Sunday, July 20, 2014

Tưởng Nhớ 70 Năm Ngày Bá Tước Stauffenberg và Những Người Cùng Chí Hướng Mưu Ám Sát Hít-le

Lịch sử Đức 70 năm trước đây, đại tá Claus Schenk bá tước của Staufffenberg và những người cùng mục đích giải cứu dân tộc ra khỏi móng vuốt của Đức quốc xã, họ đã thực hiện vụ ám sát Hít-le tại hầm phòng bị của lãnh đạo Wolfsschanze (tạm dịch: chổ ẩn núp của sói) nay thuộc Ketrzyn, miền bắc Ba lan.
Do một sự tình cờ ngẫu nhiên mà Hít-le thoát chết.

Ngày 20 tháng 7 năm 1944, một trái bom đã được đại tá Stauffenberg đặt trong cặp táp, để dưới bàn (ngang khoảng 3m, dài 4m) làm bằng gỗ sồi, rất dầy và nặng ở trong hầm bê tông, trụ sở chính mà Hít-le cùng các tướng lãnh họp lại để bàn bạc về chuyện đánh trả, chống cự với *đồng minh đang ào ạc tấn công vào Đức* từ khắp mọi hướng.
Đại tá Stauffenberg được mời họp, tiếp cận với Hít-le hôm ấy là vì tuy ông bị thương nặng trong chiến trường ở Phi Châu năm 1943 (sư đoàn 10, xe tăng), mất mắt bên trái và bàn tay phải, bàn tay trái chỉ còn 3 ngón, nhưng ông đang nhiệm chức Tham mưu trưởng tư lệnh tối cao của quân đội dự bị.
12 giờ 40 phút trưa, bom nổ làm bốn người thiệt mạng và chín người bị thương nặng, những người khác bị trầy nhẹ. Hít-le chỉ bị một vài vết bầm và bị lũng màng nhĩ.
Tiến trình và những trục trặc trong vụ ám sát, xem bên dưới.
Nếu không phải vì một người nào đó đã dời cặp có bom của Stauffenberg về bên phải để dựa phía bên kia chân bàn cách xa Hít-le, để người đó có thể thuận tiện chồm lên bàn trãi bản đồ, thì có lẽ ngày 20 tháng 7 năm 1944 đã là ngày chết của Adolf Hitler.

Sau việc ám sát Hít-le không thành công, Đức quốc xã đã bắt giữ khoảng 700 người, hơn 200 người bị hành quyết. Các nạn nhân bị treo bằng dây đàn dương cầm, dùng móc treo heo và treo sống ở hồ Ploetzen tại Bá Linh. Hơn mười máy quay phim luân phiên quay sự thống khổ, dẫy chết của những người bị xử tử. Những cuộn phim này đã được trực tiếp gởi đến trụ sở của quốc trưởng Hít-le. Đến nay, nhà cầm quyền cho là các cuộn phim đó đã bị thất lạc mất.

Với sự thất bại của vụ ám sát, nhân dân Đức đã mất đi một cơ hội chứng tỏ rằng ít nhứt họ có thể tự giải thoát.
Nếu ngày đó cuộc ám sát thành công thì đệ nhị thế chiến chắc chắn đã chấm dứt sớm hơn, sẽ có muôn vàn những người cha, người con, anh, em trai giữ được mạng sống, thành phố không bị bỏ bom tàn phá.
Sau chưa đầy một năm, đất nước của họ bị chinh phục, dân tộc Đức thua về cả ba mặt: quân sự, chính trị, đạo đức, và chỉ còn có thể đầu hàng vô điều kiện do đại tướng Đức Alfred Josef Ferdinand Jodl ký vào ngày 7 tháng 5 năm 1945.

Một ngày sau đó 21.7.1944, bá tước Stauffenberg bị xử bắn. Trong số người bị xử tử, có không ít người thuộc dòng dõi quý tộc như Helmuth James bá tước của Moltke, Heinrich bá tước của Dohna-Schlobitten, trung tướng Karl nam tước của Thuengen, thiếu tướng Roland của Hoesslin, tướng Carl-Heinrich của Stuelpnagel, tướng Friedrich của Rabenau, đại tá Wessel nam tước của Freytag-Loringhoeven, trung tá Roland của Hoesslin, trung tướng Paul của Hase, đại tá Albrecht Ritter Mertz của Quirnheim, trung tá Max Ulrich bá tước của Drechsel, đại tá Wessel Nam tước của Freytag-Loringhoven, trung tá Caesar của Hofacker, trung tướng Gustav Heisterman của Ziehlberg, trung tá Fritz của Lancken, trung tá Wilhelm bá tước của Lynar, trung tá Heinrich bá tước của Lehndorff-Steinort, các tướng tá cao cấp trong quân đội thuộc giới quý tộc như thống chế Erwin của Witzleben, thiếu tướng Henning của Tresckow (tự tử), trung tá Gerd của Tresckow (tự tử), trợ thủ của Stauffenberg - trung tá Werner của Haeften, đại tá Georg của Boeselager, thiếu tá Philipp của Boeselager, thiếu tá Hans-Jürgen bá tước của Blumenthal, Hans Bernd của Haeften, Hans của Dohnanyi, thiếu tướng Hans Georg Schnidt của Altenstadt, đại tá Nikolaus bá tước của Uexkuell-Gyllenband, đại úy Adolf Friedrich bá tước của Schack, đại úy Hans-Ulrich của Oertzen, đại úy Ludwig nam tước của Leonrod, đại úy Alexis nam tước của Roenne, thiếu tá Ludwig Nam tước của Leonrod, đại úy Hans Otfried của Linstow, trung tá Hans Alexander của Voss, luật sư và thiếu tá Randolph Nam tước của Breidbach-Buerresheim, đại úy Rudolf bá tước của Marogna-Redwitz, trung úy Albrecht của Hagen, trung úy Hans-Viktor bá tước của Salviati, Đại sứ ngoại giao Friedrich Werner của Schulenburg, Ulrich của Hassell, Ferdinand nam tước của Lueninck, Michael bá tước của Matuschka, Kurt của Plettenberg, thiếu tá Axel của Bussche, Friedrich Werner của Schulenburg, Fritz-Dietlof của Schulenburg, Ulrich Wilhelm bá tước của Schwerin Schwanenfeld, trung tá Hasso của Boehmer, Adam của Trott Solz, Peter bá tước của Yorck Wartenburg, 19 tướng, 26 đại tá, 2 đại sứ tổng lảnh sự, 7 nhà ngoại giao, 1 bộ trưởng, 3 thư ký của nhà nước và trưởng văn phòng cảnh sát hình sự, cảnh sát trưởng Wolf-Heinrich bá tước của Helldorf, và tỉnh trưởng.
Anh của ông Berthold Schenk bá tước của Stauffenberg sanh 15 tháng 3 năm 1905 tiến sĩ luật, bị Đức quốc xã tuyên án và treo cổ ngày 10 tháng 8 năm 1944.
Những người bị bắt vì có liên quan đến việc ám sát, có người bị xử tử ngay, có người bị tra khảo để tìm người đồng mưu. Cho đến phút tắt thở, họ cũng hoàn toàn không biết thân nhân sống chết ra sao. Vợ con họ bị bắt, mẹ và con bị tách rời nhau ra, con lớn thì bị cho vào quân đội đẩy đi chiến trường Liên xô và Đông Âu, con gái lớn và mẹ bị cho vào trại tập trung, trẻ em nhỏ từ 9 tháng đến 12 tuổi bị bắt vào trại mồ côi đặc biệt gần trại tập trung ở Bad Sachsa ngay trung tâm của nước Đức, họ không được quyền nói hoặc gọi họ thật của nhau, mà được đặt cho một họ khác.
Cho đến khi quân đội Mỹ giải cứu, mẹ mới có cơ hội tìm lại con của mình.
Sau chiến tranh, khi đi học thì họ vẫn bị các học trò khác hàng ngày đi theo sau và gọi là "con của tên phản quốc". Trẻ em bị những cú sốc như vậy nên có người không còn muốn sống và bị bịnh về tinh thần.
Chỉ có người nước ngoài khi biết họ là ai thì tôn trọng cha của họ, như con của trung tướng và chỉ huy trưởng của thủ đô, Friedrich Wilhelm của Hase tường thuật là không phải người Đức mà là người Hoà lan gọi cha ông là vị anh hùng, đến nay đã qua nhiều thập niên mà ông vẫn còn xúc động đến khóc khi kể.
Phần lớn, con của những vị anh hùng của Đức này hiện sống ở Mỹ, Thuỵ sĩ, nước ngoài.

Claus Philipp Maria Schenk bá tước của Stauffenberg sanh ngày 15 tháng 11 năm 1907 tại Jettingen, vương quốc Bavaria miền Nam nước Đức, theo đạo công giáo. Bị xử bắn ngày 21 tháng 7 năm 1944 tại Bá Linh. Ông là sĩ quan trong quân đội Đức quốc xã trong chiến tranh thế giới thứ hai và cũng là một trong những nhân vật chính trong đội chống kháng với chế độ và cố gắng cùng với các tướng lãnh khác thực hiện đảo chính qua chiến dịch Walkuere*.
Stauffenberg là một người yêu nước nồng nhiệt, ban đầu ông nhiệt tình theo chế độ, nhưng khi ông nhận ra tính chất ác độc của chế độ Đức quốc xã và do thấy rỏ tình hình quân sự không lối thoát của quân đội Đức, ông đã kháng lại chế độ.
Sau khi đại úy Stauffenberg bị xử tử, theo lệnh của Himmler*, xác của ông bị đốt, tro rãi trên cánh đồng.

