Saturday, March 14, 2009

☯ Cân Xương Đoán Số Mệnh ☯

Nếu có một lần nào đó quý vị đến xem một nhà coi tướng, và đã từng nghe ông thầy nói: "cô hay cậu đây cao số lắm ...v.v." Vậy có nghĩa là số mạng lớn, người sang cả, phong lưu, phú hộ, thông minh, hiền nhân quân tử.

Phép bói toán tính trọng lượng của năm, tháng, ngày, giờ sanh là một cách để biết xem người nào đó có số cao hay thấp vậy thôi, chứ không phải chỉ nội bấy nhiêu đó mà đủ quyết đoán cho trọn một đời người. Vì ngoài cách tính này còn phải phối hợp với tử vi, ngoại tướng, tánh tình, giọng nói, mụt ruồi, và nhứt là phúc đức giòng họ, v.v., người có càng nhiều đặc điểm tốt, mới có thể quả quyết được người đó tốt số, và có trường thọ thì mới hưởng được giàu sang phú quý lâu dài. Ngoài số mạng là những gì đã đặt để khi một người vừa mới sanh ra, còn có thuật phong thủy thí dụ như phương hướng nhà ở, cách sắp đặt phòng ốc trong nhà, chọn ngày tốt, chọn bạn đời, người giúp việc tuổi hợp hổ trợ giúp mình, v.v. là những gì chính mình có thể thay đổi, lựa chọn được để chuyển đổi đem lợi thế về cho mình.
Vậy nếu có số tốt thì hãy tin là tốt, nhưng nếu có Lượng Chỉ xấu thì...
có câu "ĐỨC NĂNG THẮNG SỐ",
"盡人力知天命", hay là đừng có tin vì xưa nay "Nhân định thắng thiên" cũng nhiều.

Có 2 Cách Tính:

Cách 1:
Tra bảng dưới đây để tính cân lượng
(bấm vào bảng để mở to)

Đổi ngày, tháng sanh qua Âm Lịch hết nha
(coi Lịch ngày Ta, bấm ở đây Lunar Calendar hay vào bên Mục Lục blog này đó)

Cách Tính Thứ 2:
Cân lượng theo năm sinh âm lịch:
Giáp Tý: 1 lượng 2 chỉ - Bính Tý: 1 lượng 6 chỉ - Mậu Tý: 1 lượng 5 chỉ - Canh Tý: 0 lượng 7 chỉ - Nhâm Tý: 0 lượng 5 chỉ
Ất Sửu: 0 lượng 8 chỉ - Đinh Sửu: 0 lượng 8 chỉ - Kỷ Sửu: 0 lượng 8 chỉ - Tân Sửu: 0 lượng 7 chỉ - Quý Sửu: 0 lượng 5 chỉ
Bính Dần: 0 lượng 6 chỉ - Mậu Dần: 0 lượng 8 chỉ - Canh Dần: 0 lượng 9 chỉ - Nhâm Dần: 0 lượng 9 chỉ - Giáp Dần: 0 lượng 2 chỉ
Đinh Mẹo: 0 lượng 7 chỉ - Kỷ Mẹo: 1 lượng 9 chỉ - Tân Mẹo: 1 lượng 2 chỉ - Quý Mẹo: 1 lượng 2 chỉ - Ất Mẹo: 0 lượng 8 chỉ
Mậu Thìn: 1 lượng 2 chỉ - Canh Thìn: 1 lượng 2 chỉ - Nhâm Thìn: 1 lượng 0 chỉ - Giáp Thìn: 0 lượng 8 chỉ - Bính Thìn: 0 lượng 8 chỉ
Kỷ Tỵ: 0 lượng 2 chỉ - Tân Tỵ: 0 lượng 6 chỉ - Quý Tỵ: 0 lượng 7 chỉ - Ất Tỵ: 0 lượng 7 chỉ - Đinh Tỵ: 0 lượng 6 chỉ
Canh Ngọ: 0 lượng 9 chỉ - Nhâm Ngọ: 0 lượng 8 chỉ - Giáp Ngọ: 1 lượng 5 chỉ - Bính Ngọ: 0 lượng 5 chỉ - Mậu Ngọ: 1 lượng 9 chỉ
- Tân Mùi: 0 lượng 8 - Quý Mùi: 0 lượng 7 chỉ - Ất Mùi: 0 lượng 6 chỉ - Đinh Mùi: 0 lượng 5 chỉ - Kỷ Mùi: 0 lượng 6 chỉ
Nhâm Thân: 0 lượng 7 chỉ - Giáp Thân: 0 lượng 5 chỉ - Bính Thân: 0 lượng 5 chỉ - Mậu Thân: 0 lượng 4 chỉ - Canh Thân: 0 lượng 8 chỉ
Quý Dậu: 0 lượng 8 chỉ - Ất Dậu: 1 lượng 5 chỉ - Đinh Dậu: 1 lượng 4 chỉ - Kỷ Dậu: 0 lượng 5 chỉ - Tân Dậu: 1 lượng 6 chỉ
Giáp Tuất: 1 lượng 5 chỉ - Bính Tuất: 0 lượng 6 chỉ - Mậu Tuất: 0 lượng 5 chỉ - Canh Tuất: 0 lượng 5 chỉ - Nhâm Tuất: 1 lượng 0 chỉ
Ất Hợi: 0 lượng 9 chỉ - Đinh Hợi: 1 lượng 6 chỉ - Kỷ Hợi: 1 lượng 9 chỉ - Tân Hợi: 1 lượng 7 chỉ - Quý Hợi: 0 lượng 7 chỉ

Cân lượng theo tháng sinh âm lịch:
Tháng Giêng: 1 lượng 2 chỉ
Tháng Hai: 0 lượng 7 chỉ
Tháng Ba: 1 lượng 8 chỉ
Tháng Tư: 0 lượng 9 chỉ
Tháng Năm: 0 lượng 5 chỉ
Tháng Sáu: 1 lượng 6 chỉ
Tháng Bảy: 0 lượng 9 chỉ
Tháng Tám: 1 lượng 5 chỉ
Tháng Chín: 1 lượng 8 chỉ
Tháng Mười: 0 lượng 8 chỉ
Tháng Mười Một: 0 lượng 9 chỉ
Tháng Chạp: 0 lượng 5 chỉ

Cân lượng theo ngày sinh âm lịch:
Ngày mùng một: 1 lượng 0 chỉ
Ngày mùng hai: 1 lượng 0 chỉ
Ngày mùng ba: 0 lượng 8 chỉ
Ngày mùng bốn: 1 lượng 5 chỉ
Ngày mùng năm: 1 lượng 6 chỉ
Ngày mùng sáu: 1 lượng 5 chỉ
Ngày mùng bảy: 0 lượng 8 chỉ
Ngày mùng tám: 1 lượng 6 chỉ
Ngày mùng chín: 0 lượng 8 chỉ
Ngày mùng mười: 1 lượng 6 chỉ
Ngày mười một: 0 lượng 9 chỉ
Ngày mười hai: 1 lượng 7 chỉ
Ngày mười ba: 0 lượng 8 chỉ
Ngày mười bốn: 1 lượng 7 chỉ
Ngày rằm: 1 lượng 7 chỉ
Ngày mười sáu: 0 lượng 8 chỉ
Ngày mười bảy: 0 lượng 9 chỉ
Ngày mười tám: 1 lượng 8 chỉ
Ngày mười chín: 0 lượng 5 chỉ
Ngày hai mươi: 1 lượng 5 chỉ
Ngày hai mươi mốt: 1 lượng 0 chỉ
Ngày hai mươi hai: 0 lượng 9 chỉ
Ngày hai mươi ba: 0 lượng 8 chỉ
Ngày hai mươi bốn: 0 lượng 9 chỉ
Ngày hai mươi lăm: 1 lượng 5 chỉ
Ngày hai mươi sáu: 1 lượng 8 chỉ
Ngày hai mươi bảy: 0 lượng 7 chỉ
Ngày hai mươi tám: 0 lượng 8 chỉ
Ngày hai mươi chín: 1 lượng 6 chỉ
Ngày ba mươi: 0 lượng 6 chỉ

Cân lượng theo giờ sinh:
Giờ Tý (23h - 01h): 1 lượng 6 chỉ
Giờ Sửu (01h - 03h): 0 lượng 6 chỉ
Giờ Dần (03h - 05h): 0 lượng 7 chỉ
Giờ Mẹo (05h - 07h): 1 lượng 0 chỉ
Giờ Thìn (07h - 09h): 0 lượng 9 chỉ
Giờ Tỵ (09h - 11h): 1 lượng 6 chỉ
Giờ Ngọ (11h - 13h): 1 lượng 0 chỉ
Giờ Mùi (13h - 15h): 0 lượng 8 chỉ
Giờ Thân (15h - 17h): 0 lượng 8 chỉ
Giờ Dậu (17h - 19h): 0 lượng 9 chỉ
Giờ Tuất (19h - 21h): 0 lượng 6 chỉ
Giờ Hợi (21h - 23h): 0 lượng 6 chỉ

Ví dụ Bạn sinh ngày 21 tháng 10 Dương Lịch năm 1986 lúc 10 giờ sáng
Đổi sang ngày Âm Lịch 18 tháng 9 năm Bính Dần, giờ Tỵ
Ngày 18: 1.8
Tháng 9: 1.8
Năm Bính Dần: 0.6
Giờ Tỵ : 1.6
1.8+1.8+0.6+1.6= 5 Lượng 8 Chỉ

Tổng cộng có 60 hoa giáp, 12 tháng, 30 ngày, 12 giờ có tất cả 50 lượng số khác nhau. Lượng số thấp nhất là 2 lượng 2 chỉ, số cực khổ bần bạc, cơ hàn thiếu tới cơm ăn áo mặc. Còn lượng cao nhất là 7 lượng 1 chỉ, đó là số của nhân vật phi thường, trong một nước khó có tới 3 người. Ai có lượng số cao này là cực phú cực quý. Tuy nhiên lượng số quá cao, mọi sự ở đời đều được hưởng thụ một cách thái quá thì chắc cũng sẽ bị họa hoạn, tai ương, bạo tử một cách cùng cực. Cho nên đại lược tuổi nào có được số lượng từ 3.2 đến 6.0 là tốt vừa và khá tốt rồi. Chớ "rủi" có số lượng cao quá thì cũng chớ ham mà thấp quá thì cũng nghèo cực vất vả lắm.

Tuy nhiên, đây chỉ là lượng số chung, nó là một trong nhiều môn coi số mạng khác chỉ nên đoán ra để so sánh chớ không nên tin tuyệt đối.

2 Lượng 2 Chỉ đến 2 Lượng 9 Chỉ


2 Lượng 2 Chỉ
Số này thân hàn cốt lạnh khổ sở linh đinh, quanh năm lo kiếm ăn độ nhựt mà còn thiếu thốn, rồi có thể trở thành ăn mày vì số mạng vậy.

Người có số lượng và số chỉ nầy căn kiếp cơ cực bần hàn, thân thế bơ vơ đói khổ, tha phương cầu thực, trôi nổi linh đinh không định hướng, vô gia đình, vô nghề nghiệp.

Một đời bần bạc chịu lênh đênh
Vô phước trải bao nỗi bất bình
Khéo ở hiền lành trao đức hạnh
Trái ngon quả ngọt kiếp lai sinh.

2 Lượng 3 Chỉ
Số này hễ mưu toan làm việc chi cũng khó nên được, chẳng trông cậy nơi anh em họ hàng, đành chịu tha phương cầu thực.

Số này so lại cũng bần hàn
Thê tử không hiền lại kém ngoan
Bôn tẩu xứ người, xa tổ quán
Trăm ngàn cay đắng với thời gian.
Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy khó được hanh thông, lúc trẻ lận đận, khi thăng lúc trầm, danh nghiệp không được vững chắc, không gần gũi cha mẹ, anh em, xa quê hương từ thuở nhỏ.
2 Lượng 4 Chỉ
Số này suy ra không có phước lộc gia đình, Khó gầy nên sự nghiệp, không nương cậy nơi họ hàng cốt nhục, chỉ lưu lạc tha phương cầu thực tới già thôi.

