Cho vào bình 20 lít rượu trắng. Cho thêm 4 kg đường phèn vào. Ngâm 10 ngày uống được, mỗi lần uống 40 ml, ngày 2 lần.
* con Tằm ngoài việc cung cấp sợi tơ để dệt vải, nó còn cho chúng ta nhiều sản phẩm chữa bịnh như: tằm chín, tằm vôi, nhộng tằm, kén tằm, phân tằm, ngài tằm. Chỉ có ngài tằm đực chưa giao phối mới dùng để trị yếu sinh lý. Ngài tằm tên thuốc trong y học cổ truyền gọi là Tàm Nga, vị mặn, béo, bùi, mùi thơm, tính ấm.
Trong Nam dược thần hiệu, ngài tằm tán thành bột, uống mỗi lần 8 g với rượu vào lúc đói để chữa đái buốt do chứng lậu.
Hoặc lấy bột ngài tằm trộn mật ong, bôi trong miệng chữa chứng phong chúm miệng ở trẻ em gây cứng lưỡi, khóc không ra tiếng.
Dùng ngoài da: ngài tằm giã nát, đắp. Chữa những vết cắn do sâu hoặc côn trùng độc cắn.
Làm sao để phân biệt và bắt được ngài tằm đực? Đúng 5 giờ sáng mỗi ngày thì ngài tằm ĐỰC đồng loạt cắn kén chui ra. Từ 6 giờ sáng trở đi ngài tằm CÁI mới cắn kén chui ra. Ngài tằm đực nhỏ, toàn thân có màu nâu đậm, bụng thon. Con cái to hơn, màu nâu lợt, bụng phình vì mang nhiều trứng. Ngài tằm đực mang chất methyltestosteron (một nội tiết tố nam) có hoạt tính sinh học cao và tác dụng làm tăng lượng của túi tinh trên động vật.
Theo kinh nghiệm lâm sàn: Uống sau một tuần thì có hiệu quả, dương vật cứng được. Uống được 4 đợt mỗi đợt 15 ngày thì mọi chứng đều hết, giao hợp tốt. Cho uống thêm một thời gian để ổn định. Sau khi ngưng thuốc 1 năm vẫn chưa thấy tái phát.
Cho tất cả các vị vào bình thủy tinh, cho 2,5l rượu vào, đậy kính nắp bình. Ngâm khoảng 1 tháng thì có thể chiết ra dùng dần. Khi uống có thể pha chút mật ong đễ làm dịu tính thuốc. Nên uống trước khi ngủ, mỗi lần 30-50ml.
Chú ý: người bịnh về tim mạch và huyết áp không nên dùng.
Tính năng của vị thuốc:
- Phúc bồn tử (trái Chúc xôi) vị ngọt, tính bình, có nhiều chất bổ dưỡng, ích khí âm, hòa ngũ tạng. Người bịnh lao uống thuốc này lâu sẽ khỏi.
- Thạch liên tử (hột sen) vị ngọt, tính bình, bổ tỳ, dưỡng tâm, cố tinh. Thường dùng chữa mộng di tinh, băng lậu.
- Sà xàng tử vị cay, đắng, tính bình, hơi độc, có tác dụng cường dương, ích thận, khử phong. Thường dùng chữa liệt dương, di tinh.
- Thỏ ty tử vị ngọt, cay, tính ấm, có tác dụng bổ can thận, ích tinh túy, bổ trung, ích khí, mạnh gân xương. Thường dùng chữa liệt dương, di tinh, lưng đau gối mỏi.
- Ngũ vị tử vị chua, mặn, tính ấm. Thường được dùng chữa liệt dương, di tinh, băng lậu, khí hư ở phụ nữ, tả lỵ lâu ngày, đổ mồ hôi. Dùng 600g ngũ vị tử tán nhỏ, uống mỗi lần 4 g, ngày uống 3 lần. Uống hết đơn thì khỏe, giao hợp được.
- Phá cổ tử vị cay, đắng, tính đại ôn, thường dùng chữa bịnh ngũ lao, tỳ thận hư hàn, lưng gối lạnh đau, đái són.
- Câu kỷ tử vị ngọt, tính bình. Có tác dụng bổ can thận, nhuận phế táo, mạnh gân cốt. Thường dùng để chữa mộng di tinh, chân tay yếu mỏi, mắt mờ.
- Kim anh tử vị chua, chát, tính bình. Có tác dụng kiện tinh. Thường dùng chữa di tinh, đái són, tiểu tiện nhiều lần, phụ nữ khí hư, bạch đới.
Các vị thuốc xắt nhỏ, phun rượu cho ướt đều rồi đem chưng cách thủy trong vòng 30 phút, sau đó phơi nắng cho khô, cho tất cả vào chai ngâm với rượu, sau 2-3 tháng là có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10-20ml. Loại rượu này uống sau 3 giờ sẽ thấy hiệu quả, uống được 1 tuần sẽ thấy được sự kỳ diệu của tinh lực người xưa. Các vị thuốc có công dụng bổ thận trợ dương như thỏ ty tử, nhục thung dung, ngưu tất, đỗ trọng, nữ trinh tử, tỏa dương. Thêm vào đó là các vị thuốc có tác dụng bổ khí như nhân sâm và đại táo, bổ âm như mạch môn và ngũ vị tử, bổ huyết như sinh địa và long nhãn, bổ mệnh môn hỏa như nhục quế và sà sàng tử. Tất cả các vị thuốc hợp lại với nhau tạo nên công dụng trợ dương của Trường xuân bất lão tửu.
***
Thiên khẩu nhất bôi tửu
Nhân sâm 24g
Thục địa 15g
Kỷ tử 15g
Dâm dương hoắc 9g
Viễn chí 9g
Đinh hương 9g
Trầm hương 3g
Bạch tật lê 9g
Lệ chi nhục 7g
rượu trắng 1 l.
Các vị thuốc xắt nhỏ, ngâm với rượu trong bình kín, sau 7-10 ngày là có thể dùng được. Công dụng: Bổ thận tráng dương, sinh tinh dưỡng huyết, ích khí định thần, làm đen râu tóc và kéo dài tuổi thọ. Cách dùng: Uống mỗi ngày 1 chén nhỏ, uống nhấp môi từ từ từng ít một, nói như cổ nhân là phải uống ngàn lần mới hết một chén rượu (thiên khẩu nhất bôi). Loại rượu này được lấy từ y thư cổ Tập nghiệm lương phương, thích hợp cho lứa tuổi trung lão niên mà thận khí đã suy yếu, khí huyết suy nhược, tinh lực giảm thoái, khả năng sinh hoạt tình dục giảm sút. Trong thành phần, cổ nhân đã khéo léo phối hợp các vị thuốc có tác dụng bổ khí như nhân sâm, bổ huyết và bổ âm như thục địa và kỷ tử, bổ dương như dâm dương hoắc và bạch tật lê với các vị thuốc có công năng làm ấm tỳ vị và thận như đinh hương, trầm hương, ...Lấy các vị thuốc âm, lạnh, cay, ấm phối hợp với nhau, mát mà không nê trệ, ấm mà không táo nhiệt, tác động tương hỗ chế ước lẫn nhau mà làm cho tinh thần phấn chấn, chữa được chứng liệt dương, kéo dài tuổi thọ.