Ông có 5 người con (3 trai 2 gái), hiện có 4 người vẫn còn sống:
- Berthold Maria Schenk Graf von Stauffenberg sanh 3 tháng 7 năm 1934, cựu Thiếu tướng. Ông có 3 con trai.
- Heimeran Schenk Graf von Stauffenberg sanh 9 tháng 7 năm 1936. Có hai con trai.
* Cháu nội 3 trai 1 gái: Maximilian Schenk Graf von Stauffenberg 15.01.1997; Lioba Schenk Graefin von Stauffenberg 18.07.1998; Nikolaus Schenk Graf von Stauffenberg 06.12.2000; Josef Schenk Graf von Stauffenberg 22.07.2002.
- Franz Ludwig Schenk Graf von Stauffenberg sanh 4 tháng 5 năm 1938, luật sư và chính trị gia.Có 4 con (2 trai, 2 gái).
- Valerie Schenk Graefin von Stauffenberg sanh 15 tháng 11 năm 1940, mất ngày 4 tháng 6 năm 1966
- Konstanze Schenk Graefin von Stauffenberg sanh 27 tháng 1 năm 1945 (6 tháng sau khi cha bà chết). Là tác giả viết sách. Hiện sống tại Thuỵ sĩ. Chồng bà cũng dòng quý tộc. Bà có 3 con, con trai Philipp của Schulthess sanh 23 tháng 3 năm 1973, đã làm việc nhiều năm trong ngân hàng đầu tư và hiện là diễn viên điện ảnh.

Tiến trình và những trục trặc trong vụ ám sát:
- Thông thường khi lãnh đạo Hít-le gọi họp ở "hầm núp của sói" thì sẽ xuống dưới hầm trong lòng đất, nhưng hôm đó vì quá đông, tổng cộng 25 người nên ban tổ chức dời chổ họp lên phòng bên trên mặt đất, vì rộng nên sức nổ bị giảm bớt hiệu lực.
- Hít-le dời giờ họp sớm hơn 30 phút, vì chiều hôm đó có cuộc họp ở nơi khác.
- Bá tước Stauffenberg phải chỉnh lại thời gian bom nổ. Viện cớ là quần áo ướt mồ hôi phải sang phòng khác thay nên xin mọi người đợi một lát ông mới có thể báo cáo phần của ông về tình hình quân sự. Sang phòng bên, vì Stauffenberg chỉ còn ba ngón tay nên phải nhờ sự giúp đỡ của trợ thủ của ông là trung tá Werner von Haeften chỉnh lại giờ bom nổ.
- Vì họ bị một Thượng sĩ thúc giục phải sang nhanh để báo cáo, nên họ chỉ có thể chỉnh một bom thay vì nguyên thuỷ theo dự định là hai bom mỗi bom 1kg chất nổ.
- Thay vì để cả trái bom chưa chỉnh giờ vào trong cặp chung với trái bom kia, Stauffenberg đã đưa gói bom chưa chỉnh cho trợ thủ của mình, người không được phép vào phòng họp.
- Ông đặt cặp có bom dưới bàn để bản đồ, gần chân bàn, phía bên chổ đứng của Hít-le. Báo cáo xong, Stauffenberg viện cớ là có cuộc gọi quan trọng, ông đã rời khỏi phòng họp trước khi bom nổ 10 phút. Một người nào đó đã dời cặp về phía bên phải và để cặp phía bên kia của chân bàn, vừa cách xa Hít-le hơn lại vừa có chân bàn gổ sồi che bớt sức nổ cho Hít-le.
- Vì mùa hè nên 3 cửa sổ đều được mở rộng nên sức nổ cũng thất thoát một phần.
- Một tướng đang chỉ trên bản đồ vùng phía bắc, vùng quân đội Liên xô đang tràn xuống Đức, nên cả hai (tướng và Hít-le) gần như toàn phần trên ở trên bàn gổ sồi dầy, nên bom nổ họ cũng được cảng bớt.
Walkuere* Theo nghĩa đúng của chữ, đây là nhân vật thần thoại của các nước Bắc Âu, là tên gọi một vị thần nữ, có phép thuật siêu nhiên.
Nghĩa bóng, là mã báo động của quân đội Đức quốc xã, bao gồm lực lượng an ninh, quân đội dự bị, lính được nghỉ phép. Nghe được mật khẩu đó, tất cả các binh sĩ phải tập họp trong vòng vài giờ thành từng trung đoàn, các nhóm chiến đấu, trang bị vũ khí và đạn dược để chờ lệnh.
Heinrich Himmler*: từ năm 1936 nhiệm chức tổng tư lệnh toàn bộ cảnh sát, chỉ huy trưởng đơn vị mật vụ, tình báo, chỉ huy trưởng nhân viên an ninh của quốc gia, chỉ huy trưởng tổ chức bán quân sự, đơn vị chiến đấu ưu tú bảo vệ Hít-le, giám đốc cục điều tra hình sự. 
Với điều khoản trong hiến pháp Đức quốc xã: "phòng chống tội phạm", Himmler và tay sai có quyền bắt, tra khảo, giết hoặc cho vào trại tập trung bất cứ ai mà không cần toà xử (tiền trảm, hậu khỏi cần tấu). 
Khi Đức thua, bị quân đội Anh bắt làm tù binh, Himmler giả dạng là lính thường nhưng bị nhận dạng, Himmler uống thuốc độc tự tử, đã sống được gần 45 năm. 
Đồng minh đang ào ạc tấn công vào Đức*: hướng tây đồng minh Mỹ, Anh đổ bộ ở Normandy từ ngày 6 tháng 6 năm 1944 D-Day (Decision Day). Tấn công từ hướng đông, chiến dịch Bagration (Багратион) của Liên xô bắt đầu từ 22 tháng 6 năm 1944.

...sưu tầm

Wednesday, July 9, 2014

Năm Con Ngựa kể Truyền Thuyết Ngựa Một Sừng

"Ngựa một sừng cuối cùng" là tác phẩm của Peter Soyer Beagle*.
Vào năm 1962 ông bắt đầu viết bản thảo cho cuốn tiểu thuyết giả tưởng có tựa gốc "the last unicorn".
Sách được xuất bản vào năm 1968 tại New York Mỹ, Luân đôn vương quốc Anh và Sydney Úc.
Năm 1982 phim hoạt hoạ cùng tựa được phát hành, hình do người Nhật phòng vẽ ở Tokyo thực hiện, kịch bản do chính Beagle viết, nhạc cùng tựa do Jimmy Webb sáng tác và do băng nhạc America trình diễn.

*Peter Soyer Beagle sanh ngày 20 tháng 4 năm 1939 tại Manhattan, New York Mỹ, hiện vẫn còn sống. Ông là nhà văn, chuyên viết sách truyện giả tưởng, viết kịch bản cho phim, viết lời cho bài hát.

Nội dung truyện:
Ngựa cái một sừng duy nhứt, sống cô độc, ẩn dật nhưng rất hạnh phúc trong khu rừng huyền bí. Nơi đó cây cỏ luôn luôn xanh tươi, quanh năm không có mùa thu và chưa bao giờ có tuyết.

Một ngày kia, có hai thợ săn cỡi ngựa lạc vào khu rừng ấy. Người thợ săn lớn tuổi nói rằng: Chúng ta sẽ không thể săn được thú vật gì ở đây vì nơi đây có ngựa một sừng sinh sống. Họ đồng ý quay ngựa trở lại để đi nơi khác săn. Người lớn tuổi gọi to lên rằng, "Ngựa một sừng hãy ở trong rừng, đừng đi ra khỏi nơi này vì thế giới bên ngoài khu rừng không phải là thế giới của nó, hãy sống để bảo vệ cho bạn bè thú vật nơi đó và vì nó là ngựa một sừng duy nhứt còn sót lại trên thế gian này".
Qua câu chuyện tình cờ nghe thấy ấy, con ngựa suy nghỉ rằng không thể nào tất cả ngựa một sừng trên thế gian này đều biến mất một cách thần bí như vậy và chỉ còn biết đến trong truyền thuyết và truyện thần thoại như người thợ săn đã nói.
Ý tưởng này làm trong lòng nó không yên, nó quyết định rời khỏi nơi sống bình yên để đi tìm đồng loại.

Nó biết được từ một con bướm về đồng loại mất tích và nghe được lần đầu về con bò đấu đỏ lửa ma, đã bao nhiêu năm theo lệnh vua Haggard lùa tất cả ngựa một sừng mà nó gặp về một nơi tận cùng của thế giới.

Chỉ có người có tánh tình thật tốt hoặc người tánh tình thật xấu mới nhìn ra chân tướng thật của ngựa một sừng. Những người bình thường khác chỉ nhận ra đó là một con ngựa trắng bình thường, không thấy sừng của nó.
Trên đường đi, ngựa một sừng bị phù thuỷ Mommy Fortuna bắt và nhốt vào chuồng để trưng bày trong rạp xiệc có tên là "Lễ hội nữa đêm".
Schmendrick một thuật sĩ đang học nghề chưa đủ năng lực, nhận ra được sinh vật thần thoại nên đã giúp ngựa một sừng trốn thoát và cùng đi theo để giúp đỡ.

Trên đường đi đến vương quốc của vua Haggard, Schmendrick và ngựa lọt vào khu rừng trong đó có doanh trại của đại uý Cully và nhóm trộm cướp. Molly Grue, một cô gái hơi lỗ mãng nhưng tốt bụng, là người nấu bếp và là tình nhân của Cully cũng nhận ra bản chất thật của ngựa một sừng và rời bỏ bọn cướp để cùng đi. 

Cuối cùng họ cũng đến được vương quốc của vua Haggard với thị trấn hoang vắng kỳ lạ Hagsgate nằm dưới chân của lâu đài. Thị trấn ấy đã bị một lời nguyền của một phù thuỷ bao phủ, trong đó có câu:
"Từ thị trấn Hagsgate sẽ có một vị anh hùng xuất hiện, vị đó sẽ lật đổ vua Haggard cũng như sẽ phá tan nơi đó".