Phước lộc ông cha chẳng được nhiều
Chiếc thân cô độc nghĩ buồn hiu
Vợ con nhà cửa đành ly tán
Xa xứ lìa quê tuổi xế chiều.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy, gia đình nghèo khó, họ hàng cách xa, tha phương cầu thực. Cuộc đời từ trẻ tới già cũng chưa được sung sướng.

2 Lượng 5 Chỉ
Suy ra số này tổ nghiệp suy vi, ít có phần gầy dựng nên gia đình được, họ hàng cốt nhục thì như than với giá, một đời khổ sở chỉ tự mình tìm sự sống mà thôi.

Một thân vất vả một thân mình
Tổ nghiệp tiêu tan hận bất bình
Ruột thịt như người dưng kẻ lạ
Ra công gắng sức tự mưu sinh.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy thì tay làm hàm nhai, tự mình tháo vát lo lấy thân phận, tổ phụ thiếu tu nhân tích đức, khiến con cháu về sau phải chịu lận đận vất vả.

2 Lượng 6 chỉ
Số này trọn đời khốn khổ một mình mưu tính công việc làm ăn luôn luôn nhưng chẳng thành. Nên lìa xa quê cha đất tổ mới hầu được đủ ăn và may ra lúc già được thanh nhàn.

Mưu vọng bao nhiêu hận bấy nhiêu
Thành công chưa thấy, thất công nhiều
Xa quê lập nghiệp còn cơ hội
Đến tuổi già nua gặp nước triều.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy sớm chịu mồ côi, cuộc đời hoàn toàn không được hạnh phúc, vợ chồng vất vả. Nếu lúc trẻ có đạo tâm thì trở về già được ấm no.

2 Lượng 7 Chỉ
Số này một đời làm công việc ít có được người khác mưu toan giúp đỡ, khó nhờ cậy phước đức của tổ tông. Chỉ tự lực một mình làm ăn, từ bé đến lớn chẳng có gì hay cả.

Một đời làm việc ít suy lường
Nhờ có mẹ cha liệu chủ trương
Mai kia chiều xuống thung huyên mất
Của giữ không xong thọ chẵng trường.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy thì việc làm ăn thường gặp thất bại. Cuộc đời may ít rủi nhiều, con đường sinh kế chật vật. Tình cảm khô cằn vì thân phận cô đơn. Khả năng kiến thức không có, nên thiếu người đồng chí hướng.

2 Lượng 8 Chỉ
Số này làm ăn lộn xộn rối ren như bòng bong, về sản nghiệp của tổ tông thì như giấc mộng. Nếu chẳng làm con nuôi người ta hay là không đổi họ thì cũng phải dời đổi gia cư đến đôi ba lần.

Một đời mưu sự tựa phiêu bồng
Tổ nghiệp bao nhiêu cũng sạch không
Thay họ đổi tên đi xứ khác
Cơ đồ gầy dựng mới còn mong.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy tâm trí rối loạn. Công việc làm ăn tính toán đều bỏ dở, đời sống tạm bợ, được không mừng mất không lo. Có của phụ ấm mà không được hưởng. Duyên nợ đôi lần dang dở sau mới bền.

2 Lượng 9 Chỉ
Số này năm xưa thì lẩn quẩn chưa hề được hanh thông, dầu có công danh nhưng cũng trễ muộn, phải tới ngoài 40 tuổi mới có thể đặng an nhàn.

Thiếu thời vận hạn lắm truân chuyên
Số phải tứ tuần mới phúc duyên
Nhưng nếu dời nhà thay đổi họ
Thì đời thêm rạng rỡ uy quyền.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy, trưởng thành trong gia đình không được khá giả. Nhưng có mạng lớn, đến đâu cũng có quý nhân giúp đỡ. Nhờ đó mà cuộc sống có phần phong lưu. Đến 40 tuổi mới an hưởng phú quý.


3 Lượng 0 Chỉ đến 3 Lượng 9 Chỉ


3 Lượng
Số này lao lực phong trần, trong đời gặp lắm cảnh lầm than. Dầu có siêng năng hà tiện thì tới tuổi già chỉ đỡ ưu sầu chút đỉnh thôi.

Lao nhọc bao nhiêu lận đận hoài
Xứ người bôn tẩu gót mòn chai
Ăn cần ở kiệm đừng liêu lỏng
Tuổi chiều bóng xế được gia tài.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy tâm trí thường hay suy nghĩ. Làm ăn thường gặp sự thất bại nhiều hơn thành công, sự nghiệp đôi ba lần sụp đổ. Đến 50 tuổi thì mới an hưởng tuổi già, trở về già sẽ nhờ con cái.

3 Lượng 1 Chỉ
Số này cũng vất vả lao đao vì sinh kế, khó nhờ sự nghiệp của tổ tông mà nên nhà nên cửa. Từ nửa đời người trở lên mới gọi là đủ ăn đủ mặc.

Trời đất âm u khuất ánh dương
Một thân lao khổ đã trăm đường
Trung niên hy vọng nên công nghiệp
Xa xứ lìa quê mới thọ trường.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy phần đông lúc thiếu thời phải chịu vất vả, ba chìm bảy nổi tha phương lập nghiệp. Vợ chồng gặp nhau nơi xứ lạ, lúc 38 tuổi mới tạo nên sự nghiệp.

3 Lượng 2 Chỉ
Số này năm xưa gặp vận rủi, khó mưu đặng công việc gì. Về sau mới có tài lợi như nước chảy lần tới. Từ nửa đời người trở lên thì ăn mặc đặng no đủ, lúc ấy công danh lợi lộc đặng hanh thông.

Tuổi trẻ bôn chôn ích lợi gì
Từ hăm hai tuổi hết sầu bi
Tiền tài danh vọng từ từ tới
Họa phước tạo công đã định kỳ.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy lúc nhỏ được sung sướng tạo dựng nhà cửa. Vợ chồng sống rất hạnh phúc, sanh con cái rất thông minh. Sau nhờ con gái nhiều hơn. Sống xa cha mẹ hay anh em.

3 Lượng 3 Chỉ
Số này lúc ban sơ làm ăn công việc chi cũng khó thành, mưu tính trăm đường chỉ uổng công thôi. Từ nửa đời người trở lên mới gặp vận hay sẽ tới như dòng nước chảy lại, sau tài lợi tấn phát đặng nhiều.

Uổng công mưu sự nước xuôi giòng
Tuổi trẻ bôn chôn cũng hóa không
Bốn chục trở lên vận số vượng
Cây khô gặp nước lại đơm bông.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy thì việc làm ăn lúc đầu thường hay gặp trở ngại, sau mới có kết quả. Vợ chồng sống không được hòa thuận. Đến năm 45 tuổi mới tốt, làm ăn mới trôi chảy, hạnh phúc gia đình mới yên tâm.

3 Lượng 4 Chỉ
Số này có phước đức tăng đạo, phải xa quê hương cha mẹ mà xuất gia nương cửa phật, hàng ngày tụng niệm thì mới đặng y lộc viên mãn.

Số mạng cao xanh đã định rồi
Có căn tu niệm được cao ngôi
Xuất gia đầu Phật quy Tam Bảo
Uy đức tòa sen chín phẩm ngồi.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy thì có số tu hành. Sớm muộn cũng xuất gia nương nhờ của Phật, duyên nợ lỡ làng, nghang trái. Đàn ông thì làm ăn thất bại long đong lận đận, nghèo khổ.

3 Lượng 5 Chỉ
Số này phước lượng sanh bình chẳng đặng chu toàn, chẳng hưởng phần căn cơ của tổ nghiệp truyền lại. Còn sự sanh nhai thì phải chờ khi vận tới rồi mới đặng no đủ hơn xưa.

Phước căn tu tích một phần ba
Sản nghiệp vài nương ruộng lúa nhà
Cần kiệm lâu ngày đủ ăn mặc
Tương lai an hưởng tuổi về già.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy thì cuộc đời giàu sang phú quý, làm ăn phát đạt, con cái đầy đủ. Tuy vậy, hạnh phúc gia đình không được yên ấm.

3 Lượng 6 Chỉ
Số này một đời chẳng cần phải lao lực chi lắm, một tay gầy dựng nên gia nghiệp, cái phước chẳng phải vừa.

Chẳng cần lao nhọc quá làm chi
Tự kết duyên lành phỉ dạ đi
Bởi có phước tinh thường chiếu mạng
Làm ăn phát đạt rạng môn quy.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy thì làm chơi ăn thiệt, số có quý nhân phò trì nên dù gặp việc gì rắc rối sau cũng được thành công. Số này sống trường thọ. Sau con cháu thi đỗ đạt.

3 Lượng 7 Chỉ
Số này làm chẳng đặng thành công, anh em ít giúp sức, chỉ một thân cô lập. Tuy rằng cũng có tổ nghiệp chút đỉnh, nhưng lúc lại thì rành rành đó lúc đi thì chẳng biết hết bao giờ.

Vận mạng làm gì cũng chẳng thành
Anh em ly tán, độc cô hành
Còn nhờ phúc ấm truyền lưu lại
Gặp dịp may ra cũng nổi danh.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy phần đông xuất thân trong gia đình khá giả, được hưởng phần hương quả. Có chí lớn tha phương lập nghiệp, tánh can cường không muốn nhờ cậy ai cả dù là cha mẹ. Muốn tự tay mình lập nghiệp mà do mồ hôi nước mắt mình tạo ra...

3 Lượng 8 Chỉ
Số này cốt cách thanh cao, sớm đặng thi đỗ, tên họ ghi trên bảng vàng. Từ năm 36 sẽ đặng phú quí vinh hoa.

Uy nghi thuần khiết tánh thanh cao
Tuổi trẻ không lo chuyên khó, giàu
Ba sáu năm này khoa cập đệ
Bạch y một sớm đời hồng hào.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy thì thân đơn độc mả, bỏ nhà xa quê hương từ tấm bé, tìm xứ khác lập nghiệp. Của tiền tạo ra thấy đó rồi mất đó. Tình duyên trắc trở buổi ban đầu sau mới hợp. Tuổi già cũng như trẻ, tâm trí thường hay suy nghĩ.

3 Lượng 9 Chỉ
Số này trọn đời vận mạng chẳng đặng thông đạt, Làm việc thành rồi cũng hư. Khổ tâm kiệt lực dựng nên gia kế tới sau này cũng như giấc mộng.

Con đường quan lộ chửa hanh thông
Tính việc gì rồi cũng hóa không
Lao lực lao tâm mòn mỏi lắm
Bao nhiêu mưu tính nước xuôi giòng.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy cốt cách phong nhã, hào hoa. Tuổi nhỏ học hành giỏi dắn, trí óc thông minh, khôn ngoan tột bực. Đến 36 tuổi thì đường quan lộc công danh rạng rỡ. Vợ đẹp, con cái sau nầy hiển đạt.

4 Lượng 0 Chỉ đến 4 Lượng 9 Chỉ


4 Lượng
Số này phước lộc đặng lâu dài, nhưng xưa phải chịu qua nhiều nổi phong ba vất vả. Sau này đặng hưởng an nhàn phú quí.

Cuộc đời đã trãi lắm phong sương
Nay được giàu sang rạng tổ đường
Mọi việc tính gì đều được nấy
Tương lai lộc thọ ắt miên trường.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy lúc nhỏ có phần gian truân, nhưng thời gian ngắn thôi. Cuộc sống từ 25 tuổi trở lên mới được phát đạt. Công danh sự nghiệp được hanh thông. Về sau được hưởng của, hoạch tài chẳng qua đó là chổ tích đức phùng đức.

4 Lượng 1 Chỉ
Số này là người tài ba lỗi lạc, công chuyện trước sau chẳng đồng nhau, từ nửa đời sắp lên lại có phước tiêu diêu, chớ chẳng như xưa kia vận chưa đạt.

Số này suy thạnh vận không đồng
Có sẵn kỳ tài lập dị công
Trung niên thời vận hay thay đổi
Từ đó tới già mạng được thông.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy đúng là nhân vật tài ba tột bực. Sau nầy nên danh phận với đời. Có dịp xuất ngoại. Tới năm 51 tuổi thì thảnh thơi con cháu đầy đủ.

4 Lượng 2 Chỉ
Số này sẽ được nhiều thỏa nguyện. Từ nửa đời người thì vận mạng đặng nên, lúc ấy tài lợi công danh thảy đều tấn phát.

