Theo như bạn viết thì chỉ còn cách con gái khuyên lơn cha mẹ mình, cha mẹ cô ấy hoặc gia tộc đã làm điều gì trái ý trời nên trời mới cho ra quả như vậy, duyên trời ban mới cho hai người quen nhau, yêu nhau. Bây giờ cha mẹ lại cãi lại trời con gái sẽ lao vào bất hạnh, người yêu không lấy đi lấy người thầy bói ban hay sao ?
      Thầy bói là ai mà dám nói sau này ai sống ai chết ? Người đã làm ác mới sợ lưới trời, sợ bị trời phạt mà thôi. Người hiểu được thì can đãm đối diện với số mạng, yêu thương nhau, lấy đức năng thắng số.
      - Sanh con hoá giải cũng là một cách. Nhưng khi nào cưới được thì tính sau nha.

      Delete
  94. @trả lời: nữ sanh tháng 12, nam tháng 8:
    1/ bát tự Lục sát nhưng bát trạch Phục vị nên bớt được một chút cái xấu. Tuy nhiên Phục vị hay thay đổi, gặp những năm tốt thì nghiêng tốt, gặp xấu thì nghiêng xấu. Đại khái duyên này đạt 6/10 tốt.
    2/ Bính Thân, Đinh Dậu là năm xung khắc tuổi nên đề phòng cho bản thân (bổn mệnh), nếu tránh cưới hỏi thì cũng được.
    3/ Bần tiện ở tiền vận. Người nam trên 49 tuổi cầm của mới được vững chắc. Nữ thì khi ăn không hết, khi đào chẳng ra. Cả hai lập nghiệp phương xa mới tốt.


    ReplyDelete
  95. @Trả lời bạn Quốc hỏi về "Khảm/Khôn":
    Tôi có giải thích rỏ ở đầu trang này về cung chính / cung phụ rồi mà.
    Thông thường 99,9 % là người sai lầm, tính sai chứ sách thì ít khi sai vì tác giả thông thường toàn là chuyên nghiệp.
    Nói tóm lại: chung chính là Khảm, cung phụ là Khôn.

    ReplyDelete
  96. Trả lời bạn nữ sanh âm lịch tháng 7, nam tháng 12.
    Nữ số giàu thì giàu lớn, nghèo thì nghèo nặng chứ không lưng chừng ở giữa. Tuổi ngoài 40 mới phát đạt.
    Nam phải tu tâm tích đức thì mới thọ.
    Xét đại khái, bát tự bị ngũ quỷ nhưng bát trạch thì được Sinh khí, nói chung duyên đạt khoảng 5/10 nghiêng về tốt mức thấp (hạ kiết).
    Tuổi không hợp cũng không khắc.
    Hành chồng khắc vợ, nhưng theo sách thì sống với nhau cũng được, nhưng đại khái là những việc trọng đại vợ chồng không giúp gì được cho nhau, đôi khi còn hại nhau.
    Theo cao ly toán số thì duyên này đạt Tứ đạt đạo, gia đạo an vui.

    ReplyDelete

*********************************************************
Cảm ơn bạn đã ghé kimlong9999.blogspot.com
Bạn có yêu cầu hay ý kiến gì không?
Bạn vui lòng để lại đôi lời nhận xét để trang
ngày càng hoàn chỉnh hơn.

NHẬN XÉT SẼ CHƯA ĐƯỢC ĐĂNG NGAY !

Nếu không thích hiển thị TÊN
thì hảy chọn hồ sơ Anonymous "Ẩn danh"
rồi nhấn "Đăng nhận xét".
Nhấn thêm lần nửa nếu có thông tin báo lỗi.
KimLong9999 chúc bạn một ngày thật đẹp và vui vẻ.
*********************************************************
Thank you for your visit and welcome to our blog!
Take a moment and look around.
Let us know what you think about this blog by leaving a comment.
YOUR COMMENT NEEDS TO BE APPROVED
BEFORE IT WILL APPEAR.
THANKS EVERYONE FOR PATIENTS.
Have a nice day.
* KimLong9999 *
*********************************************************
Vielen Dank für den Besuch!
Sie können Ihre Kommentare und Anregungen hier hinterlassen.
DIE KOMMENTARE WERDEN MODERIERT
und WERDEN NICHT SOFORT ANGEZEIGT.
Bitte haben Sie etwas Geduld!
Einen schönen Tag noch...
* Bạch Kim *
*********************************************************
Merci pour votre visite!
Vous pouvez laisser vos commentaires et suggestions ici.
LES COMMENTAIRE DOIT ÊTRE APPROUVÉ AVANT D'ÊTRE AFFICHÉ.
Je vous remercie beaucoup pour votre patience!
Bonne journée.
* KimLong9999 *
*********************************************************

Kim Bạch Kim 鉑 Thơ Đường Luật Chuyện ngắn sáng tác Chuyện vui Đố vui Phong Thủy Tin Tức

Danh Mục kimlong9999.blogspot.com

Lịch ngày Ta Phong Thủy 3 Toa Thuốc, Rượu Bổ Dương: Thốc Kê Hoàn, Thần Tiên Tửu, Thung dung Xà Sàng Tửu Trúng Số Độc Đắc Khui Luôn Jackpot Lời Than Theo Gió Nấu Ăn Kiều đoạn cuối Đố vui Video Hài Architecture Tình Sử Huyền Trân Chế Mân Tên Giang Hồ Tóm Tắt Nội Dung Một Số Phim Hay herald sun news Phim List Nhạc Việt newsweek Vị Trí Mụt Ruồi và Tướng Số Thơ Sưu Tầm Truyện Kiều đoạn đầu abc news daily mail news Tin Tức - Kiến Thức Đàn Ông Thua Chó Chuyện Vui Máy Mắt Đoán Điềm Chuyện Ngắn Kim Bạch Kim Đoạn Trường Tương Tư Anh Hùng Việt English Số Đề Korea Music Nguyễn An Kiến Trúc Sư Tài Ba Xây Tử Cấm Thành Trung Quốc Đọc và Suy Ngẫm cnn news Đồng tình luyến ái của các Hoàng đế trong lịch sử tàu Trăng thề vườn Thúy ** Phận Kiều ♥ Đường Luật Kim Bạch Kim ♥ Chung Một Mái Nhà Đoán Số Mệnh Pha Lê & Thủy Tinh Tiếng Việt Nam Bắc Con Gái Ba Miền Bắc Trung Nam Truyền Thuyết Quỳnh Hương Phụ Nữ Việt Nam Đáng Được Khâm Phục Những Món Ăn Kinh Khủng Nhứt Thế Giới Ý Nghĩa của Kim Bạch Kim - khác biệt giữa Vàng - Vàng Trắng - Bạch Kim Quang Trung Nguyễn Huệ Đại Phá Quân Thanh Cúm Heo Thuốc Ngừa và Thuốc Trị Vi Khuẩn H1N1 Tri Kỷ Chơi Cờ Uống Rượu Ý Nghĩa của Biểu tượng chính thức trang http://kimlong9999..blogspot.com Nguyệt Đùa Bạn Heo Vài Món Ăn Đặc Biệt Miền Nam - Trung - Bắc Việt Nam 21.12.2012 Ngày Tận Thế? Kim Cương & Hột Xoàn

Popular Posts

this is a Non-Profit non-commercial website Trang không vụ lợi không buôn bán Không Quảng Cáo