Khi cả ba Molly, Schmendrick và ngựa đối mặt với con bò đấu đỏ lửa và trong lúc ngựa một sừng bị đe doạ nghiêm trọng, Schmendrick đã dùng pháp thuật biến ngựa thành cô gái kiều diễm xinh đẹp, tóc bạch kim dài tới gối, lấy tên là phu nhân Amalthea. Con bò đấu đỏ lửa không còn quan tâm vì không còn ngựa một sừng ở đó mà toàn là người, vì vậy nó cho họ tiếp tục đi.

Ba người gặp được vua Haggard. Ngay từ ban đầu ông ta đã cảm thấy điều gì khác lạ với Amalthea và vì hiếu kỳ ông cho ba người ở tạm trong lâu đài của mình.

Con trai nuôi của Haggard, hoàng tử Lir lập tức yêu Amalthea, dần dần cô cũng có cảm tình với vị hoàng tử trẻ và cũng quên dần mục đích đến đó để tìm và giải cứu đồng loại, khi càng lâu ngày cô ở trong cơ thể con người phải già phải chết.
Schmendrick và Molly Grue luôn luôn theo dõi lối đi của con bò đấu đỏ lửa, cuối cùng họ cũng như Amalthea và Lir cũng tìm được con đường đến vùng biển mà vô số ngựa một sừng bị lùa đến và giam giữ trong lòng biển, cũng như có bò lửa canh gác ở trên bãi biển.
Schmendrick giải thích cho hoàng tử biết chân tướng thật của Amalthea, nhưng Lir vẫn một lòng yêu, điều này làm cho Amalthea muốn vỉnh viễn là người để có thể làm vợ và từ bỏ tất cả ý định cứu đồng loại. Nhưng hoàng tử không đồng ý để cho cô làm như vậy.
Lúc này Amalthea trở lại hình dạng ngựa một sừng và đối đầu với bò lửa và bị nó lùa đi.
Do pháp thuật chỉ để biến hoá chứ không ngăn cản được bò lửa, việc làm đó chỉ có anh hùng mới chiến đấu được mà thôi. Vị hoàng tử vì muốn bảo vệ người yêu nên liều mạng chiến đấu với bò lửa và bị nó giết chết. Khi thấy người mình yêu ngã gục, với lòng phẩn nộ, ngựa một sừng mới can đảm dùng sừng có thần thuật làm bò lửa phải sợ và dồn nó ra đến biển. Khi bò lùi vào nước biển thì lửa của nó bị dập tắt và nó tiêu tan trong bọt biển. Lúc đó những con ngựa một sừng bị nhốt ở biển được trả tự do vì chúng chỉ sợ con bò đấu lửa, chúng phi nước đại vào bờ.
Khi những con ngựa chạy vào đất liền thì như lôi cuốn theo luồng sóng thần và cơn động đất cũng xảy ra dưới ngàn bước chân ngựa, làm cho lâu đài của Haggard cũng như thành phố xám xịt sụp đổ, Haggard bị rơi từ lâu đài xuống chết.
Tất cả thế giới chung quanh đó trở nên tươi sáng muôn màu.

Sau đó, hoàng tử Lir được ngựa một sừng dùng sừng thần tiên đụng vào và được cứu sống lại.
Amalthea không còn trên thế gian này nữa, hoàng tử Lir bị mất người yêu trong lòng rất đau đớn. Schmendrick bảo đảm với Lir rằng chàng đã đạt được chiến thắng trong tình yêu của ngựa một sừng, cho dù bây giờ chàng cô độc.

Schmendrick tìm được sức mạnh thực sự, chính thức trở thành thuật sĩ, anh cùng với Molly Grue từ đó đi trên cùng một con đường.
Ngựa một sừng tìm Schmendrick để nói lời tạm biệt trước khi đi vỉnh viễn. Schmendrick than thở rằng anh đã làm sai khi lúc trước đã hoá ngựa thành người gieo cho ngựa một sừng sự hối tiếc và biết thế nào là yêu cũng như sự già chết trong thân thể của một con người. Ngựa một sừng không đồng ý về những điều đó và cảm ơn anh đã giúp giải thoát đồng loại của nó. 
Ngựa một sừng đặc biệt đó vẫn luôn nhớ đến bạn bè và thời gian từng là một thiếu nữ.
Nó sẽ không bao giờ như những con ngựa một sừng khác chỉ biết có bốn cảm giác: vui, buồn, hạnh phúc và sợ, vì nó là ngựa một sừng duy nhất cảm thấy nuối tiếc và cảm nhận được tình yêu.
Ngựa một sừng cùng đồng loại đi mãi mãi vào khu rừng thần thoại, trở về nơi có mùa xuân vĩnh cửu.
https://www.youtube.com/watch?v=g-KVqvC2rEI
Phim hoạt hoạ được lồng tiếng bởi các tài tử điện ảnh nổi danh như: Mia Farrow giọng của ngựa một sừng và Lady Amalthea; Jeff Bridges hoàng tử Lir; Alan Arkin Schmendrick; Angela Lansbury giọng Mommy Fortuna; Christopher Lee vua Haggard; Tammy Grimes giọng của Molly Grue; Keenan Wynn đại uý Cully; Rober Klein giọng con bướm.
Sưu tầm và dịch.

_________________________________________s'
________________________________________.s'
________________________________________s³
_______________________________________s³'
_____________________________________`sS³
____________________________,____s..§§§§,$$s.
___________________________s.___ssSS§§§§$°$$$$ss,.
____________________________ssS§§§s§§§§³$$$$$$$$$² $
__________________________.ss§§§s§§§§s§§§$$$s$$³³$ ³'
_________________________s'__s§§s§§§s§§§$$³'
_____________________,____`_§§s§§§§s§§s§$$$s.
_____________________§__,_§§§s§§§§s§§§s§§$s$$$s
______________________³³³§§§s§§§s§§§s§§s§$$$$s$$.
________________________s§§s§§§s§§§§s§§s³$$$$$s$$s
_______________________§§s§§§s§§§§§s§§§s$$,$$$$$$$ s.. ___,ss..
_______________________§§s§§§§§s§§§s§s§§s$§$$$$$$$ $$s_$$$$$$s.
______________________s§³³§§s§§s§§§§s§§s§³³$$$$$$$ $$$$s$$³³³$$$$s..
______________________§__s§§s§§§s§§§s§§s§$$$$$$$$$ $$s$$$'_____`$$$.
_______________________`__'__³§§§s§s§§§s§s.$$$$$$$ $$s$$$s..______'$$ss
____________________________s³'_§§s§§³³$$$³$$$$$$$ s$$$$s$$$$$$sss..³³³³`
____________________________§ss§_$³$$$$$$$$$$$$$$$ $$$$s$$$$$$$$$$s.
______________________________s$$$$$$$$$$$$$$$$$$³ ³$$$_________³$$
________s§§§§§§s.__________s$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$ $³____________'$$
________§§§§§§§§§s_____s$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$³' ______________³$$
_____s§§§§§§§§§s§§s___s$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$³'__ ______________$$$
____s§§s§§§§§§§§§s§s_s$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$³'____ ______________s$$
___§§§s§§§s§§§§s§§§§§$$$$$$$$$$$$$$$$$$$$³³'______ ____________s$$³'
___s§§§s§§§s§§s§§§³__$$$$$$$$$$s$$$$$$³³³'________ _____________$³'
___§§§§§s§§s§§s§§³__$$$$$$$$$$$$ss³³³$'___________ _____________'
__s§§§s§§§§§s§§§s§ss_$$$$$$$$$$³$$$$$$
`³s§§§s§§s§§s§§§§§s§§$$$$$$$$³³$$$$$$³
__`³_§§§§§s§§s§§§s§§§$$$$$$³³_$$$$$$³
______³§§§s§§s§s§§§§³$$$$$³'_.$$$$$³'
___,___§§s§§s§§s§§³$$$$$³'_.s$$$$³'
___§_`s§s§§³§§s§§³$$$$³§§__$$$$s
___§§ss§§§§_§§§s$$$³§§_§'___³$$$.
___³³§§s§§³-§§s§³$$³§§³-.³_____³$$$.
_____§§³³_§§§s§§$$;§§³³_'_______³$$s
_____§§__§s§§s§.$$§³'.___________³$$$s.
______³³,_§§§s§³$$³________________³$$$s
_________³§§§s§$$s_________________³³$$$,
___________³³§§³$$s
_______________$$

Tuesday, February 26, 2013

Cha và Con Trai - Chuyện hình của Erich Ohser

"Cha và Con Trai" là công trình nổi tiếng nhứt của Kurt Erich Ohser (Cuộc Ê-rít Ô-sờ), họa sĩ vẽ biếm họa cho báo, họa sĩ vẽ minh họa cho sách, họa sĩ vẽ chuyện tranh của Đức. Tổng cộng 185 câu chuyện ngắn được kể bằng hình vẽ. Một câu chuyện kể qua 3 đến 9 hình minh họa, về những kinh nghiệm đã trãi qua, các vấn đề trong cuộc sống hằng ngày, phản ứng tự nhiên, những lỗi lầm nhỏ và có thể tha thứ được của một người cha và đứa con trai (khoảng 6 tuổi) nghịch ngợm.