Khoan hoài được dịp cứ khoan hoài
Chau mặt làm chi phải ủ mày
Ba sáu tuổi trời thời vận đến
Công danh tài lộc sẽ vào tay.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy lúc nhỏ làm ăn được phát đạt, tiền bạc dồi dào thì chớ vội mừng. Nếu ngược lại số phải vất vả long đong thì chớ vội trách. Bởi vì mạng số an bài, trung niên mới phát đạt. Nhưng cần nên tu tâm tích đức thì mới được vững bền.

4 Lượng 3 Chỉ
Số này là người tánh rất thông minh, làm việc lỗi lạc hiên ngang gần với người sang quí. Một đời phước lộc tự trời định sẵn.

Bẩm sanh tâm trí cực thông minh
Lẫm liệt hiên nhang vượt bất bình
Tài lộc sẵn dành trời đã định
Quý nhân như có ở quanh mình.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy, thông minh hoạt bát, số được kẻ yêu người mến. Có quý nhân giúp đỡ. Đến năm 46 tuổi mới được giàu sang sung sướng. Số có con đông.

4 Lượng 4 Chỉ
Phàm sự chi cũng bởi trời đem lại, chẳng cần cầu làm chi cho mệt, phước lộc về sau sẽ đặng hơn nhiều lúc khi xưa. tuy rằng lúc trẻ cung tài bạch khó đặng như ý, nhưng tới tuổi già đặng an nhàn.

Muôn sự tự trời chớ gượng cầu
Việc mình, mình biết chớ tìm đâu
Bốn mươi tuổi lẻ nên cơ nghiệp
Rủ sạch ưu tư hết khổ sầu.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy phần đông sống cuộc đời cơ cực rày đây mai đó, không gần gũi cha mẹ hay anh em. Sống một cuộc đời tự lập. Đến năm 37 tuổi thì việc làm ăn mới được hanh thông, phát đạt.

4 Lương 5 Chỉ
Số này phần công danh lợi lộc trước phải tân khổ, mà sau này cũng phải bôn ba, số hiếm hoi con cái vì khó nuôi, anh em cốt nhục cũng ít đặng phù trợ giúp sức.

Thử xem số mạng sẽ ra sao
Đoán biết tương lai chẳng mấy giàu
Con cái, gái trai nuôi thật khó
Anh em ruột thịt biết phương nào.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy bôn ba cho lắm cũng không có kết quả nào, phải đợi đến 40 tuổi thì mới tốt. Đường con cái thì quá hiếm hoi, vợ chồng thì rất hạnh phúc. Gia cảnh trong ấm ngoài êm, tiền bạc đầy đủ, con cái học hành đỗ đạt.

4 Lượng 6 Chỉ
Số này đi đâu cũng đều đặn hanh thông, nhất là đổi họ dời nhà lại càng thạnh vượng. Ăn mặc đầy đủ tự số trời định. Từ nửa đời người cho đến lúc già đồng một mực trung bình.

Nam bắc tây đông dạo khắp nơi
Thay tên đổi họ tưởng là chơi
Ai hay danh vọng càng thêm rạng
Tài lộc miên miên hưởng trọn đời.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy được quan lộc, số giàu sang vinh hiển. Trong tay lắm kẻ hầu người hạ. Đường thê thiếp có đến hai vợ. Con cái học hành tiến phát. Sau nhờ đứa con đầu lòng.

4 Lượng 7 Chỉ
Số này tính ra vượng về lúc tuổi già, vợ con phú quí vì vốn có cái phước sẵn như nước chảy lại.

Bình sanh tổ phước chứa minh minh
Số được an vui thắm thiết tình
Vợ đẹp con ngoan nhà cửa rộng
Một đời thẳng tắp bước tiến trình.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy ắt phải có chức vụ to, giàu sang, trọng vọng ít ai bì. Giòng họ đều thuộc vào hàng trưởng giả. Anh em hòa thuận.

4 Lượng 8 Chỉ
Số này tuổi trẻ như lúc tuổi lớn, cũng chẳng đặng hưng vượng. Anh em họ hàng đều không đặng nhờ cậy giúp sức. Tới lúc già rồi mới đặng đôi phần an khương.

Cha mẹ anh em chẳng giúp mình
Một thân quyết đạp gục đầu kình
Bôn chôn rồi cũng hoàn bạch thủ
Tuổi bốn mươi hơn, lộc thọ vinh.
(bạch thủ = trắng tay; câu trên ý nói: "làm lụng cho lắm rồi cũng mất sạch")
Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy, số xa cha mẹ, huynh đệ không hòa thuận. Cuộc sống dời đổi luôn, công danh sự nghiệp chưa đạt thành. Mãi đến ngũ tuần mới có cơ thịnh vượng. Cần nên tu tâm trở về già mới được hưởng phước lộc.

4 Lượng 9 Chỉ
Số này suy ra có hậu phước lắm, tự tay gầy nên sự nghiệp vẻ vang gia đình. Người sang đều kính trọng. Một đời sung sướng.

Số mạng xem ra phước chẳng khinh
Tự thân tự lập rạng môn đình
Tôi đòi trai gái trong ngoài đủ
Kẻ dạ người vâng thật hiển vinh.
Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy, thường được quý nhân phò hộ. Trắng tay tạo nên sự nghiệp, nhưng đời sống cũng không được bền vững, khi thạnh khi suy. Âu đó chẳng qua là sự thử thách. Tuổi trung niên được nhiều người thương kẻ mến.

5 Lượng 0 Chỉ đến 5 Lượng 9 Chỉ


5 Lượng
Số này hàng chỉ lao lực về đàng công danh tài lợi. Lúc nửa đời cũng có nhiều phen gặp phước lộc, tới lúc già tài tinh chiếu mạng sẽ đặng an nhàn.

Hai chữ lợi danh nhọc xác thân
Ba mươi tuổi lẻ mới nên phần
Từ nay tài lộc đều hưng vượng
Hòe quế chi lan sực nức sân.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy thường hay suy nghĩ, làm ăn không được thịnh vượng. Cuộc đời ngoài 30 tuổi mới thấy phấn chấn phát đạt. Hào con hào của được tương vượng và bền lâu . Số nầy được hưởng phần hương quả.

5 Lượng 1 Chỉ
Số này một đời vinh hoa, mọi việc thảy đều tấn phát, chẳng cần lao lực, tự nhiên hanh thông. Anh em chú cháu đều đặn như ý, gia nghiệp và phước lộc đặng đầy đủ.

Một đời sang quý vận hanh thông
Chẳng hao tâm lực cũng thành công
Anh em quyến thuộc đều hòa thuận
Gia nghiệp truyền lưu nước một giòng.
Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy từ nhỏ đến lớn không làm gì động đến móng tay, mà vẫn có của để thụ hưởng. Căn kiếp an bài, cha mẹ giàu sang, số có quan quyền nên học ít mà hiểu nhiều. Sau nầy làm nên danh phận.
5 Lượng 2 Chỉ
Số này trọn đời hanh thông, việc gì cũng hay, chẳng cần nhọc lòng mà tự nhiên yên ổn. Họ hàng cốt nhục thảy đều giúp sức, sự nghiệp hiển đạt.

Từ thuở mới sanh đã sướng rồi
Tiền căn tích thiện phước do trời
Tông môn rạng rỡ gia đường thạnh
Tên tuổi lừng danh khắp mọi nơi.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy chắc chắn quyền cao chức lớn, cuộc sống giàu sang. Anh em hòa thuận. Họ hàng nhờ cậy. Con cái sau nầy làm nên danh phận.

5 Lượng 3 Chỉ
Số này xem ra khí lượng chơn thật, nghiệp nhà mà đặng phát đạt cũng ở trong đó. Phước lộc một đời có số định sẵn vinh hoa phú quí.

Cốt cách mai đây phước trạch dày
Thi thơ kinh sử chẳng nhường ai
Một đời an hưởng vui nhàn hạ
Vàng ngọc sao bằng phước mới hay.
Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy, tâm địa chơn chất hiền hòa. Căn mạng có quý nhân phò trợ, nên cho dù gặp việc dữ đến mấy cũng tai qua nạn khỏi. Công danh được thỏa mãn. Vợ chồng sống rất hạnh phúc, con cái đầy đủ.
5 Lượng 4 Chỉ
Số này là người có tánh trung hậu và thanh cao, học hành minh mẫn ăn mặc phong túc, tự nhiên an ổn, chính là người có phước trên đời.

Số mạng không giàu ắt cũng sang
Có tài tế thế trị an bang
Kinh luân mã phúc thông minh sẵn
Từ trẻ tới già số vẫn nhàn.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy tánh tình liêm khiết ,không ham dời đổi. Tài lộc vượng và được vững bền. Con cái sau nầy làm nên danh phận.

5 Lượng 5 Chỉ
Số này lúc trẻ hàng bôn ba trên đường danh lợi, nhưng uổng công phí sức mà thôi. Ngày kia, phước lộc sẽ tới như nước chảy lại, rồi tự nhiên phú quí vinh hiển.

Ra roi giục ngựa trải mười phương
Từ thuở thanh xuân đủ mọi đường
Đến tuổi trung niên tài lộc vượng
Làm nên danh phận rạng gia hương.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy phần đông sống một cuộc đời tự lập, anh em không nhờ cậy được nên phải lận đận. Đến năm 30 tuổi mới có cơ hội vùng vẫy làm ăn phát đạt, công danh sự nghiệp cũng được vững bền.

5 Lượng 6 Chỉ
Số này suy ra là người lễ nghĩa thông thái, một đời phước lộc, nếm trải đủ mùi chua cay, nguồn tài lợi tới cuồn cuộn, an ổn và phong hậu.

Làm người lễ nghĩa lại đoan trang
Áo trắng giày rơm thấy cũng sang
Cay đắng mùi đời đà nếm đủ
Công danh tài lộc rạng môn quan.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy tánh tình hiền hòa, anh em hòa thuận. Thường được của hoạnh tài, có quý nhân giúp đở. Sau nầy làm nên danh phận. Con cái đầy đặn.

5 Lượng 7 Chỉ
Số này phước lộc đầy dẫy, mọi sự hanh thông quang hiển, mẹ cha oai vọng chấn dương, người đều kính trọng.

Muôn việc làm nên chẳng khó khăn
Hiển vinh uy vệ phước đều tăng
Dương danh hậu thế còn tên tuổi
Tích đức tu nhơn có thiện căn.
Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy có phần không cần phải lo cũng có cơm no, áo ấm. Vật chất tiền bạc đầy đủ. Mạng phước lộc thọ, nên sự nghiệp vững bền. Được kẻ trên người dưới mến chuộng.
5 Lượng 8 Chỉ
Số này là số bảng vàng áo gấm, quan cả khoa cao, phước lộc một đời tự nhiên đem lại, phú thọ đều có cả, danh lợi kiêm toàn.

Một đời y lộc tự phong quang
Danh lợi song toàn phúc thọ khang
Ngọc đài tử bào ơn vũ lũ
Tương lai hoạn lộ bước thênh thang.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy thường là người có danh vọng, có chí lớn, một tay lập nên sự nghiệp, anh em không được hòa thuận. Đến năm 40 tuổi mới được thảnh thơi. Con cái sau nầy đỗ đạt làm nên danh phận.

5 Lượng 9 Chỉ
Suy ra số này là người diệu xảo không có thanh cốt, chắc hẳn tài cao học rộng có tài đậu khoa bảng, có mạng làm quan sang.

Cốt cách thanh cao trí huệ minh
Bảng vàng chắc chắn được nên danh
Đường mây rộng mở chim tung cánh
Yên ngựa đưa roi một bước thành.
Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy muốn làm gì cũng tốt cả, làm chơi ăn thiệt có quý nhân giúp đỡ tận tình, nên việc làm ăn được trôi chảy. Đến năm 34 tuổi thì tài lộc vượng. Con cái đầy đủ.

6 Lượng 0 Chỉ đến 6 Lượng 9 Chỉ


6 Lượng
Số này tên đậu bảng vàng, lập nên công lớn, vinh vang tông tổ, điền sản phong túc, y lộc dư giả.

Ngước trông lên bảng thấy đề danh
Đèn sách lâu nay mộng đã thành
Giúp nước giúp nhà tài sức trẻ
Suốt đời vinh quý liệt oanh oanh.
Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy tánh hay nóng nảy, việc làm ăn không được thịnh vượng phải đợi đến 42 tuổi thì mới tốt đẹp, làm chơi ăn thiệt và có quý nhân giúp đỡ. Con cái trong gia đình được hòa thuận.
6 Lượng 1 Chỉ
Số này tư chất thông minh, học hỏi rộng rãi, tự nhiên vinh diệu, tên đậu bảng vàng, dầu chẳng được quan sang chắc cũng là một nhà phú hộ.

Tể tướng không, thì đại phú ông
Kinh luân thơ phú thật tinh thông
Sớm sanh trong chốn vàng nhung lụa
Hưởng đức lâu dài đạo đức đồng.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy, không thọ quyền chức cũng được giàu sang. Trí óc mở mang học một biết mười. Số ăn trên ngồi trước. Được kẻ đưa người đón, bạn bè thương mến, con cái sau nầy có đứa làm nên sự nghiệp.

6 Lượng 2 Chỉ
Số này phước lộc vô cùng, học giỏi làm nên, vinh hiển cha mẹ, đai vàng áo gấm, phú quí vinh hoa mọi đường đầy đủ.

Một nhà nề nếp rạng thư hương
Đẳng cấp công hầu, cận cửa vương
Phúc đức lưu truyền nhờ tổ phụ
Thê vinh, tử quý rạng môn đường.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ này tuy thông minh, học giỏi nhưng lận đận, từ nhỏ đến lớn sống cuộc đời vất vả rày đây mai đó mà chưa tạo dựng được sự nghiệp gì. Từ 45 tuổi mới có cơ hội tốt lập nên sự nghiệp, nửa đời sau được vinh hiển tột bực. Số không nhờ cậy được con.

6 Lượng 3 Chỉ
Số này là số đậu khoa cao, làm quan lớn, giàu sang cực phẩm, oai danh thiên hạ, phước lộc phi thường gia đình vinh hiển.

Nhứt đẳng triều trung một bực cao
Tên đề bảng hổ dễ sai nào
Tiến lên chín bệ ngôi trời cận
Lui xuống phú gia định quốc hào.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy phần đông đều làm quan to chức lớn, tiền bạc dồi dào. Có quý nhân giúp đỡ. Về sau con cái học hành đỗ đạt. Đây là số đại cát.

6 Lượng 4 Chỉ
Số này phú quí vinh hao ít ai bì kịp, oai quyền lộc vị không kẻ sánh bằng, áo tía đai vàng ngôi cao chung đỉnh, trọn đời hạnh phúc.

Một tay nắm giữ trọn uy quyền
Nhờ đức gia môn thế thế truyền
Cây lành vun quén sanh hoa quý
Trăm năm hạnh phúc ấy tiền duyên.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy phần đông đều làm quan to chức lớn, tiền bạc dồi dào. Có quý nhân giúp đỡ. Về sau con cái học hành đỗ đạt. Đây là số đại cát.

6 Lượng 5 Chỉ
Số này suy ra thì phước lộc chẳng nhỏ, tài cao giúp nước công cả yên dân, chức trọng trào đình giàu sang tột bật, vang danh thiên hạ.

Mạng này phúc đức kém chi đâu
An quốc an dân cực phẩm cầu
Phú quí vinh hoa nhà cửa rộng
Nhứt hô bá ứng, vạn người hầu.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy phần đông đều làm quan to chức lớn, tiền bạc dồi dào. Có quý nhân giúp đỡ. Về sau con cái học hành đỗ đạt. Đây là số đại cát.

6 Lượng 6 Chỉ
Số này phú quí định sẵn tự trời, phước lộc hơn thiên hạ quan cao quyền trọng, châu báu đầy vơi, ấm phong thê tử.

Rương ngọc kho vàng có thiếu chi
Trên đời phúc đức dễ ai bì
Xét ra phú quí do trời định
Sớm muộn rồi ra cũng kịp thì.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy phần đông đều làm quan to chức lớn, tiền bạc dồi dào. Có quý nhân giúp đỡ. Về sau con cái học hành đỗ đạt. Đây là số đại cát.

6 Lượng 7 Chỉ
Số này sanh ra tự nhiên có phước lớn, điền viên gia nghiệp thật hưng long, trọn đời phú quí vinh hoa, muôn việc hanh thông hoàn hảo.

6 Lượng 8 Chỉ
Số này giàu sang tự trời ban, khỏi phải khó nhọc gia tự có muôn vàn, nhưng mười năm sau chẳng còn như hồi trước, căn cơ tổ nghiệp trôi đi như thuyền trên mặt nước sóng bão.

Mạng số trời sanh chớ gượng cầu
Của tiền tổ nghiệp có bền đâu
Mười năm đau khổ không khô lệ
Một giấc nam kha mây cuốn mau.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy phần đông đều làm quan to chức lớn, tiền bạc dồi dào. Có quý nhân giúp đỡ. Về sau con cái học hành đỗ đạt. Đây là số đại cát.

6 Lượng 9 Chỉ
Số này là một vì sao y lộc ở nhân gian, một thân phú quí mọi người đều kính nể. Tóm lại là phước lộc do tự trời định, an hưởng vinh hoa trọn đời.

Một đời hưởng trọn phước thanh nhàn
Dẫu chẳng được giàu số cũng sang
Phong nhã hào hoa sao sáng tỏ
Ca lâu tửu quán nét son vàng.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy phần đông đều làm quan to chức lớn, tiền bạc dồi dào. Có quý nhân giúp đỡ. Về sau con cái học hành đỗ đạt. Đây là số đại cát.



7 Lượng 0 Chỉ đến 7 Lượng 1 Chỉ

7 Lượng
Số này suy ra phước chẳng nhỏ, không cần phải sầu lo làm chi cho mệt nhọc, vì trời đã định sẵn y lộc phong danh, một đời vinh hiển giàu sang.

Mạng này trời đất đã an bày
Lọ phải bôn ba khổ nhọc hoài
Vinh hoa phú quí tầm tay với
Lộc thọ miên miên sẽ có ngày.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy phần đông đều làm quan to chức lớn, tiền bạc dồi dào. Có quý nhân giúp đỡ. Về sau con cái học hành đỗ đạt. Đây là số đại cát.

7 Lượng 1 Chỉ
Số này sanh ra rất khác với người thường, công hầu khanh tướng đều đặn hoàn hảo, một đời tự nhiên có phước tiêu diêu khoái lạc cực phẩm hưng long.

Người sanh số mạng khác nhau xa
Khanh tướng công hầu bởi phước nhà
Một bước tới ngôi cao vời vợi
Quyền uy sanh sát ở tay ta.

Nói chung, người có số lượng và số chỉ nầy phần đông đều làm quan to chức lớn, tiền bạc dồi dào. Có quý nhân giúp đỡ. Về sau con cái học hành đỗ đạt. Đây là số đại cát.

Friday, March 13, 2009

Phạm Cự Lượng bình Chiêm đánh Tống (944 - 984)

Phạm Cự Lượng sinh ngày 20 tháng 11 năm Giáp Dần 944 ở Khúc Giang Nam Sách, Hải Dương. Cha là Phạm Mạn, làm tham chính đô đốc Ngô Nam Tấn vương. Mẹ là Trần Thi Hồng sinh được 8 người con: 5 trai, 3 gái đều hiển đạt. Ông nội là Phạm Chiêm, giữ chức Đồng giáp tướng quân đời Ngô vương Quyền.

Tháng 10 năm Kỷ Mão 979, vua Đinh Tiên Hoàng bị kẻ bề tôi phản loạn là Đỗ Thích giết chết. Vua kế tiếp triều Đinh là Đinh Phế Đế lúc lên làm vua mới 6 tuổi. Bấy giờ, chính sự nước nhà rối ren.
Đúng lúc đó, triều đình nhà Tống bàn nhau: Sau khi Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn chết coi như vận nhà Đinh đã tàn cho nên tận dụng thời cơ này đánh chiếm lấy nước Đại Cồ Việt là thời cơ thuận lợi nhất. Rồi năm Tân Tỵ 981, nhà Tống (Trung Quốc) sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng và Lưu Trường đem quân thủy bộ sang xâm lược nước ta.

Trước lúc ra quân được phong làm đại tướng đó là sự sắp xếp của Lê Hoàn. Lê Hoàn quá biết Phạm Cự Lượng là em ruột của Phạm Hạp cùng Nguyễn Bặc và Đinh Điền dấy lên chống Lê Hoàn, đã bị Lê Hoàn vừa chặt đầu. Nhưng trước sự đe dọa xâm lăng của ngoại bang, đất nước cần có người tài ba để cầm quân, Lê Hoàn đã tiến cử Phạm Cự Lượng vì ông cho rằng: Dẫu là anh em, người nào có chí riêng của người ấy, không nên vì tội của anh mà nghi ngờ em. Cả triều đình rất khâm phục Lê Hoàn và Phạm Cự Lượng càng kính trọng ông bội phần.
Ngay khi vừa lên ngôi, Lê Hoàn đã sai Phạm Cự Lượng gấp rút chỉnh đốn lực lượng võ trang, chuẩn bị một cách có hiệu quả cho cuộc đối đầu với quân Tống.

Khi quân Tống tràn sang, Phạm Cự Lượng là người chỉ huy lực lượng thủy quân và chính thủy quân do Phạm Cự Lượng chỉ huy đã lập công xuất sắc nhất. Kế thừa kinh nghiệm của Ngô Quyền, Lê Hoàn đã cho đóng cọc gỗ vạt nhọn xuống sông rồi nhử địch vào khu mai phục sẵn để tiêu diệt. Người chỉ huy thành công mưu kế này chính là Phạm Cự Lượng. Thủy quân của Phạm Cự Lượng đã liên tục tấn công quân Tống ở khắp các cửa sông vùng ven biển đông bắc.

Các tướng giặc như Trần Khâm Tộ và Lưu Trừng không sao vượt qua được sức cản quyết liệt của thủy binh do Phạm Cự Lượng chỉ huy. Khi chủ tướng của giặc là Hầu Nhân Bảo mắc mưu Lê Hoàn, bị Lê Hoàn bắt giết, thì bọn Trần Khâm Tộ và Lưu Trừng cũng hốt hoảng chạy trốn, lúc này Phạm Cự Lượng đã dốc toàn lực ra truy đuổi, các tướng giặc như Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân đều bị bắt sống. Quân Tống vừa bị bắt, vừa bị giết rất nhiều.

Sau những chiến công hiển hách chống quân xâm lược nhà Tống, vua Lê Đại Hành đã phong cho Phạm Cự Lượng tới hàm Thái úy. Phạm Cự Lượng lại sát cánh cùng nhà vua đi hỏi tội Chiêm Thành vì trước đó vua Chiêm đã được Ngô Nhật Khánh (con rể Đinh Tiên Hoàng) dẫn đường đưa đại quân đến quấy rối.

Sinh thời ngoài việc giỏi điều binh khiển tướng, Phạm Cự Lượng được các tướng lĩnh và quan lại của triều đình cũng như trăm họ kính trọng và quý mến bởi sự thanh liêm chính trực của ông. Nhiều triều đại về sau đã phong ông là Thượng Đẳng Thần để thờ kính và hương khói.

Cha ông ta dạy rằng:
"Nhà nghèo mới biết con hiếu thảo, nước loạn mới biết kẻ tôi trung". Trong hoàn cảnh nước nhà thuở ấy, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, trung thành với tân vương để diệt xâm lăng, không đố kỵ tư thù, lại thanh liêm chính trực, Phạm Cự Lượng quả là một nhân vật lỗi lạc, một nhà quân sư lừng danh của nước Đại Cồ Việt anh hùng.


Thursday, March 12, 2009

Please giải thích dùm ...

... cần một lời giải thích:

Tại sao tên của Bao Công có liên quan đến dấu lưởi liềm trăng khuyết trên trán của ổng?