Đứa bé có mái tóc chỉa ra tua tủa như lá của trái thơm, ngược hẳn với tóc ngắn, chẻ đỉnh, tiêu chuẩn hóa, đồng phục hóa, quân phục hóa, tập thể hóa của những đứa trẻ cùng thời.
Đầu óc như đứa trẻ lại là người cha. Dưới mặt nạ ngụy trang, bụng bự, đầu hói, và râu mép giống râu hải mã, ông là người muốn nổi loạn.
Cùng nhau, không ai có thể cạnh tranh với cha con họ được.
Họ có những ý kiến thật ngoạn mục như khi nướng bánh quên bỏ nho khô, khi bánh chín ra lò, họ lấy súng bắn nho vào ổ bánh đã hoàn thành.
Đã có biết bao nhiêu người vẽ biếm họa, minh họa, v.v., nhưng có mấy ai có bản vẽ tồn tại lâu dài qua nhiều thế hệ như vậy?
- Vì những hình này luôn tươi trẻ, gần gũi với đời sống thật, phản ảnh được sự tuyệt vời của cuộc sống một gia đình bình thường như của chúng ta.
- Chuyện kể hài hước, là nguồn của niềm vui gầy dựng trên đạo đức.
- Tác phẩm "Cha và con trai" phổ biến nhanh chóng, được nhiều người ưa thích và được biết đến ở nhiều nước trên toàn thế giới, một phần cũng vì đa số hình minh họa, không lời, không chữ, người nước nào cũng có thể hiểu.
- Cuộc đời của người nghệ sĩ thật đau thương, nhưng hình vẽ rất sống động. Hoàn cảnh người cha trong chuyện giống như cảnh "gà trống nuôi con", suốt ngày ở nhà và có thể chơi với con hằng ngày. Nhưng sự thật thì ông không được giấy phép hành nghề.
- Qua hình vẽ của Erich Ohser, người ta cảm nhận được sự yêu thương trẻ em, đứa bé không chỉ đơn giản là "con nít", mà là người tuy nhỏ nhưng là cá nhân có cá tính rất đặc biệt.
- Một hình vẽ tuy nhỏ, nhưng qua ánh mắt, đi xuyên qua con tim của người nghệ sĩ và in dấu trên giấy có giá trị hơn là trên sáu mét vuông tô nhãm nhí, tạo thành một thứ giả dối, vô ý nghĩa. 

Năm nay 2013, kỹ niệm 110 năm ngày sanh của Erich Ohser.
Erich Ohser sanh ngày 18 tháng 3 năm 1903 tại thị trấn nhỏ của tỉnh Sachsen (đông Đức), là con trai của trung sĩ hải quan.
Khi Erich 6 tuổi, năm 1909 gia đình ông dời đến thành phố Plauen (cũng thuộc tỉnh Sachsen), ông học trường tiểu học và tốt nghiệp trường dạy nghề thợ cơ khí tại đó.
Năm 1920, trái với sự mong muốn của cha mẹ, ông không học đại học ngành cơ khí mà học nghệ thuật đồ họa và in sách ở học viện công tại Leibzig, thành phố lớn tỉnh Sachsen, đông Đức. Đồng thời ông làm việc thêm tại "nhà báo mới Leibzig".

Khi còn là sinh viên, ông đã có một đường lối suy nghĩ riêng về xã hội và chính trị, nghiêng về đảng dân chủ xã hội (tương đương với đảng của Obama - Mỹ ngày nay), được phản ảnh qua hình vẽ và làm việc cho các báo nghiêng về đảng này.
Ảnh hưởng không ít đến tư tưởng của ông là hai người bạn: nhà biên tập báo Erich Knauf và nhà văn, nhà thơ Erich Kästner (vào thời điểm đó là sinh viên văn khoa tại Leibzig).
Từ đó, ba người có cùng tên Erich kết bạn thân với nhau cho đến khi cuộc đời của họ chấm dứt.

Sau khi học xong, Ohser sớm được người trong nước biết đến là một họa sĩ biếm họa.
Đặc biệt những hình biếm họa của ông về Hít-le và Goebbels (*) làm cho ông trở thành người bị bọn  theo Đức quốc xã căm ghét.
* Dưới chế độ phát xít Đức, Goebbels nắm chức bộ trưởng bộ tuyên truyền, bộ trưởng bộ văn hóa bao gồm 17 phòng ban: báo chí trong và ngoài nước, tạp chí, xuất bản sách - thơ - văn, thông tin, truyền thanh - tin tức, phim ảnh, sân khấu, âm nhạc, nghệ thuật - tranh mỹ thuật, du lịch, v.v.
Khi Goebbels bốn tuổi, hắn bị viêm tủy xương, sau đó bắp chân phải của hắn bị cong và bàn chân khoèo (equinovarus foot deformity). Mặc dù chính Goebbels bị tật ở chân như vậy nên không được nhận vào lính (đệ I thế chiến) và lùn chỉ 1 mét 65 mang biệt danh trên thế giới: "Đức teo (lùn)", nhưng hắn theo chính sách của Đức quốc xã, cực kỳ độc ác với thiểu số và những người tàn tật khác. Chính hắn đã tổ chức đốt sách của những người không theo chế độ, đốt nhà thờ của Do thái.
Khi Đức thua trận, ngày 1. tháng 5 năm 1945 Goebbels tự tử không rỏ bằng cách nào (uống thuốc độc hay tự bắn) người ta chỉ thấy đống xương của hai vợ chồng Goebbels còn cháy dở ở hầm chúng trốn bom. Trước đó, họ cho 6 đứa con của họ tuổi từ 5 đến 13 uống thuốc độc.

Hình đăng báo của Ohser, thí dụ hình vẽ một người say rượu tiểu hình "chữ thập móc", biểu tượng của Đức quốc xã trên tuyết.
Hình biếm họa đăng trên báo "Thời sự mới" năm 1931. Chữ có nghĩa: "Mày lăn đi đâu Goebbel bé nhỏ?", hình Goebbels với bước đi như nhảy nhót.
Có lẽ vì hình này mà "Goebbel bé nhỏ" vĩnh viễn không tha thứ cho Erich Ohser khi hắn lên nắm quyền sinh tử của tất cả nghệ sĩ Đức.

Đăng trên báo "Tiến lên" năm 1931.
Dịch:
Nhu cầu khẩn cấp
"tôi (cảm thấy tôi là kẻ) đê tiện trước chính tôi"


Cùng với Kästner và nhiếp ảnh gia Hein Gorny, Erich đã viếng các nơi như Paris (lúc bấy giờ có nhiều người theo xã hội chủ nghĩa), và các thành phố lớn của Liên xô. Từ đó hình thành xu hướng phản đối chính sách của chế độ cộng sản của ông.

18.10.1930 ông cưới bạn cùng học khi xưa Marie Luise Imgard (Marigard) Bantzer con gái của họa sĩ, nghị viên, giáo sư Carl Bantzer. Một năm sau, đứa con trai duy nhứt Christian ra đời.
* Marie Bantzer sanh 1905 tại Dresden, mất 1999 tại Karlsruhe (tây Đức). Sau chiến tranh, bà lấy chồng kế, họa sĩ Heinrich Klumbies.
Năm 1933, khi Đức quốc xã lên nắm quyền, đó cũng là thời điểm kết thúc tương lai của Ohser, người vẽ biếm họa chính trị.
Đơn xin vào hiệp hội ký giả của ông bị từ chối, đây cũng là một hình thức cấm không cho làm việc. Từ đó về sau, vợ của ông phải làm việc để hỗ trợ gia đình.

Cuối năm 1934, Ohser xin việc tại nhà báo ở thủ đô Berlin, họ tìm người vẽ tranh kiểu chuột Micky.
Với dự thảo "Cha và con trai", ông được thâu nhận. Với điều kiện là không được vẽ hình có dính líu đến chính trị, mỗi tuần vẽ một câu chuyện ngắn để đăng trên báo, nhưng ông không được xuất bản dưới tên thật của mình mà phải dùng bút hiệu "e. o. plauen" (tên viết tắt Erich Ohser và thành phố nơi ông sống lúc nhỏ).

Ác cảm của ông đối với chế độ Đức quốc xã dần dần không thể che giấu được. Họ kể chuyện cười chế diễu chế độ.
Ngày 22 tháng 2 năm 1944 ông bị tố cáo bởi người láng giềng Bruno Schultz *, một đại úy trong quân đội của bộ tư lệnh tuyên truyền.
* Vào những ngày tháng cuối của thế chiến, Schultz bị chuyển đi chiến trường đông Âu, bị bắt và chết trong trại tù binh Liên xô vì bịnh thương hàn.

Ngày 28 tháng 3 năm 1944, Ohser và bạn Erich Knauf bị bắt và vào ngày 6 tháng 4 năm 1944 sẽ bị đưa ra tòa án nhân dân (của Đức quốc xã) xử tội. Ngay sáng ngày 6 tháng 4 năm 1944, Ohser đã đi trước bọn gian ác một bước, ông treo cổ tự tử trong ngục.
Đúng 1 năm, 1 tháng, 1 ngày sau đó, Đức đầu hàng vô điều kiện, đệ nhị thế chiến chính thức chấm dứt tại Âu châu.

Knauf bị đưa ra tòa và tuyên án tội: "vu khống, nói xấu chế độ". Vào ngày 2 tháng 5.1944 Knauf bị chặt đầu. Góa phụ, vợ của Knauf sau đó nhận được hóa đơn phải trả tiền chi phí cho tòa án Đức quốc xã, tổng cộng 585,74 Đức quốc xã tệ, trong đó có tính cả chi phí xử tử.
Erich Knauf sanh ngày 21 tháng 2 năm 1895, là nhà báo, nhà văn, và viết lời cho bài hát.
Sau này, gia quyến của Erich Knauf tìm thấy một văn bản soạn thảo cho một bài hát của ông, với nội dung một đoạn trích ra từ trong đó:
"Tôi rất hạnh phúc được sống trên thế gian này, bạn không nghỉ như vậy sao?
Ai không thích sống trong tâm tối, u mê, thì hãy cùng tôi đi về phía ánh sáng.
Thế gian, cuộc sống thật tuyệt vời, đâu là thung lũng tuyệt vọng?
Nói một cách trung thực, tôi muốn trở về thế gian này một lần nữa, thật sự rất sẵn lòng là đằng khác.
Và sẽ sống như chính tôi bây giờ."
(Kim Long tạm dịch)
Những lời trên, cũng có thể hiểu là lòng tin và hy vọng của Knauf vào sự tốt đẹp của thế giới này và sự lạc quan của con người luôn tồn tại. Mặc dù sống trong môi trường rất khó khăn về mặt chính trị, xã hội, chiến tranh, nhưng Knauf vẫn yêu đời, không hề có ý tưởng chán nãn và ông luôn giữ vững lập trường, kiếp sau cũng vẫn sẽ sống như vậy.

Nhà thơ Erich Kästner có viết một bài thơ với tựa: Hóa đơn chưa thanh toán - "eine unbezahlte Rechnung" (an unpaid invoice).

Nội dung của hoá đơn...
Chi phí trong vụ án hình sự của Erich Knauf.
Phí cho việc thực hiện tử hình: 300 Đức quốc xã tệ
Phí bưu điện, tem: 1,84 Đqxt
Lệ phí luật sư công: 81,60 Đqxt
Phí khi trong lúc bị tạm giữ từ 28.3.1944 đến 2.5.1944: 44 Đqxt
Phí hành tội, kết án, định tội: 158,18 Đqxt
Chi phí giấy, mực, bưu chính, phí kế toán: 12 Đqxt
Tổng cộng 585,74 Đqxt.

Christian Ohser kể: "Tôi ngủ khi cha tôi qua đời". Khi ông được 13 tuổi thì người cha chấm dứt cuộc sống của mình khi ấy chỉ 41 tuổi. Hôm đó, Christian bị bịnh bạch hầu và nằm sốt trên giường.
Khi nhìn hình ảnh cũ của ông ta, bạn không thể phủ nhận sự tương đồng, giống với người anh hùng nhỏ trong truyện tranh "Cha và con trai". Cũng mũi nhỏ xẹp, mái tóc xoắn...

Sau chiến tranh, mặc dù dưới sự giúp đỡ của những người bạn của cha, Chris (tên bạn gọi) có thể dễ dàng lập nên sự nghiệp, nhưng vì không thể sống trên đất nước của những người hàng xóm đã tố cáo và những người đã giết cha mình, với sự tự tin có đủ trí thông minh không nhờ tên tuổi của cha, ông rời Đức. Trước tiên ông sang Anh, gần Oxford ở đây ông sở hữu một trang trại. Sau đó qua Mỹ. Ở Mỹ, ông làm việc ở các nhà in nổi tiếng như Mac Millan, Times Mirror. Ông đạt được tới chức quản lý phần thiết kế, xuất bản hàng in chất lượng cao.
Năm 1999 lần đầu tiên sau nhiều năm, ông cùng vợ Wendy trở về thăm Plauen.
Christian Heinrich Ohser sanh 20 tháng 12 năm 1931 tại Bá-lin, mất 23.6. năm 2001 tại Düsseldorf (Tây Đức) sau cơn đau tim, thọ 69 tuổi.

Peter Erich Ohser là cháu nội của Erich, sanh 1967 có quốc tịch Mỹ, hiện sống tại Texas và làm trong nghành tài chánh. Tháng 6 năm 2016, Peter lảnh chức Phó chủ tịch tập đoàn "Moneygram International chi Americas & Europe", công ty có nhiều chi nhánh tại Hoa kỳ và Gia nã đại, chuyên về thương mại, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn các sản phẩm khách hàng đặc mua trên toàn cầu.
Peter Ohser có bằng cử nhân nghành quản trị kinh doanh trường đại học tư Roger Williams và bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh của trường đại học Minnesota.
Năm 2004, Peter Ohser trao tặng khoảng 1400 hình vẽ của Erich Ohser cho thành phố Plauen, đưa "Cha và con trai" trở về cố quốc. Hình vẽ bao gồm toàn bộ "Cha và con trai", hình vẽ chính trị và hình biếm họa vẽ cho báo hàng tuần "Das Reich", chân dung, minh họa, vẽ phác thảo. Toàn bộ trị giá khoảng 1 triệu Euro. Ngoài ra còn một số thư từ và sở hữu, tài liệu cá nhân của Erich Ohser.
Peter Ohser lập gia đình với Alyce, có 2 con trai sanh 2003/2006 Owen Christian Ohser và Graham Ohser.

Kim Long Sưu Tầm và dịch

Bài luận quá tệ
Phát minh tiện lợi
Cuốn sách thú vị
Tương tự hải mã
Chụp hình làm đẹp
Quên bỏ nho
Thi sĩ "Goethe" với tất cả trân trọng.
Một năm sau...
Trả thù khi bị bắt ở nhà
Chơi ở bãi biển
Sự kiên trì của nhà trường.
1/ Xin lổi cho sự vắng mặt trong buổi học của con tôi. Không may chúng tôi bị mất tích. Ký tên: "Người cha"
2/ 6 tuần sau
3/ Gởi: Cha & con trai: "yêu cầu cung cấp bằng chứng !". Ký tên: "Meyer, giáo viên trưởng trường tiểu học"
Thảy hứng
Người tuyết
Món quà
Chó cũng không thèm

Saturday, February 23, 2013

Nếu Một Ngày ...

Thơ Tự Do - Kim Long
Nếu Một Ngày

Nếu một ngày tôi không còn đôi mắt,
Thì cuộc đời sẽ u ám dường nào.
Không thấy đường đi, chẳng thấy sắc màu,
Những đau khổ, bất công đều không thấy.

Nếu một ngày tôi là người câm điếc,
Thì cuộc đời sẽ trầm lặng biết bao.
Không tiếng động, chẳng tiếng chim ca hót,
Lời đau lòng, oán trách đều không nghe.

Nếu một ngày tôi không còn tay chân,
Thì thân thể tợ như bị trói buộc.
Chơi, tiệc tùng, dạo phố làm sao đi?
Chẳng lẻ bò lết trườn như sâu rọm?

Nếu một ngày tim, gan đều hư hết,
Thì cuộc đời sẽ sầu thảm biết bao.
Thuốc từng ngày, sáng, chiều uống cả chục,
Không biết mai còn mở mắt hay không?

Nếu một ngày phổi, thận đều yếu ớt,
Thì cuộc đời sẽ đau đớn biết bao.
Mỗi hơi thở đều lo âu thấp thỏm,
Đi lọc máu, ghép đồ lòng người chết.

Nếu một ngày trí nhớ đều mất hẳn
Giống người khờ, chẳng biết cả chính mình
Tâm linh chết nhốt trong thân thể sống
Cả thế giới như một tờ giấy trắng

Nếu một ngày người thân đều đi hết,
Thì cuộc đời sẽ cô độc biết bao.
Không còn ai để tâm sự, vui cười.
Mình ngồi đó gặm nhấm bao kỹ niệm.

Nhưng may thay mọi thứ còn rất khá,
Mắt, mũi, tay, chân, óc, phổi, tim, gan,
Người thân, bạn bè, một ít người quen.
Trong hiện tại mọi thứ đều ổn định.

Có đôi lúc ngồi một mình ngẫm nghĩ,
Tại vì sao lại bỏ phí thời gian?
Mãi bon chen trong con sóng của đời.
Ở núi này ta trông sang núi nọ.

 Ngẫm nghĩ xong, nó đưa ra quyết định,
Làm những gì cảm thấy thích, thấy vui,
Không hối tiếc những gì trong quá khứ
Sống tích cực sáng sớm cho tới chiều.

Trong vũ trụ ta nhỏ hơn vi khuẩn.
Một đời người lại thấm thoát trôi nhanh.
Vì một ngày ai cũng phải lên đường,
Đến thế giới của ngàn thu vĩnh biệt.

Kim Long 2013

Friday, February 22, 2013

Phát Hiện Giống Người Mới: "Homo Urbanus Dumbass"

Gần đây, các nhà nghiên cứu về sự tiến hóa cùa giống người, các nhà khoa học về sinh học đã phát hiện ra một giống người mới.
Giống này được đặc tên: "Homo Urbanus Dumbass".
Giống phát triển từ thể chất của nam giới, chủ yếu sống ở đô thị, xuất xứ từ thành phần có học thức kém trong xã hội.
 Đặc điểm chính của giống mới:
- Chân rút ngắn khoảng 50% so với người bình thường.
- Mông cực kỳ teo lại.
- Lưng dài ra rất nhiều và có thêm 8 xương sườn.
- Bởi vì mình của họ dài, cản gió nhiều nên bị lạnh, vì vậy thường thấy họ đội nón.
- Tướng đi xàng xê, lạch bạch như vịt.
- Vì chân ngắn nên họ không có khả năng chạy nhanh.
- Đề bảo đảm cho sự an toàn của chính họ, người ta thấy họ thường tụ tập và di chuyển trong nhóm.
- Biểu hiện cho sự thoái hóa trong ngôn ngữ, thí dụ thay vì gặp ai chào hỏi:
"Xin chào, bạn có khoẻ không?", 
thì họ chỉ nói: 
"Ê, có chuyện gì !"
- Thông thường họ sở hữu xe hơi tự động, cũ đã chạy trên 250 000km.
Hiện chưa có bằng chứng rỏ ràng làm sao với đôi chân ngắn, họ có thể đạp bàn đạp và thắng. Có lẽ họ thực hiện điều đó với tư thế gần như nằm.
- Thường tranh giành lãnh thổ, khu vực sống rất hung dữ và tiêu cực đối với "người không đần".
- Họ hay đeo kiếng mát hoặc đội nón bóng chày.
Vì sao nón bóng chày thường đội nghiêng một bên, hiện cũng chưa ai biết rỏ. Người ta nghi ngờ là đội như vậy để bảo vệ óc trước năng lượng và ánh sáng mặt trời. Vì với lưng dài như vậy thì oxy không thể lên tới óc cho nên óc của họ bị nhạy cảm với ánh sáng.
- Sự thông minh của họ còn ở giai đoạn rất thô sơ.