Đã có lời giải :)

Wednesday, March 11, 2009

Động Hoa Vàng ♥ Thơ Đường Luật Kim Bạch Kim ♥


ý nghĩa của "Động Hoa Vàng":
- bông màu vàng thì hầu như ở đâu cũng có.
- Động là một nơi trú ẩn xa xôi, nơi núi rừng vắng vẻ.
Trong động thường âm u, tăm tối nhưng có bông vàng thường là những loại bông cần nhiều ánh sáng và bông cũng cần nước.
Màu vàng tượng trưng cho tình yêu nồng cháy, trái tim đang sôi sục, tinh khiết như ánh nắng mặt trời, là sắc của bông và hồn của bông.
Nếu suy luận ra thì những ý nghĩa của "động hoa vàng" là một nghịch lý trong thiên nhiên, một chuyện khó có thể có được trên cỏi trần hoặc nếu có động hoa như vậy thì rất hiếm con người mới tìm thấy, là "một nơi không có ở nơi đâu", có chăng là trong trí tưởng tượng, cảm nghỉ, ước mơ của con người.
Tóm lại: "Đưa em tìm động hoa vàng" là người đàn ông đã phủi hết nợ phong trần, đưa người mình yêu về một nơi không còn đau khổ, không còn bon chen, không còn hận thù và ganh ghét, đi mãi đi mãi, đi vĩnh viễn, đi tìm một nơi trong mộng không bến không bờ...

Phạm Thiên Thư sanh năm 1940, quê Thái Bình, di cư vào Sài Gòn từ năm 1954, ra mắt tập Thơ Động Hoa Vàng năm 1971
Đưa em tìm động hoa Vàng

Bài thơ nguyên gốc Phạm Thiên Thư

Mười con nhạn trắng về tha
Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

Xe lên bụi quán hoa đường
Qua sương trắng dậm phố phường úa thu
Tiếng chim ướt sũng hai mùa
Hạt rơi thêm lạnh hững hờ mây qua

Dế buồn dỗ giấc mù sa
Âm nao lãng đãng tơ ngà sương bay
Người về sao nở trên tay
Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ

Con khuyên nó hót trên bờ
Em thay áo tím thờ ơ giang đầu
Tưởng xưa có kẻ trên lầu
Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa

Tóc dài cuối nội mây xa
Vàng con bướm nhụy lẫn tà huy bay
Dùng dằng tay lại cầm tay
Trao nhau khăn lụa nhớ ngày sầu đưa

Từ chim thủa núi xa xưa
Về đây rớt lại hạt mơ cuối rừng
Từ em khép nép hài xanh
Về qua dục nở hồn anh đóa sầu

Ừ thì mình ngại mưa mau
Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi
Sông này chảy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông

Ngày xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa

Đường về hái nụ mù sa
Đưa theo dài một nương cà tím thôi
Thôi thì em chẳng yêu tôi
Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

Sao em bước nhỏ ngập ngừng
Bên cầu sương rụng mấy từng mai mơ
Đêm về thắp nến làm thơ
Tiếng chân còn vọng nửa tờ thơ tôi

Đôi uyên ương trắng bay rồi
Tiếng nghe tha thiết bên trời chớm đông
Nửa đêm đắp mảnh chăn hồng
Lại nghe hoa lạnh ngoài đồng thiết tha

Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao
Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu

Tường thành cũ phiến bia xưa
Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay
Chiều xanh vòng ngọc trao tay
Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha

Đêm dài ươm ngát nhụy hoa
Chim kêu cửa mộ trăng tà gõ bia
Em ơi rủ tóc mây về
Nhìn trăng nỡ để lời thề gió bay

Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ
Tìm trang lệ ố hàng thơ
Chữ xưa quyên dục bây giờ chim di

Mây xưa cũng bỏ non về
Em xưa cũng giã câu thề đó đây
Nhớ đành biết mấy tầm tay
Lông chim biển bắc hoa gầy bãi đông

Đợi ai trăng rõi hoa buồn
Vắng em từ thủa theo buồm gió xuôi
Chiều chiều mở cổng mây trôi
Chênh vênh núi biếc mắt ngời sao hôm

Thế thôi phố bụi xe hồng
Hồ ngăn ngắt đục đôi dòng nhạn bay
Đưa nhau đấu rượu hoa này
Mai đi dã hạc thành ngoài cuồng ngâm

Xuống non nhớ suối hoa rừng
Vào non nhớ kẻ lưng chừng phố mây
Về thành nhớ cánh chim bay
Xa thành thương vóc em gầy rạc hoa

Hạc xưa về khép cánh tà
Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần
Em về hong tóc mùa xuân
Trăng trầm hương tỏa dưới chân một vành

Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân

Thì thôi tóc ấy phù vân
Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương
Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

Gầy em vóc cỏ mây dời
Tay em mai nở chân trời tuyết pha
Ngày dài ngựa soải cầm ca
Trán cao ngần nửa trăng tà ngậm sương

Xe lăn bánh nhỏ bụi hường
Lao xao vó rụng trên đường phố mây
Mưa giăng ráng đỏ hao gầy
Đôi con ngựa bạch ném dài tuyết sa

Chim nào hát giữa thôn hoa
Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay
Lụa nào phơi nắng sông tây
Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông

Con chim mùa nọ chưa chồng
Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu
Từ em giặt áo đông tơ
Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm

Thuyền ai buông lái đêm rằm
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào
Cửa sương nhẹ mở âm vào
Lay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca

Lên non cuốc sỏi trồng hoa
Xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương
Vớt con cá nhỏ lòng đòng
Mải vui lại thả xuống dòng suối tơ

Vào non soi nguyệt tầm rùa
Đọc trên mai nhỏ xanh tờ lạc thư
Thả rùa lại đứng ưu tư
Muốn qua hang động sống như nguyệt rùa

Em nghiêng nón hạ cầu mưa
Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về
Hoa sầu cỏ cũng sầu chia
Lơ thơ xanh tụ đầm đìa vàng pha

Đất nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông
Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân

Người vui ngựa chợ xe thành
Ta leo cầu trúc bên ghềnh thác rơi
Theo chân chim gặp mây trời
Lại qua khói động hỏi người tu non

Bông hoa trắng rụng bên đường
Cánh thơm thông điệp vô thường tuyết băng
Con ong nhỏ mới ra giàng
Cũng nghiêng đôi cánh nhụy vàng rụng rơi

Mùa xuân bỏ vào suối chơi
Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa
Múc bình nước mát về qua
Ghé thôn mai nọ hỏi trà mạn xưa

Chim từ bỏ động hoa thưa
Người từ tóc biếc đôi bờ hạ đông
Lên non kiếm hạt tơ hồng
Đập ra chợt thấy đôi dòng hạc bay

Người về đỉnh núi sương tây
Ta riêng nằm lại đợi ngày mướp hoa
Bến nam có phố giang hà
Nghiêng nghiêng nậm ngọc dốc tà huy say

Tình cờ anh gặp nàng đây
Chênh chênh gót nguyệt vóc gầy liễu dương
Qua sông có kẻ chợt buồn
Ngó hoa vàng rụng bên đường chớm thu

Mốt mai em nhớ bao giờ
Bãi dâu vãn mộ cho dù sắc không
Chân chim nào đậu bên cồn
Ngựa xuôi có kẻ lại buồn dấu chim

Đợi người cuộc mộng thâu đêm
Sông Ngân trở lệ dài thêm dòng nhòa
Anh nằm gối cỏ chờ hoa
Áo em bạch hạc la đà thái hư

Em từ rửa mặt chân như
Nghiêng soi hạt nước mời hư không về
Thâu hương hiện kính bồ đề
Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi

Ta về rũ áo mây trôi
Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say

Ngựa xưa qua ải sương này
Còn nghe nhạn lạc kêu hoài bãi sông
Nước xuôi gờn gợn mây hồng
Tiếng ca lạnh thấu hoàng hôn giục đò

Hoa đào tưởng bóng đào xưa
Thuyền sang bến nọ dòng mờ khói vơi
Hoa dương vàng nhạt sầu người
Ta về uống nước sông khuây khỏa lòng

Đưa nhau đổ chén rượu hồng
Mai sau em có theo chồng đất xa
Qua đò gõ nhịp chèo ca
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

Khăn trăng từ độ trao tay
Nửa tan cát suối nửa mài nghiên sương
Mốt mai lòng có nghe buồn
Mảnh trăng hiện hóa thiên đường cõi chơi

Nhện cheo leo mắc tơ trời
Dòng chim qua hỏi mộ người tà dương
Đánh rơi hạt mận bên đường
Xuân sau mọc giữa chân thường cội hoa

Nụ vàng hương rộ tháng ba
Nửa đêm dậy ngó trăng tà tiêu tương
Chẳng như cội liễu bờ dương
Tóc xanh mướt giữa vô thường sắc không

Mai nào thơm ngát thu đông
Lược em chải rụng đôi dòng tơ xanh
Đôi chim hồng yến trên cành
Ngẩn ngơ quên rỉa lông mình điểm trang

Mùa xuân mặc lá trên ngàn
Mùa thu mặc chú bướm vàng tương tư
Động nam hoa có thiền sư
Đổi kinh lấy rượu tâm hư uống tràn

Nến khuya lửa hắt hiu vàng
Trang kinh lác đác đôi hàng nhạn sa
Ý nào hóa hiện ngàn hoa
Chữ nào cẩn nguyệt trên tà áo ni

Dỗ non suối giọng thầm thì
Độ tam thế mộng xá gì vóc hoa
Ni cô hiện giữa ta bà
Búp tay hồng ngọc nâng tà áo trăng

Tiếng chim trong cõi vô cùng
Nở ra bát ngát trên rừng quế hương
Tiếng em hát giữa giáo đường
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng

Đố ai nhớ hết hoa vàng
Đố ai uống cạn sương tàn trăng thâu
Đố ai tát cạn mạch sầu
Thì ta để tóc lên cầu đón ai

Em về sương đẫm hai vai
Dấu chân là cánh lan dài nở đêm
Từ em hé nụ cười huyền
Mùa thu đi mất trên miền cỏ hoa

Guốc mòn lẫn tiếng sơn ca
Sư về chống gậy trúc qua cầu này
Ngó bờ suối lạnh hoa bay
Thương sao giòng nước trôi hoài thiên thanh

Có con cá mại cờ xanh
Bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân
Nửa dòng cá gặp phù vân
Hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi

Dù mai lều cỏ chân trời
Khơi hương lò cũ khóc người trong thơ
Em còn ửng má đào tơ
Tóc xưa dù có bây giờ sương bay

Lên non ngắt đóa hoa này
Soi nghiêng đáy suối bóng ai nhạt nhòa
Nom hoài chẳng rõ là ta
Tắm xong khoác áo hát ca về làng

Tay đeo vòng ngọc xênh xang
Áo em bay giải tơ vàng thiết tha
Bước chân tìm chán ta bà
Ngừng đây nó hỏi: đâu là vô minh

Hỏi con vạc đậu bờ kinh
Cớ sao lận đận cái hình không hư
Vạc rằng: thưa bác thiên thư
Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ

Nước đi từ thủa bao giờ
Dòng xuôi người đứng trên bờ ngó xuôi
Chừng đâu dưới bến hoa tươi
Buộc thuyền xưa đã có người ngó sông

Từ hôm em bỏ theo chồng
Áo trắng em cất áo hồng em mang
Chiều nay giở lại bàng hoàng
Mười năm áo cũ hoe vàng lệ xanh

Đôi chim nho nhỏ trên cành
Giục nhau đan tổ cỏ xanh bên đường
Nửa đời mây nước du phương
Thiền sư ngắt cỏ cúng dường phật thân

Gò chiều ùn bụi sương lên
Hỏi ra mới biết nơi yên cành vàng
Bên mồ chồn cáo đùn hang
Chim kêu như lảnh tiếng nàng ngân nga

Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa

Trúc thưa cổng gió ơ hờ
Em ra tựa cửa nghĩ chưa lấy chồng
Sông ơi xanh nhé một dòng
Mùa xuân cắp rổ ra đồng vớt hoa

Đường dài xao xác chim ca
Người còn khoác nón theo tà dương nao
Ván cờ bày trắng bông đào
Sao lên núi thẫm trăng vào chén không

Đồi thu vắt suối mây hồng
Chim xanh lác đác ngược dòng hoa tiên
Bấc sầu lửa lụn chờ em
Lệ xưa ai đã đổ nên dầu này

Đón em như ngóng chim trời
Bãi xuân sớm đậu chiều dời khói thu
Em còn áo trắng ngày xưa
Trong anh muôn thủa bao giờ lệ hoen

Khơi trầm thơm tụng kinh hiền
Máu xuân mạch lạnh trong miền xương da
Vườn chùa có nụ hàm ca
Sương khuya pháp bảo trăng tà vô môn