Điều chưa được rỏ là vì sao hai tay của họ không phát triển dài ra tương ứng với thân thể, như loài vượn.
Người ta suy đoán rằng nếu tay họ dài ra theo tiến hóa, thì họ không thể cầm tay lái, do vậy tay họ không dài. Tuy nhiên đó chỉ là giả thuyết, chưa có một dữ liệu nào đáng tin cậy.

Kim Long sưu tầm và dịch
Homo tiếng La-tinh có nghĩa là "Người"
Urbanus tiếng La-tinh có nghĩa "Đô thị"
Dumbass tiếng Anh nghĩa "Kẻ đần"
"Homo Urbanus Dumbass": "Người đần đô thị"
Quần loại này gọi là "baggy pants" hay "hip hop baggy".
Kim Long sưu tầm

Coi Thêm

Wednesday, November 21, 2012

Bí Ẩn Của Con Ếch Bị Luộc

Nếu bạn đặt một con ếch vào một nồi nước sôi, con ếch sẽ cố gắng nhảy ra khỏi đó ngay lập tức.

Nhưng nếu nồi nước có nhiệt độ ấm thì con ếch sẽ ngâm mình trong nước và không có cảm giác lo sợ. Nếu nồi bây giờ đặt trên nguồn nhiệt và nhiệt độ tăng dần thì một điều lạ xảy ra.
Khi nhiệt độ tăng đến khoảng 30°C, con ếch vẫn nằm trong nước và có vẻ rất thích. Khi nhiệt độ càng lúc càng nóng con ếch từ từ xìu dần và nó không còn sức để tự cứu mình bằng cách nhảy ra khỏi nồi nước nóng mặc dù không có trở ngại gì ngăn cản nó... cho đến khi nước sôi thì ếch bị luộc chết.

Tại sao lại như vậy?

Bởi vì phản ứng tự nhiên, bản năng sinh tồn, nhận thức tự cứu của loài ếch chỉ phát huy khi môi trường chung quanh có sự thay đổi đột ngột. Nhưng khi sự đe dọa phát triển từ từ thì nó không cảm nhận được sự nguy hiểm và không còn sức để thoát thân khi đã quá trễ.

Câu chuyện này thường được sử dụng để khuyến cáo con người phải cẩn thận quan sát xu hướng thay đổi dần dần của môi trường. Chúng ta không những chỉ quan tâm đến mối đe dọa rõ ràng mà cần phải quan sát và phản ứng kịp thời trước những nguy hiểm phát triển chầm chậm.

Kim Long sưu tầm và dịch

The Boiled Frog

If you put a frog into a pot of boiling water, it will leap out right away to escape the danger.

But, if you put a frog in a kettle that is filled with water that is cool and pleasant, and then you gradually heat the kettle until it starts boiling, the frog will not become aware of the threat until it is too late.

The frog's survival instincts are geared towards detecting sudden changes.

This parable is often used to illustrate how humans have to be careful to watch slowly changing trends in the environment. Its a warning to keep us paying attention not just to obvious threats but to more slowly developing ones.

Tuesday, November 20, 2012

Chuyện Ma: "Những Kẻ Khác"

Buổi hừng đông năm 1945 những ngày tháng khi đệ nhị thế chiến vừa chấm dứt, một phụ nữ tên Grace Stewart dựt mình thức giấc sau một cơn ác mộng...
Grace sống với hai đứa con Anne và Nicholas trong một ngôi biệt thự hẻo lánh trên đảo Jersey bên Anh. Ngày đêm Grace chăm sóc cho con bịnh hoạn hầu bảo đảm cho sự thoải mái, an toàn cho con.
Chồng của cô là Charles đã một năm rưỡi chiến đấu trong đội ngũ của quân lính Anh chống Đức quốc xã.
Hai đứa bé con cô mắc căn bịnh "xeroderma pigmentosum - children of the moon" bịnh nhạy cảm với ánh sáng, khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hai đứa trẻ sẽ tức thì bị phát ban và sau đó bị lở loét, vì vậy ở khắp các cửa sổ biệt thự đều phủ kín bởi màn vải nhung dầy và màu sậm.

Toàn thể nhân viên phục vụ ngôi biệt thự 50 phòng đã đột nhiên biến mất một hai tuần trước đó mà không thông báo trước.
Ngày nọ, có ba người đến bấm chuông để xin giúp việc và Grace đã nhận họ, đó là quản gia bà Bertha Mills, người làm vườn ông Edmund Tuttle và đầy tớ Lydia một cô gái câm.
Grace nói rõ với họ là ở tất cả các phòng nơi hai đứa trẻ cư trú luôn luôn phải kéo kín màn ở cửa sổ và các cửa ra vào luôn luôn phải khóa sau khi ra khỏi phòng.

Càng ngày sự cố càng không thể giải thích được: cửa mở và đóng tự động, dương cầm phát âm thanh mặc dù không thấy ai ngồi đàn trong phòng cửa đã khóa, tiếng của những bước chân vang vọng khắp nhà, tiếng khóc, tiếng thì thầm nói chuyện của nhiều người nhưng không thấy mặt họ, Grace cầm súng đi săn lùng những người đột nhập nhưng cô không tìm thấy ai.
Anne nói với mẹ là cô thấy một đứa bé trai cở cùng tuổi cô tên Victor và một người phụ nữ bí ẩn đứng tuổi, tóc bạc phơ và mù đã tìm cách liên lạc để nói chuyện với cô. Anne kể một bí mật cho em trai Nicholas rằng cô thấy nhiều người muốn đuổi họ ra khỏi dinh thự.

Ít ngày sau, Grace phát hiện ra một tập ảnh cũ với hình ảnh của người đã khuất, những người đã được chụp ảnh lần cuối cùng ngay sau khi họ chết. Grace định rời khỏi nhà đến tìm vị linh mục của làng để nhờ giải thích dùm những điều siêu nhiên kỳ lạ và mong được sự giúp đỡ để ban phước cho ngôi nhà, nhưng Grace đi lạc trong sương mù dày đặc và giữa rừng cô gặp chồng cô Charles trở về từ chiến trường, có vẻ thờ ơ, mệt mỏi vì chiến tranh .
Grace trách chồng đã bỏ cô với hai con trong thời gian qua... Sáng hôm sau Charles biến mất mà không một lời tạm biệt.

Sau đó đã xảy ra một cuộc xung đột giữa Grace và cô con gái: Grace nhìn thấy một phụ nữ già vô danh trong áo mặc rửa tội của Anne, trong thực tế đó chính là Anne. Bị mẹ tấn công, mắng chửi nên bây giờ cô bé càng quẫn trí hơn.

Kể từ lúc này, tình hình trở nên căng thẳng...
Một buổi sáng, tất cả các màn cửa sổ trong ngôi biệt thự bị gở mất, Grace và hai con của cô hoảng loạn, chạy trốn trong một phòng kho không cửa sổ.
Đêm hôm sau, hai đứa trẻ tò mò lẻn ra khỏi nhà đi tìm cha... kinh hoàng vì tình cờ chúng nhìn thấy trong khu vườn dưới đống lá vàng mùa thu có ba bia mộ với tên của ba nhân viên bà Mills, ông Tuttle và Lydia. Đồng thời ngay lúc ấy, trong nhà Grace phát hiện hình ảnh của ba người nhân viên đã chết 54 năm trước đó vào tháng 12 năm 1891 bởi bịnh dịch lao phổi. Ba mẹ con chạy vào phòng khóa cửa lại, nhưng cũng ngay trong phòng ấy họ chứng kiến dưới ánh đèn cầy lập loè quanh chiếc bàn tròn có những người đang cầu cơ chiêu hồn với sự có mặt của người phụ nữ già mù bí ẩn, người đã từng liên lạc nói chuyện với Anne. Đến lúc này thì ma nhìn thấy người sống, nhưng người sống lại không thấy ma.
Người đàn bà mù, tóc bạc hỏi: "Lý do vì sao linh hồn của họ còn lẩn quẩn trong căn nhà này?" Grace mất hết bình tĩnh dùng lực siêu nhiên tấn công khách bằng cách ném tung những mẫu giấy nằm trên bàn, rung rinh bàn và luôn la lớn câu. "Chúng tôi chưa có chết !".
Những người sống giựt mình kinh ngạc khi trong lúc chiêu hồn thấy giấy bay tung toé, bàn rung rinh nhưng họ không thấy được ma, những điều kỳ quái đó đã chứng minh cho "những người khách" là ba má của Victor Marlish và người đàn bà mù là trong nhà ấy có ma.

Hóa ra, "những kẻ khác" không phải là ma mà họ chính là người bằng xương bằng thịt, còn Grace và hai con của cô trong suốt thời gian qua họ vẫn mơ hồ chưa biết họ đã chết.

Gánh nặng của người phụ nữ trẻ phải nuôi dưỡng và chăm sóc cho hai con ốm yếu trong lúc chồng của cô đi biệt tăm ở ngoài chiến trường đã làm cho cô bị cô lập không có dịp bước chân ra khỏi nhà, bị cô độc và tuyệt vọng, không kiềm chế được sự điên cuồng, cô đã giết hai đứa con bằng cách úp gối lên mặt chúng khi chúng đang ngủ và sau đó khi ý thức được việc cô đã làm, cô đã tự bắn mình tự tử vài tuần trước đó.
Kể từ lúc ấy, hồn ma của họ đã vất vưởng trong ngôi nhà.
Ngôi biệt thự đã được bán cho một gia đình người sống, lời giài thích vì sao họ nghe những bước chân vô hình, sự việc màn cửa sổ bị mở toang.
Charles cũng đã tử trận trong chiến tranh trên chiến trường bên Pháp, nhưng không ý thức được điều đó nên anh trở về gặp vợ con để tạm biệt vì hồn anh bắt buộc phải quay trở lại hiện trường nơi mà anh đã chết mặc dù lúc đó chiến tranh đã chấm dứt.