Mai tươi cánh nở bên cồn
Mưa bay lấm tấm cành hương trắng ngời
Thu đông tàng ẩn kho trời
Hạt rơi rụng ngọc cánh rời rã hoa

Cổng làng mở cánh sao sa
Nhã lan loáng thoáng tiếng gà xóm mai
Lên chùa dâng dĩa hoa nhài
Chợt viền trăng lạnh trên hài tổ sư

Chuông ngân chiều lặng trầm tư
Tiếng lơi đẫm hạt thiên thư bềnh bồng
Điệu về tay giấu chùm bông
Gót chân đất phật trổ hồng hằng sa

Bóng trăng tịch mặc hiên nhà
Thành đàn nẩy hạt tỳ bà quyện hương
Gió thu từ độ tha phương
Về trên hốc gỗ bên đường lặng im

Áo em vạt tím ngàn sim
Nửa nao nức gọi nửa im lặng chờ
Yêu nhau từ độ bao giờ
Gặp đây giả bộ hững hờ khói bay

Tình cờ như núi gặp mây
Như sương đậu cánh hoa gầy tiêu dao
Tỉnh ra thì giấc chim bao
Chuyện mười năm cũ lại nao nao lòng

Cành sen lá chĩu sương trong
Áo ni xám vạt trời hong buồn về
Tay nào nghiêng nón thơ che
Tay nào lần chuỗi bồ đề xanh xao

Đôi mày là phượng cất cao
Đôi môi chín ửng khoé đào rừng mơ
Tiếng nàng vỡ bạc thành thơ
Tụng dòng kinh tuệ trên tờ khói mây

Tóc em rừng ngát hương say
Tay em dài nụ hoa lay dáng ngà
Mắt xanh bản nguyện di đà
Bước trầm hương nhẹ lẫn tà dương chim

Mắt nàng ru chiếc nôi êm
Ru hồn tôi ngủ ngàn đêm tuyệt vời
Em là hoa hiện dáng người
Tôi là cánh bướm cung trời về say

Một đêm nằm ngủ trong mây
Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời
Cây bưởi trắng ngát hương đời
Nụ là tay phật chỉ người qua sông

Non xanh khoác áo sương hồng
Con chim điểm tuyết ngoài đồng vụt bay
Tiếng kêu lạnh buốt lòng tay
Ngón buông lại chợt tuôn đầy lòng hoa

Em bên cửa chuốt tay ngà
Cội lan đông mặc nở qua mấy nhành
Ngày em ướp áo hồ xanh
Con uyên tha thiết trên cành gọi thu

Ni về khép cửa chùa tu
Sớm mai mở cổng quét thu vườn hồng
Thu vương ngọn chổi đôi bông
Thoảng dâng hương lạ bướm vòng cánh duyên

Sư lên chót đỉnh rừng thiền
Trong tim chợt thắp một viền tà dương
Ngón tay nở nụ đào hương
Cầm nghiêng tịnh độ một phương diệu vời

Một dòng hoa nổi trên trời
Một dòng hoa nở trong người trầm tư
Cánh nào mở cõi không hư
Phiến băng tuyết khảm một tờ kim cang

Thư em ướp nụ lan vàng
Lời em gió núi chiên đàn thoảng xa
Áo em phất cõi di đà
Ngón chân em nở cánh hoa đại từ

Chênh vênh đầu trượng thiền sư
Cửa non khép ải sương mù bóng ai
Non xanh ướm hỏi trang đài
Trăm năm còn lại dấu hài động hoa

Ngày xưa bên dậu vàng hoa
Chiều chiều kê chõng nằm ra ngó trời
Năm sau em bỏ đi rồi
Ta về ngồi lắng mưa rơi giậu buồn

Trên nền gạch nẻ rêu phong
Xưa phơi nhã điệu giờ hong đóa quì
Trẻ đào bãi cỏ xanh rì
Được thanh kiếm quỉ bao kỳ thu han

Non đem nhạn nhốt trong thành
Cho sông chưa trở yếm xanh dưới cầu
Người còn dệt lụa tằm dâu
Đêm nghe mưa rụng thiên thâu ngoài giàn

Núi nghiêng suối vắt tơ đàn
Nhìn ngoài thạch động mưa vàng lưa thưa
Nghiêng bình trà nhớ hương xưa
Từ vàng hoa nọ bây giờ vàng hoa

Sáng nghe lan rụng mái nhà
Chừng như mưa nhẹ núi xa mùa này
Đường về mù mịt ngàn mây
Về nam đôi cánh chim bay xạc xào

Mây dù chẳng chất non cao
Đường về dù chẳng sông đào nông sâu
Đêm đêm lòng dục nẻo sầu
Thềm trăng ngỡ tưởng hoa cau rụng thầm

Nhớ cha giọt lệ khôn cầm
Dưới trăng lấp lánh như trâm vân quỳnh
Nghiêng ly mình cạn bóng mình
Tay ôm vò nguyệt một bình mây bay

Gối tay nệm cỏ nằm say
Gõ vào đá tụng một vài biển kinh
Mai sau trời đất thái bình
Về lưng núi phượng một mình cuồng ca

Gây giàn thiên lý vàng hoa
Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây
Xuống đầm tát cá xâu cây
Bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim

Khách xa nhớ đến nhau tìm
Lên đồi trẩy một giỏ sim làm quà
Hứng nước suối thết bình trà
Hái bầu nấu bát canh hoa cười khàn

Vào hang núi nhập niết bàn
Tinh anh nở đóa hoa vàng cửa khe
Mai sau thí chủ nào nghe
Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh

Hoa vàng ta để chờ anh
Hiện thân ta hát trên cành tâm mai
Trần gian chào cõi mộng này
Sông Ngân tìm một bến ngoài hóa duyên



Bài xướng:
Thơ Đường Luật Kim Bạch Kim:

ĐƯA NÀNG TÌM ĐỘNG HOA VÀNG

 

Khi xưa Triệu Mã vốn là quan
Ấn chức treo lơi ngựa lướt ngàn

Xuống biển băng sông trôi cửa ải

Lên non vượt núi bước quan san

Mây mưa gió bão thiên ly thủy

Cát bụi phong sương vạn dặm đàng

Biệt dạng cùng nàng Trương mỹ nữ

Tìm ta hãy đến động hoa vàng

 
©

Bài họa 1:
Thơ Đường Luật Hoàng Thứ Lang:
ĐƯA NÀNG TÌM ĐỘNG HOA VÀNG

Triệu Mã ngày xưa rũ áo quan
Ngao du cảnh gió núi mây ngàn
Vui đời tự tại nơi khê thủy
Đẹp ý an nhiên chốn hải san
Tiên giới cùng giai nhân một cõi
Trần gian với thế tục đôi đàng
Không ham trói buộc vòng danh lợi
Khó sánh hoa thơm với bướm vàng

Hoàng Thứ Lang

©

Bài họa 2:

Thơ Đường Luật Hoàng Thứ Lang:
SẦU CHINH PHỤ

Chinh phụ bồng con ngóng ải quan
Thương chồng đi thú tận non ngàn
Ơn vua chẳng ngại trời biên trấn
Nợ nước đâu màng chốn viễn san
Thê tử tình riêng đành gạt lệ
Quân thần đạo trọng phải lên đàng
Đêm đêm gối chiếc sầu cô lẻ
Đành hẹn chờ nhau giấc mộng vàng

Hoàng Thứ Lang

©

Đọc thêm thơ sưu tầm
Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu
Nghe thêm nhạc lời Việt

Đọc thêm thơ của Kim Bạch Kim
Mận với Đào
Chờ Nhau Bên Kia Cầu Ô Thước 
Ngẫm Tình Đời
Trong Mắt Anh Tôi Thấy Địa Đàng
Chúc Tết Nhâm Thìn
Chúc Xuân 
Năm Nhâm Thìn
Xuân Nhâm Thìn
Tuyết Đầu Xuân
Thu Trên Giàn Mướp Đắng 
Bông Hồng Không Gai 
Mưa Tím
Giấc Điệp và Năm Canh
One Way Ticket to the Galaxy
Hững Hờ Xuân
Cỏi Tương Tư
Hè Việt Nam
Dạo Chơi Ngắm Cảnh
Thung Lũng Tím
Trầm Tư Mặc Tưởng
Dòng Sông Đẹp với nhiều Giai Nhân
Tết Đến Xuân Tân Mẹo
Tưởng!
Xuân Canh Dần
Xuân Viễn Xứ
Sầu Đông
Nguyệt Đùa
Cảnh Đêm Thu
Chơi Cờ Uống Rượu
Tết Trung Thu
Âm Dương Cách Biệt
Đoạn Trường Tương Tư
Trăng Soi Phận Kiều
Trăng Dưới Nước
Vào Thu
Giọt Đắng Đêm Thu
Thiên Thu
Trọn Một Kiếp
Nguyệt Rụng Mưa Rơi
Giọt Đắng
Mưa Ngâu
Hè Cố Quốc
Tuyệt Bút
Bãi Trường Thập Nhị Liên Hoàn Khúc
Thiên Tình Sử
Kiếp Si Tình
Mối Tơ Lòng
Rượu và Tình
Ác Mộng
Mưa Trên Đảo Vắng
Dòng Thời Gian
Dạo Xuân
Tương Lai Vạn Ngày Sầu
Chán Đời
Cảnh Cố Hương
Gương Mờ Soi Bóng
Trăng Sáng Sương Rơi
Lệ Sương Thu
Đánh Đu
Bướm Vờn Hoa
Sắc Thắm Xuân Tươi
Mộng Cảnh
Kiếp sau xin chớ làm người
Mê Linh Nữ Tướng
DẤU CHÂN TRÊN TUYẾT
Quỳnh Hoa
Chòm Sao Soi Bóng
Mừng Tết Kỹ Sửu
Mừng Năm Mới
Vương Phi Mộng
TIẾNG KHÓC GIỮA ĐỒI THÔNG
Chánh Tà Tri Kỷ
Đào Nguyên Lỗi Hẹn
Chữ Tòng!
Thiên Kiều Tướng Quân

Saturday, March 7, 2009

Xuân Mộng ♥ Thơ Đường Luật Kim Bạch Kim ♥


Bài xướng
Thơ Đường Luật Kim Bạch Kim:

Mộng Cảnh

Một buổi dạo vườn Đào
Vầng dương đã chiếu cao
Trên mây bay phảng phất
Dưới suối chảy rì rào
Mỹ nữ hồn lưu luyến
Anh hùng trí xuyến xao
Nơi yên bình tuyệt thế
Gió thoảng mộng lao chao


©

Bài hoạ 1:
Thơ Đường Luật Hoàng Thứ Lang:
Mộng Cảnh

Ngày xưa tóc trái Đào
Mộng ước thật là cao
Dạ nhớ thương tha thiết
Lòng vương vấn rạt rào
Mây trời trôi bảng lảng
Sóng nước bủa lao xao
Gió mát trăng huyền ảo
Đàn chim én liệng chao

Hoàng Thứ Lang

©

Bài họa 2:

Thơ Đường Luật Hoàng Thứ Lang:
Cánh Hoa Đào

Phận mỏng cánh hoa Đào
Nào mơ giấc mộng cao
Mong chờ cơn nắng ấm
Ngóng đợi trận mưa rào
Nhạn lạc đàn ngơ ngác
Chim xa tổ xuyến xao
Tìm đâu người mộng tưởng
Nương tựa khỏi lao chao