Grace tìm lại được tình cảm của cô con gái, tình thương của cô dành cho hai con thậm chí còn nhiều hơn trước, hai đứa bé "ma" cũng không còn bịnh nhạy cảm với ánh sáng nữa. Grace và con của cô liên tục nhấn mạnh câu: "Ngôi nhà này thuộc về chúng ta!" và họ nhứt quyết không bao giờ rời bỏ ngôi nhà ấy.
Bị ám ảnh bởi ngôi nhà có ma, sáng hôm sau gia đình người sống dọn hành lý lên xe hơi rời khỏi nơi đó, khi Victor từ dưới nhìn lên cửa sổ tầng trên, cậu bé nhìn thấy ba con ma đang quan sát họ.
Sau cùng, có một người trung gian treo tấm bảng trên cổng ra vào: "nhà muốn bán".

Trên đây là cốt chuyện bộ phim kinh dị của Mỹ tựa nguyên thủy "The Others" chiếu từ năm 2001 dài 110 phút do nữ diễn viên quốc tịch Mỹ gốc Úc: Nicole Kidman đóng vai chính.

Kim Long tóm tắt nội dung

Sưu Tầm những câu chuyện về Thế Giới Bên Kia
Nước Mắt Người Điên Tác giả Kim Bạch Kim
KHI TÔI CÒN TRẺ VÀ THON Tác giả Kim Bạch Kim
BORN TO BE A BUSINESSWOMAN Tác giả Kim Bạch Kim
CHUỘT ĐI TỊ NẠN - RUỒI BỊ NGẤT XỈU Tác giả Kim Bạch Kim
DỰ TIỆC NHÀ GIÀU Tác giả Kim Bạch Kim
NÀNG ẾCH Đi Dạo Tác giả Kim Bạch Kim
RỪNG CÂY BIẾT ĐI Tác giả Kim Bạch Kim
ĐÀN ÔNG THUA CON CHÓ của cùng tác giả
300% MAY MẮN CHO CHẮC ĂN Tác giả Kim Bạch Kim
TRÚNG SỐ ĐỘC ĐẮC-KHUI LUÔN JACKPOT Tác giả Kim Bạch Kim
NỤ HÔN ĐẦU KHÓ QUÊN Tác giả Kim Bạch Kim
NGƯỜI ĐẦU TIÊN Tác giả Kim Bạch Kim
CHUYỆN GIANG HỒ Tác giả Kim Bạch Kim
VÌ SAO PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐÁNG ĐƯỢC KHÂM PHỤC Tác giả Kim Bạch Kim
 BẠN HEO Tác giả Kim Bạch Kim

Tuesday, September 11, 2012

5 Loại Vi trùng và Vi Khuẩn nguy hiểm nhứt

Hạng 5 - Vi trùng Bacillus anthracis (họ Bacillaceae)
Gây bịnh than "Anthrax", người bị nhiễm không chữa trị kịp thời 90% dẫn đến tử vong. Anthrax tiếng Hy lạp nghĩa "than" (cục than) vì khi người nhiễm bịnh chết thì lá lách và những chổ nhiễm khuẩn trên cơ thể chuyển đen, máu ứa ra cũng đen.
Vi trùng có dạng hình que hoặc hợp lại thành chuỗi có khúc như cây tre, bào tử có đường kính khoảng 1μm và dài từ 2 đến 4μm, hiện diện khắp nơi trên mặt đất. Bào tử có thể tồn tại hàng chục thậm chí hàng triệu năm (cô lập từ ruột một con ong bị kẹt trong Hổ phách/Amber, bào tử phân mầm trở lại). Bịnh chủ yếu truyền từ các thú vật ăn cỏ, thú móng guốc, móng chẻ như trâu, bò, heo, cừu, dê, ngựa, lừa, hươu, nai, lạc đà. Khi súc vật ăn vi trùng vào, chúng sinh sản ở cuống họng và ruột già của con thú, hoặc con thú hít vi trùng vào phổi hoặc bị nhiễm trùng qua vết thương hoặc vi trùng ẩn trong lông, da của thú chờ đợi cơ hội. Khi người ăn thịt thú nấu nướng chưa chín hẳn, hoặc khi trên người có vết thương và chạm vào súc vật bị nhiễm vi trùng hoặc hít thở vi trùng, chúng đi vào phổi, tế bào bạch cầu bao bọc lấy vi trùng và đẩy chúng đến các hạch bạch huyết, ở đó vi trùng sẽ hoạt động trở lại, phân tán vào máu thải chất độc phá hủy thành của mạch máu và làm hệ thống phòng thủ của cơ thể suy yếu đi. Thành mạch máu sẽ bị bào mỏng, máu sẽ chảy xuyên mạch máu và tràn khắp nơi, các bộ phận nội tạng bị mất máu. Nếu nhiễm trùng qua vết thương, trong vòng ba ngày tại nơi nhiễm trùng sẽ xuất hiện những "ổ" nhiễm trùng với vùng bị lỡ loét có mủ và sau đó vào trong cơ thể gây nhiễm trùng máu.
Nếu phát hiện sớm khoảng không quá một tuần, khi vi trùng còn chưa lan tràn có thể chữa trị bằng thuốc trụ sinh. Nếu phát hiện trể, khi độ nhiễm vi trùng quá cao và chúng đã thải ra quá nhiều độc tố thì thuốc kháng sinh không còn hiệu nghiệm.
Tùy theo bị nhiễm theo dạng nào thí dụ nhiễm qua vết cắt, vết thương, qua da,... bịnh có các triệu chứng như ngứa ngáy nơi chổ da bị nhiễm, sau đó lở loét chổ ấy nhưng không đau, nước mủ vàng chảy ra, hạch gần chổ bị nhiễm sưng lên. 
Nhiễm qua đường hô hấp rất khó chẩn đoán. Người bịnh có triệu chứng tương tự bị cúm, viêm phổi, bắt đầu ho, sốt, cảm giác mệt mỏi toàn thân, sau đó sẽ bị khó thở, ho ra máu. Tỷ lệ tử vong rất cao (80% đến 100%) và rất nhanh. 
Nhiễm qua đường bao tử, đường ruột, người bịnh bị đau bụng dữ dội, nóng cao, tiêu chảy có máu, ói mửa, nhiễm trùng máu, chảy máu nội tạng dẫn đến từ vong. 

Hạng 4 - Vi khuẩn Orthopox variola (họ Poxviridae)
Bịnh đậu mùa được phân biệt làm hai loại: Variola major (đậu mùa thật) và Variola minor (Alastrim variola đậu mùa trắng), loại major nguy hiểm hơn vì độ tử vong cao.
Vi khuẩn Variola major gây bịnh đậu mùa "Smallpox", bịnh nguy hiểm vì vi khuẩn truyền nhiễm cực kỳ nhanh qua nước miếng, mủ của người bịnh, vật dụng đồ đạc bị dính vi khuẩn. Truyền nhiễm không qua trung gian của thú hoặc côn trùng, mà chỉ truyền nhiễm từ người qua người.
Ở thế kỷ thứ 20 dịch đậu mùa "đen" haemorrhagic smallpox hoành hành gây thiệt mạng 500 triệu người, 90% đến 100% người nhiễm khuẩn bị tử vong. 
Khi vi khuẩn đột nhập được vào cơ thể, trước tiên chúng sẽ tấn công các hạch bạch huyết, lá lách và tủy từ đó chúng sinh sản trong tế bào chất của tế bào, sau đó chúng phá hủy tế bào chủ và lan nhiễm gây ra triệu chứng tương tự cúm: sốt, nhức mình mẩy, sưng và đau ở hệ thống hô hấp. Kế tiếp, vi khuẩn vào đường máu, niêm mạc và tiếp tục sinh sản. Sau đó khắp nơi trên thân thể người bịnh phát ban, nổi mọng mủ, bên trong xuất huyết nội tạng dẫn đến tử vong chỉ trong vài ngày.
Hiện tại vẫn chưa có cách điều trị hiệu quả cho bịnh này.
Nhờ cách ngăn chận vi khuẩn bằng phương pháp chích ngừa nên kể từ năm 1980 trên thế giới được coi là không có dịch đậu mùa xuất hiện nữa. Các nước đã bãi bỏ luật buộc tiêm chủng vì các biến chứng phụ do chích ngừa có thể gây ra, vì vậy những người sanh sau hoàn toàn không được bảo vệ trước vi khuẩn này, những người lớn tuổi đã từng được chích ngừa cũng chỉ được bảo vệ một phần vì 3 năm sau khi chích ngừa thì sự miễn nhiễm đã giảm dần.
Vi khuẩn gây bịnh đậu mùa vẫn còn tồn tại trong thiên nhiên. 
Ở hai nơi còn "chính thức" tồn trử vi khuẩn để thí nghiệm, nhốt chúng dưới nhiệt độ -100°C, một ở Novosibirsk Liên xô và một ở Atlanta Mỹ (Centers for Disease Control and Prevention).