Hoàng Thứ Lang

©
 
Đọc thêm thơ của Kim Bạch Kim
Mận với Đào
Chờ Nhau Bên Kia Cầu Ô Thước
Ngẫm Tình Đời
Trong Mắt Anh Tôi Thấy Địa Đàng
Chúc Tết Nhâm Thìn
Chúc Xuân 
 Năm Nhâm Thìn
Xuân Nhâm Thìn
Tuyết Đầu Xuân
Thu Trên Giàn Mướp Đắng 
Bông Hồng Không Gai 
Mưa Tím
Giấc Điệp và Năm Canh
One Way Ticket to the Galaxy
Hững Hờ Xuân
Cỏi Tương Tư
Hè Việt Nam
Dạo Chơi Ngắm Cảnh
Thung Lũng Tím
Trầm Tư Mặc Tưởng
Dòng Sông Đẹp với nhiều Giai Nhân
Tết Đến Xuân Tân Mẹo
Tưởng!
Xuân Canh Dần
Xuân Viễn Xứ
Sầu Đông
Nguyệt Đùa
Cảnh Đêm Thu
Chơi Cờ Uống Rượu
Tết Trung Thu
Âm Dương Cách Biệt
Đoạn Trường Tương Tư
Trăng Soi Phận Kiều
Trăng Dưới Nước
Vào Thu
Giọt Đắng Đêm Thu
Thiên Thu
Trọn Một Kiếp
Nguyệt Rụng Mưa Rơi
Giọt Đắng
Mưa Ngâu
Hè Cố Quốc
Tuyệt Bút
Bãi Trường Thập Nhị Liên Hoàn Khúc
Thiên Tình Sử
Kiếp Si Tình
Mối Tơ Lòng
Rượu và Tình
Ác Mộng
Mưa Trên Đảo Vắng
Dòng Thời Gian
Dạo Xuân
Tương Lai Vạn Ngày Sầu
Chán Đời
Cảnh Cố Hương
Gương Mờ Soi Bóng
Trăng Sáng Sương Rơi
Lệ Sương Thu
Đánh Đu
Bướm Vờn Hoa
Sắc Thắm Xuân Tươi
ĐƯA NÀNG TÌM ĐỘNG HOA VÀNG
Kiếp sau xin chớ làm người
Mê Linh Nữ Tướng
DẤU CHÂN TRÊN TUYẾT
Quỳnh Hoa
Chòm Sao Soi Bóng
Mừng Tết Kỹ Sửu
Mừng Năm Mới
Vương Phi Mộng
TIẾNG KHÓC GIỮA ĐỒI THÔNG
Chánh Tà Tri Kỷ
Đào Nguyên Lỗi Hẹn
Chữ Tòng!
Thiên Kiều Tướng Quân

Friday, March 6, 2009

Kim Bạch Kim: Vì sao phụ nữ Việt Nam đáng được khâm phục?

Hiện nay, vào chế độ Dân Chủ ở một số lớn Quốc Gia trên toàn cầu, có mấy ai là người phụ nữ đứng đầu, cầm quyền một nước?

Vậy mà ở hàng ngàn năm trước, vào thời đại phong kiến của các nước Á Châu, đã có nhiều vị phụ nữ Việt Nam dẫn đầu một nước, làm cho quân Tàu kinh hồn khiếp vía khi chúng lại một lần xâm lăng đất Việt!
Các Bà đã đễ lại trong lòng dân Việt yêu nước, yêu tự do ngàn đời sau, lòng biết ơn và kính phục khi nhắc đến tên... Bà Trưng và Bà Triệu cùng các vị Nữ Tướng của Việt Nam.

Ai đó có nói với tôi: "... nhưng các bà này cuối cùng cũng thua mà ...!"
Đúng, điều đó không sai! Nhưng bọn giặc Tàu cuối cùng và vỉnh viễn không chiếm được nước ta, vì sao?
Chắc chắn 1000 phần 1000, không phải vì chúng không thèm muốn, mà vì noi gương dũng cảm không khiếp sợ trước bạo quyền và trí tuệ cao tột bực của các Bà đã chiến thắng thành công, đã giúp cho dân ta luôn luôn có tinh thần kiên cường, quật khởi đánh đuổi giặc Tàu, khi một lần và một lần nữa chúng tràn vào xâm chiếm nước ta.
Các bà như những vị Thần Linh cùng Thiên Quân vạn mã trời ban cho dân Việt đễ chấn ngự quỉ dữ phương Bắc.

Ai đã từng tìm hiểu về lịch sử Á Châu, không cần kể chắc đều biết Võ Tắc Thiên cũng là một Nữ Hoàng duy nhứt của Tàu, vào thời bấy giờ cũng là một nước phong kiến.
Xin thưa, lịch sử đó rất đúng, nhưng ta hãy phân tích sâu vào và so sánh xem ...

Trưng Nữ Vương làm vua năm Canh Tý 40.
Bà Triệu, Triệu Thị Trinh sanh ngày 2.10 Âm lịch năm Bính Ngọ 226 và mất ngày 21.2 Âm lịch năm 248, lúc chưa tròn 22 tuổi.

Còn Võ Tắc Thiên?
Võ Tắc Thiên, người lập ra triều đại Võ Chu, lưu ý là Tàu ngày xưa chia năm xẻ bảy chứ không phải như bây giờ đã chiếm luôn Mông Cổ và Tây Tạng. VTT sanh năm 625 mất năm 705. Bà này lên ngôi sau khi trải qua hai lần nhảy lên Long Sàn làm Tài Nhân, là một trong 9 người thiếp cấp thứ 5 của vua cha Thái Tông và sau lấy luôn vua con Cao Tông. Tham vọng vô ngần, tay dính đầy máu của quyến thuộc, hoàng gia. Trước là giết Vương Hoàng Hậu để đoạt chức đó, tàn ác giết cả con của mình, đến nổi con ruột Trung Tông sau cùng cũng từ luôn bà già 80 này, bắt bà phải thoái vị nhường ngôi.
Võ Tắc Thiên nổi tiếng dâm đãng vô biên, chính sử Tàu viết như vậy!
Ngày nay, bịnh dâm ô này được biết dưới tên hypersexuality. Võ Tắc Thiên càng già càng dâm sau còn bị thêm chứng sodomia hay còn gọi là zoophile.
(Xem thêm "Bài thuốc Thốc Kê Hoàn của Võ Tắc Thiên)

Bà Trưng, Bà Triệu thì sao?
Hai Bà vì chồng, vì nước tay trắng làm nên sự nghiệp, để lại tiếng thơm ngàn đời trong lòng dân Việt, cho nước Việt!
Bà Triệu với chỉ một câu, đã nói lên được tất cả vì sao Bà cầm quân chống giặc! Không phải vì các Bà tham vọng làm bá chủ, mà chỉ vì ...

"Ta thà cưởi gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân giặc giành lại Giang San, cởi ách nô lệ, chứ quyết không chịu khom lưng làm tỳ thiếp."

Vậy ai? Ai là những người phụ nữ xứng đáng để cho ta khâm phục hả các bạn?

(đọc thêm: nữ chính trị gia đầu tiên của Trung Quốc Phùng Thục Nghi "Bắc Ngụy Phùng Thái Hậu)

Xem thêm
Mê Linh Nữ Tướng
Anh Thư Họ Triệu
Phạm Cự Lượng bình Chiêm đánh Tống

Xem thêm chuyện rất ngắn:
Dịch Cân Tẩy Tủy Kinh cho đến Hết Cuộc Đời Tác giả Kim Bạch Kim
Đồ không thể bỏ Tác giả Bạch Kim
Đầu Tổ Chim và những Chuyện Linh Tinh Tác giả Kim Bạch Kim 
Làm sao để nói tiếng Việt lưu loát Tác giả Kim Bạch Kim
Nuốt Trọng Tác giả Kim Bạch Kim
Một Ngày Không nói Tác giả Kim Bạch Kim
CHỊ HÙNG QUÈ Tác giả Kim Bạch Kim
THỜI THIẾU NHI của CÔ LONG
Sưu Tầm những câu chuyện về Thế Giới Bên Kia
Nước Mắt Người Điên Tác giả Kim Bạch Kim
Nước Mắt Người Điên Tác giả Kim Bạch Kim
KHI TÔI CÒN TRẺ VÀ THON Tác giả Kim Bạch Kim
BORN TO BE A BUSINESSWOMAN Tác giả Kim Bạch Kim
CHUỘT ĐI TỊ NẠN - RUỒI BỊ NGẤT XỈU Tác giả Kim Bạch Kim
DỰ TIỆC NHÀ GIÀU Tác giả Kim Bạch Kim
NÀNG ẾCH Đi Dạo Tác giả Kim Bạch Kim
RỪNG CÂY BIẾT ĐI Tác giả Kim Bạch Kim
ĐÀN ÔNG THUA CON CHÓ Tác giả Kim Bạch Kim
300% MAY MẮN CHO CHẮC ĂN Tác giả Kim Bạch Kim
BẠN HEO Tác giả Kim Bạch Kim
TRÚNG SỐ ĐỘC ĐẮC-KHUI LUÔN JACKPOT Tác giả Kim Bạch Kim
NỤ HÔN ĐẦU KHÓ QUÊN Tác giả Kim Bạch Kim
NGƯỜI ĐẦU TIÊN Tác giả Kim Bạch Kim
CHUYỆN GIANG HỒ Tác giả Kim Bạch Kim

Wednesday, March 4, 2009

Chuyện Giang Hồ của Kim Bạch Kim

Huynh có còn nhớ, mùa Thu năm ấy Huynh và Mụi đi giang hồ?

Lần đó bọn "Tà Đạo" đã ép ta uống bia cho tới say bất tỉnh, sau đó chúng bắt cóc hai người.
Khi tỉnh dậy thì mình đã bị cột dưới một gốc cây to, xung quanh là đồng hoang vắng, xa xa có một con suối nhỏ.

Bọn tà đạo 5 tên đang quây quần bên cụm lửa, chúng đốt đễ sưởi ấm và nấu trà. Mụi đã khẽ dặn Huynh:
"Cho dù có bị tra khảo, Huynh cũng đừng khai sư phụ ở đâu nha!"
Sư huynh gật đầu đồng ý.

Khi thấy chúng ta đã tỉnh, một đứa trong bọn kia tiến tới và dụ:
"Một trong hai, đứa nào khai sư phụ của tụi bây đang ở đâu, đứa đó sẽ được thả ra ngay!"
Mụi có cảm giác sư huynh định khai ...

Chợt ngay lúc đó, ở phía bờ suối, sư phụ HỒNG THẤT CÔNG * xuất hiện và đi về phía của chúng ta ...
- Hết chuyện -


Đó là giấc mơ, sau mấy ngày cuối tuần ráng coi cho hết bộ chưởng, nhưng đến 2 giờ sáng ngày thứ 3 thì hai con mắt tự động xụp xuống nên đành phải lăn ra khò.
Trong mơ thấy làm đệ tử của Cửu chỉ Hồng Thất Công, nhưng Nó là Nó chứ không phải Hoàng Dung đâu à nhen.
Và Sư Huynh của nó là ai? Tên họ là gì?
... Cũng không biết nữa, vì đó là một thanh niên xa lạ không quen biết.

Có thể đó là Dương Khang!? Vì có lần lại nhà bà con chơi, cũng coi chưởng. Tối ngủ bà con nghe nó mớ kêu rỏ ràng tên của "Dương Khang"!
Nhưng Dương Khang đâu thể nào là sư huynh của Nó, tức là đệ tử Hồng Thất Công!?
Choài oai, chắc coi chưởng nhiều quá bị tẩu hỏa nhập ma chứ gì? hihi

Cũng có thể... như một quân sư quen, đoán mộng "mò" đã mổ xẻ phân tích giấc mơ đó là...
"Chắc chị có tinh thần ăn uống nên trong mơ cũng theo Hồng Thất Công đễ ăn! Và Dương Khang
... Tại sao mà lại kiu tên cái tên đó hả??? Chắc là vì "hắn" có tánh vương lên, nhưng vì bất chấp thủ đoạn nên cuối cùng thất bại"

Người thất bại luôn đáng được tội nghiệp và cần tình thương hơn là chạy theo những anh hùng cuối cùng họ được tất cả, phải vậy hong các bạn?
Anh hùng thường được sống, ít nhứt cho tới cuối bộ chưởng dù mấy lần bị trúng độc hay bị đâm chém ở tim gan phèo phổi hoặc hộc máu ào ào mấy lít vẫn sống nhăn răng; hay được danh "Đại Hiệp" chẳng hạn và nhứt là được bao nhiêu người đẹp quay quanh, đánh nhau túi bụi vì "Hắn"...