Hạng 3 - Vi trùng Yersinia pestis (họ Enterobacteriaceae)
Bịnh dịch hạch được phân biệt làm ba loại:
- Dịch hạch thể hạch Bubonic plague với triệu chứng các hạch bị sưng, bịnh nhân bị sốt, ớn lạnh và thân thể suy nhược, có thể tiến triển gây ra các triệu chứng dịch hạch thể nhiễm trùng máu và dịch hạch viêm phổi.
- Septicemic plague, dịch hạch thể nhiễm trùng máu với triệu chứng sốt, ớn lạnh, đau bụng, xuất huyết dưới da, huyết áp thấp, và có thể tiến triển thành dịch hạch thể phổi.
- Bịnh dịch hạch viêm phổi Pneumonic plague có triệu chứng đau ngực, khó thở, ho ra đờm có máu, sốt, nhức đầu, thể này nghiêm trọng nhứt, nhưng cả ba loại đều nguy hiểm vì sát xuất tử vong cao và nhanh.
Vi trùng Yersinia pestis gây bịnh dịch hạch "Plague" truyền nhiễm sang người qua bò chét hút máu các con vật bị nhiễm bịnh như loài gặm nhấm: chuột, loài động vật sống hoang dã: sóc, chồn, thỏ. Bịnh sau đó truyền từ người sang người qua việc va chạm trực tiếp hoặc qua đường hô hấp như hít các giọt chất dịch của người bịnh. Khi vi trùng vào được cơ thể của người, chúng tấn công và phá hủy các hạch, thải độc tố và đi vào đường máu làm chảy máu nội tạng. Bịnh dịch hạch nếu phát hiện sớm có thể cứu bằng thuốc trụ sinh. 
Bịnh dịch hạch Bubonic plague "Black Death" năm 1347-1352 đã giết chết 75 triệu, 1/3 dân số của người Châu Âu, sử sách có ghi: "Ở khắp nơi, người sống không có đủ để chôn cất người chết".
Năm 1894, hai nhà nghiên cứu: bác sĩ kèm tiến sĩ về vi trùng học Alexandre Emil Jean Yersin (1863-1943) người Thụy sĩ gốc Pháp và bác sĩ kèm tiến sĩ về vi trùng học người Nhựt Shibasaburō Kitasato (1853-1931) đã gần như cùng một lúc miêu tả vi trùng có trong cơ quan của người đã chết vì bịnh dịch hạch. Yersin là người đã kết nối giữa chuột và binh dịch hạch do đó vi trùng được đặc tên của ông. Vào năm 1898 bác sĩ kèm tiến sĩ sinh vật học người Pháp Paul-Louis Simond (1858-1947) phát hiện nguồn lây bịnh là con bò chét.
Hiện nay, hàng năm vẫn còn có khoảng 2000 người chết vì bịnh dịch hạch. 

Khi đi dạo, bạn nhìn thấy con thú bị chết, bạn đừng nên đến gần chúng hoặc phòng chống bịnh bằng cách uống thuốc kháng sinh ngay sau khi tiếp xúc với người bị nhiễm bịnh.

Hạng 2 - vi khuẩn HIV

Vi khuẩn nguy hiểm hạng 1 - Ebola virus
Chi vi khuẩn Ebola thuộc họ Filoviridae, bao gồm 5 loài và 14 tiểu loại. Ebola là tên một con sông ở nước Zaire nay là cộng hòa dân chủ Congo.
Vi khuẩn gây bịnh sốt xuất huyết Ebola. Vi khuẩn được phát hiện lần đầu vào năm 1976, xuất xứ từ Congo và Sudan sau đó lan ra cộng hòa Gabon, Cốt-Đi-Voa (Ivory Coast), Nam Phi. Mới đây, vào tháng 7 năm 2012 dịch xuất hiện tại Uganda. Dịch truyền từ máu bị nhiễm khuẩn của khỉ và dơi, truyền nhiễm từ người sang người qua nước miếng, mủ, chủ yếu qua máu của người bị nhiễm khuẩn.
Bắt đầu sau hai, ba ngày hoặc có thể đến sau ba tuần, người bị nhiễm vi khuẩn có các triệu chứng sốt, ớn lạnh, đau nhức đầu, không muốn ăn, ngoài ra còn bị ói mửa, tiêu chảy, đau bụng, đau ngực, cuối cùng xuất huyết nội tạng nhứt là trong phổi và bao tử, ói mửa ra máu, ho ra máu, ra máu ở mắt và da. Sau khoảng 5 ngày phát ban, xuất huyết toàn thân. Trong vòng 9 ngày từ khi phát hiện triệu chứng sẽ dẫn đến tử vong với tỷ lệ là 90% đến 100%. Hiện tại không có thuốc phòng ngừa hay thuốc chữa trị sốt xuất huyết Ebola.

***

Dengue fever hay Breakbone fever. Sốt xuất huyết vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, do vi khuẩn Dengue gây ra, vi khuẩn Dengue thuộc họ Flaviviridae, truyền nhiễm duy nhứt chỉ qua muỗi sọc trắng (vằn trắng, chấm trắng) Stegomyia aegypti, Aedes albopictus, đặc điểm của muỗi này là chúng có những chấm trắng ở mình, chân và giữa đầu, chúng hoạt động ban ngày. Thời gian bị nhiễm cho đến phát bịnh khoảng từ 2 ngày đến 1 tuần.
Sốt xuất huyết dạng thông thường, người bịnh bị sốt có thể lên đến 41°C, triệu chứng như bị cúm: nóng lạnh, mỏi cơ bắp, nhức đầu, nhức khớp, nhịp tim đập chậm, phát ban, hạch, lá lách, gan bị sưng. Sau vài hôm (khoảng 2-3 ngày) bớt sốt nhưng sau đó 1 hay 2 ngày thì sốt cao trở lại.
Hemorrhagic form - Sốt xuất huyết ở trẻ em hoặc người lớn bị nhiễm khuẩn lần thứ hai nguy hiểm hơn do chảy máu nội tạng, ói ra máu, tiêu chảy ra máu, mê man, sốc, xác suất tử vong cao.
Hiện nay vẫn chưa có thuốc để diệt vi khuẩn, chỉ có cách điều trị các triệu chứng do chúng gây ra và người bịnh phải tuyệt đối nghỉ ngơi dưỡng sức.
Hy vọng thập niên sắp tới sẽ có thuốc ngừa (Dengue vaccine) chống được con vi khuẩn này.

Để bảo vệ cơ thể trước những con vi trùng và vi khuẩn nguy hiểm "phòng bịnh hơn chữa bịnh":
- Giữ thân thể khoẻ mạnh, tăng cường hệ thống miễn dịch để cơ thể có sức đề kháng chống lại vi trùng vi khuẩn.
- Tránh xa các nguồn nghi ngờ bị nhiễm khuẩn.
- Chích ngừa nếu có thể.
- Tránh lạm dụng trụ sinh và tránh ăn những súc vật bị chích trụ sinh.
- Vệ sinh: rửa tay bằng xà bông sau mỗi lần đi nhà vệ sinh, rửa tay trước khi chuẩn bị thức ăn, rửa tay trước khi ăn. Không gắp thức ăn chung đụng với các người khác.
- Nếu đến những nơi không vệ sinh hoặc nơi có nhiều vi trùng vi khuẩn hoặc những lúc bịnh dịch lan tràn, nên đem theo chai cồn nhỏ để tẩy trùng ngoài da cho mình. 

Kim Long sưu tầm

Kim Bạch Kim 鉑 Thơ Đường Luật Chuyện ngắn sáng tác Chuyện vui Đố vui Phong Thủy Tin Tức

Danh Mục kimlong9999.blogspot.com

Lịch ngày Ta Phong Thủy 3 Toa Thuốc, Rượu Bổ Dương: Thốc Kê Hoàn, Thần Tiên Tửu, Thung dung Xà Sàng Tửu Trúng Số Độc Đắc Khui Luôn Jackpot Lời Than Theo Gió Nấu Ăn Kiều đoạn cuối Đố vui Video Hài Architecture Tình Sử Huyền Trân Chế Mân Tên Giang Hồ Tóm Tắt Nội Dung Một Số Phim Hay herald sun news Phim List Nhạc Việt newsweek Vị Trí Mụt Ruồi và Tướng Số Thơ Sưu Tầm Truyện Kiều đoạn đầu abc news daily mail news Tin Tức - Kiến Thức Đàn Ông Thua Chó Chuyện Vui Máy Mắt Đoán Điềm Chuyện Ngắn Kim Bạch Kim Đoạn Trường Tương Tư Anh Hùng Việt English Số Đề Korea Music Nguyễn An Kiến Trúc Sư Tài Ba Xây Tử Cấm Thành Trung Quốc Đọc và Suy Ngẫm cnn news Đồng tình luyến ái của các Hoàng đế trong lịch sử tàu Trăng thề vườn Thúy ** Phận Kiều ♥ Đường Luật Kim Bạch Kim ♥ Chung Một Mái Nhà Đoán Số Mệnh Pha Lê & Thủy Tinh Tiếng Việt Nam Bắc Con Gái Ba Miền Bắc Trung Nam Truyền Thuyết Quỳnh Hương Phụ Nữ Việt Nam Đáng Được Khâm Phục Những Món Ăn Kinh Khủng Nhứt Thế Giới Ý Nghĩa của Kim Bạch Kim - khác biệt giữa Vàng - Vàng Trắng - Bạch Kim Quang Trung Nguyễn Huệ Đại Phá Quân Thanh Cúm Heo Thuốc Ngừa và Thuốc Trị Vi Khuẩn H1N1 Tri Kỷ Chơi Cờ Uống Rượu Ý Nghĩa của Biểu tượng chính thức trang http://kimlong9999..blogspot.com Nguyệt Đùa Bạn Heo Vài Món Ăn Đặc Biệt Miền Nam - Trung - Bắc Việt Nam 21.12.2012 Ngày Tận Thế? Kim Cương & Hột Xoàn

Popular Posts

this is a Non-Profit non-commercial website Trang không vụ lợi không buôn bán Không Quảng Cáo