* Hồng Thất Công 洪七公 còn được gọi là Bắc Cái, một nhân vật trong tiểu thuyết Anh Hùng Xạ Điêu và cũng xuất hiện trong tiểu thuyết tiếp theo Thần Điêu Hiệp Lữ của Kim Dung. Hồng Thất Công là Bang chủ đời thứ 18 của Cái Bang, là một người thích rượu và món ăn ngon. Bởi vì ham ăn mà làm lỡ việc khiến huynh đệ bị chết thảm, ông tức giận tự chặt ngón tay trỏ bên phải của mình để tự trừng phạt... chính vì vậy giới giang hồ còn gọi ông là Cửu Chỉ Thần Cái. Hoàng Dung đã lợi dụng tính ham ăn này của HTC để dụ ông dạy võ công cho cô (Tiêu Dao Du) và Quách Tĩnh (Giáng Long Thập Bát Chưởng). Võ công của Hồng Thất Công rất cao siêu, nổi tiếng là Giáng Long Thập Bát Chưởng và Đả Cẩu Bổng Pháp. Tại Hoa Sơn Luận Kiếm lần thứ I, ông là một trong Thiên Hạ Ngũ Tuyệt, xưng tụng là Bắc Cái. Sau HTC bị Tây Độc Âu Dương Phong đả thương, cùng Hoàng Dung trôi dạt vào Áp Quỷ Đảo, tưởng mình không qua khỏi tai kiếp, ông tiếp tục dạy cho Hoàng Dung Đả Cẩu Bổng Pháp và truyền chức bang chủ Cái Bang cho Hoàng Dung. May sao ông được Quách Tĩnh nói cho khẩu quyết Cửu Âm Chân Kinh, tự tu luyện hồi phục công lực. Cuối chuyện trên đỉnh Hoa Sơn, HTC xuất hiện, vạch rõ những sai trái của Cừu Thiên Nhận, khiến y thành tâm hối cải, quy y cửa Phật. Trong Thần Điêu Hiệp Lữ, HTC chỉ xuất hiện 1 lần trên đỉnh Hoa Sơn. Bấy giờ ông rất già, HTC gặp gỡ Dương Quá và Âu Dương Phong. Bắc Cái HTC và Tây Độc ÂDP tỉ thí vỏ nghệ. Sau nhiều ngày quyết đấu, hai người xóa bỏ mọi hiềm khích, cùng ôm nhau cười và chết.
Xem thêm chuyện rất ngắn:
Dịch Cân Tẩy Tủy Kinh cho đến Hết Cuộc Đời Tác giả Kim Bạch Kim
Đồ không thể bỏ Tác giả Bạch Kim
Đầu Tổ Chim và những Chuyện Linh Tinh Tác giả Kim Bạch Kim
Tại sao Ăn lại phải Nhai? Tác giả Bạch Kim
Đánh Ghen là Biểu Hiện sự Kém Thông Minh Tác giả Kim Bạch Kim
Làm sao để nói tiếng Việt lưu loát Tác giả Kim Bạch Kim
Nuốt Trọng Tác giả Kim Bạch Kim
Một Ngày Không nói Tác giả Kim Bạch Kim 
CHỊ HÙNG QUÈ Tác giả Kim Bạch Kim
THỜI THIẾU NHI của CÔ LONG
Sưu Tầm những câu chuyện về Thế Giới Bên Kia
Nước Mắt Người Điên Tác giả Kim Bạch Kim
KHI TÔI CÒN TRẺ VÀ THON Tác giả Kim Bạch Kim
BORN TO BE A BUSINESSWOMAN Tác giả Kim Bạch Kim
CHUỘT ĐI TỊ NẠN - RUỒI BỊ NGẤT XỈU Tác giả Kim Bạch Kim
DỰ TIỆC NHÀ GIÀU Tác giả Kim Bạch Kim
NÀNG ẾCH Đi Dạo Tác giả Kim Bạch Kim
RỪNG CÂY BIẾT ĐI Tác giả Kim Bạch Kim
ĐÀN ÔNG THUA CON CHÓ Tác giả Kim Bạch Kim
300% MAY MẮN CHO CHẮC ĂN Tác giả Kim Bạch Kim
BẠN HEO Tác giả Kim Bạch Kim
TRÚNG SỐ ĐỘC ĐẮC-KHUI LUÔN JACKPOT Tác giả Kim Bạch Kim
NỤ HÔN ĐẦU KHÓ QUÊN Tác giả Kim Bạch Kim
NGƯỜI ĐẦU TIÊN Tác giả Kim Bạch Kim
VÌ SAO PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐÁNG ĐƯỢC KHÂM PHỤC Tác giả Kim Bạch Kim

Sunday, March 1, 2009

♪ Trở Về Cát Bụi ♪ ♥ Thơ Cổ Phong Kim Bạch Kim ♥


Trở Về Cát Bụi do nhạc sĩ Minh Kỳ sáng tác. Minh Kỳ tên thật Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ, sanh năm 1930 tại Nha Trang Khánh Hòa. Mất ngày 31.8.1975 trong trại tập trung (✟ concentration camps of VietNam).
Minh Kỳ sáng tác hơn 30 bảng nhạc, trong đó có một số bài ca bất hủ như: Đà Lạt hoàng hôn; Ngày sau sẽ ra sao; Thương về xứ Huế; Người em Vỹ Dạ; Tình yêu và huyền thoại; Xuân đã về; Biệt kinh kỳ; Giòng thời gian; Tình đời (Duyên kiếp cầm ca); v.v.


Thơ Cổ Phong Kim Bạch Kim:

Kiếp sau xin chớ làm người

Đập gương son mơ tìm bóng cũ
Đâu những ngày bé dại ngây thơ
Tháng năm chưa biết đời gian khổ
Thế gian trầm luân cảnh bây giờ

Dương thế bao người tình bạc
Dối gian lòng, miệng cười lơi
Kẻ bóc lột, kẻ gạt lường
Nhởn nhơ giàu sống trên đời

Ngàn bò, súc vật trong chuồng hẹp
Đi săn giết thú nhậu vui say
Tiết canh, miệng hôi tanh uống máu
Thê thảm tiếng rên, chó thịt cầy

Cá Ông con kinh hoàng oằn oại
Mã tấu rạch sâu mảnh thịt tươi
Máu đỏ thắm nhuộm loang biển rộng
Đoàn người săn hỉ hả mừng cười

Bao cảnh đó nhìn, tim lòng rỉ máu
Đời người sao địa ngục đảo trần gian
Kiếp sau thân ngắm gió lướt mây ngàn
Làm giòng suối khóc người vang tiếng nấc.

©

Bài thơ trên dựa vào một câu trong bài thơ của Nguyễn Công Trứ (1778-1858), một người có tài về quân sự, kinh tế, một vị quan Văn Võ Song Toàn, nhưng cuộc đời thăng trầm, có lần bị giáng phạt xuống chức liền ba bốn cấp. 1841 bị kết án "tiền giam hậu trảm" nhưng rồi lại được tha. 1843 bị cách chức cho làm lính thú. Năm 1847 ông xin nghỉ hưu.
Thật đáng tiếc cho người tài ba, nhưng lại sống dưới thời những ông vua hủ lậu (Thiệu Trị/Tự Đức), sống dưới một chế độ của những kẻ ngu si, không biết dụng người.
Chú thích: Cây Thông theo nho giáo ví người Quân Tử.

Cây Thông

Ngồi buồn mà trách ông xanh,
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Giữa trời, vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thời trèo với thông.

Nguyễn Công Trứ

Nghe thêm nhạc lời Việt

Đọc thêm thơ của Kim Bạch Kim
Mận với Đào
Chờ Nhau Bên Kia Cầu Ô Thước
Ngẫm Tình Đời
Trong Mắt Anh Tôi Thấy Địa Đàng
Chúc Tết Nhâm Thìn
Chúc Xuân 
 Năm Nhâm Thìn
Xuân Nhâm Thìn
Tuyết Đầu Xuân
Thu Trên Giàn Mướp Đắng 
Bông Hồng Không Gai 
Mưa Tím
Giấc Điệp và Năm Canh
One Way Ticket to the Galaxy
Hững Hờ Xuân
Cỏi Tương Tư
Hè Việt Nam
Dạo Chơi Ngắm Cảnh
Thung Lũng Tím
Trầm Tư Mặc Tưởng
Dòng Sông Đẹp với nhiều Giai Nhân
Tết Đến Xuân Tân Mẹo
Tưởng!
Xuân Canh Dần
Xuân Viễn Xứ
Sầu Đông
Nguyệt Đùa
Cảnh Đêm Thu
Chơi Cờ Uống Rượu
Tết Trung Thu
Âm Dương Cách Biệt
Đoạn Trường Tương Tư
Trăng Soi Phận Kiều
Trăng Dưới Nước
Vào Thu
Giọt Đắng Đêm Thu
Thiên Thu
Trọn Một Kiếp
Nguyệt Rụng Mưa Rơi
Giọt Đắng
Mưa Ngâu
Hè Cố Quốc
Tuyệt Bút
Bãi Trường Thập Nhị Liên Hoàn Khúc
Thiên Tình Sử
Kiếp Si Tình
Mối Tơ Lòng
Rượu và Tình
Ác Mộng
Mưa Trên Đảo Vắng
Dòng Thời Gian
Dạo Xuân
Tương Lai Vạn Ngày Sầu
Chán Đời
Cảnh Cố Hương
Gương Mờ Soi Bóng
Trăng Sáng Sương Rơi
Lệ Sương Thu
Đánh Đu
Bướm Vờn Hoa
Sắc Thắm Xuân Tươi
ĐƯA NÀNG TÌM ĐỘNG HOA VÀNG
Mộng Cảnh
Mê Linh Nữ Tướng
DẤU CHÂN TRÊN TUYẾT
Quỳnh Hoa
Chòm Sao Soi Bóng
Mừng Tết Kỹ Sửu
Mừng Năm Mới
Vương Phi Mộng
TIẾNG KHÓC GIỮA ĐỒI THÔNG
Chánh Tà Tri Kỷ
Đào Nguyên Lỗi Hẹn
Chữ Tòng!
Thiên Kiều Tướng Quân

Kim Bạch Kim 鉑 Thơ Đường Luật Chuyện ngắn sáng tác Chuyện vui Đố vui Phong Thủy Tin Tức

Danh Mục kimlong9999.blogspot.com

Lịch ngày Ta Phong Thủy 3 Toa Thuốc, Rượu Bổ Dương: Thốc Kê Hoàn, Thần Tiên Tửu, Thung dung Xà Sàng Tửu Trúng Số Độc Đắc Khui Luôn Jackpot Lời Than Theo Gió Nấu Ăn Kiều đoạn cuối Đố vui Video Hài Architecture Tình Sử Huyền Trân Chế Mân Tên Giang Hồ Tóm Tắt Nội Dung Một Số Phim Hay herald sun news Phim List Nhạc Việt newsweek Vị Trí Mụt Ruồi và Tướng Số Thơ Sưu Tầm Truyện Kiều đoạn đầu abc news daily mail news Tin Tức - Kiến Thức Đàn Ông Thua Chó Chuyện Vui Máy Mắt Đoán Điềm Chuyện Ngắn Kim Bạch Kim Đoạn Trường Tương Tư Anh Hùng Việt English Số Đề Korea Music Nguyễn An Kiến Trúc Sư Tài Ba Xây Tử Cấm Thành Trung Quốc Đọc và Suy Ngẫm cnn news Đồng tình luyến ái của các Hoàng đế trong lịch sử tàu Trăng thề vườn Thúy ** Phận Kiều ♥ Đường Luật Kim Bạch Kim ♥ Chung Một Mái Nhà Đoán Số Mệnh Pha Lê & Thủy Tinh Tiếng Việt Nam Bắc Con Gái Ba Miền Bắc Trung Nam Truyền Thuyết Quỳnh Hương Phụ Nữ Việt Nam Đáng Được Khâm Phục Những Món Ăn Kinh Khủng Nhứt Thế Giới Ý Nghĩa của Kim Bạch Kim - khác biệt giữa Vàng - Vàng Trắng - Bạch Kim Quang Trung Nguyễn Huệ Đại Phá Quân Thanh Cúm Heo Thuốc Ngừa và Thuốc Trị Vi Khuẩn H1N1 Tri Kỷ Chơi Cờ Uống Rượu Ý Nghĩa của Biểu tượng chính thức trang http://kimlong9999..blogspot.com Nguyệt Đùa Bạn Heo Vài Món Ăn Đặc Biệt Miền Nam - Trung - Bắc Việt Nam 21.12.2012 Ngày Tận Thế? Kim Cương & Hột Xoàn

Popular Posts

this is a Non-Profit non-commercial website Trang không vụ lợi không buôn bán Không Quảng Cáo